Quản lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội - Pdf 10

Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 21 chứng kiến sự tăng trưởng
ngoạn mục của ngành tài chính – ngân hàng, trong đó ấn tượng nhất là của
các ngân hàng thương mại. Số lượng và vốn của các ngân hàng thương mại
tăng rất nhanh, cùng với đó là sự đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội với xuất phát điểm là
NHTMCP nông thôn Nhơn Ái, với số vốn ban đầu chỉ là 400 triệu vào năm
1993, tuy nhiên chỉ sau 16 năm thành lập thì ngân hàng đã có số vốn điều lệ là
hơn 2000 tỷ đồng, tổng tài sản hơn 21.000 tỷ ( số liệu 30/09/2008).
Tuy nhiên, bất cứ sự tăng trưởng nào cũng đi kèm với các mặt trái của
nó. Cùng với tốc độ tăng trưởng của vốn điều lệ và đặc biệt là tổng dư nợ thì
tình trạng nợ xấu đã xuất hiện và thực sự đáng chú ý khi nền kinh tế đang lâm
vào hoàn cảnh khó khăn như hiện nay.
Khi khối lượng nợ xấu tăng đến một mức nhất định thì sẽ gây ảnh
hưởng xấu tới sự phát triển cũng như hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, vấn
đề quản lý nợ xấu được đặt ra ở hầu hết các NHTM. Tuy nhiên, không tồn tại
một mô hình hay một cách thức nào chung về quản lý nợ xấu cho mọi ngân
hàng thương mại. Tùy từng đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà họ đưa ra
cho mình cách thức quản lý nợ xấu tốt nhất.
Được nhà trường giới thiệu thực tập và ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà
Nội chấp nhận, ngày 7/01/2009 tôi bắt đầu kỳ thực tập của mình tại Phòng
Khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng. Cùng với sự quan tâm về vấn đề nợ
xấu và quá trình nghiên cứu, quan sát tại phòng KHDN tôi thấy vấn đề quản
lý nợ xấu tại phòng còn nhiều vấn đề như sự thiếu định hướng chung và thống
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
1
Chuyên đề thực tập
nhất trong chiến lược quản lý nợ xấu, thiếu cán bộ chuyên trách, công tác

có thế, tôi mới đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý nợ
xấu tại ngân hàng. Như vậy, đề tài của tôi sẽ tập trung làm rõ 3 vấn đề:
Thứ nhất: Làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận liên quan đến quản lý nợ xấu
Thứ hai: Phân tích tình hình quản lý nợ xấu tại SHB và chỉ ra các mặt đạt
được và chưa đạt được
Thứ 3: Dựa trên sự phân tích và cơ sở lý luận đã làm rõ để đưa ra các khuyến
nghị nhắm nâng cao khả năng quản lý nợ xấu của SHB trong thời điểm hiện
tại
1.4. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương và một phần kết luận chung. Cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Lý thuyết về quản lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng quản lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Chương 4: Một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng quản lý nợ xấu tại
ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Kết luận chung
1.5. Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài nghiên cứu
Đề tài của tôi vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Về mặt khoa học thì đề tài đã đưa ra được một hệ thống lý thuyết liên quan
đến quản lý nợ xấu ở các ngân hàng thương mại. Tất nhiên, hệ thống này
được tổng hợp là dựa trên quan điểm của cá nhân tôi.
Về mặt thực tiễn thì đề tài đã đưa ra được đánh giá của bản thân về thực trạng
của quản lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội; để từ đó có thể
đưa ra được các khuyến nghị của mình.
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
3
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XÁU CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Tổng quan về nợ xấu ở các Ngân hàng

định này, theo đề nghị của NHNN và các NHTM, Thủ tướng Chính phủ đã
cho phép đưa vào trong đề án xử lý nợ tồn đọng đối với một số khoản nợ chưa
quá hạn trước thời điểm 31/12/2000 nhưng NHTM có đủ căn cứ để xác định
khả năng khó thu hồi nợ.
Như vậy, khác với giai đoạn trước, các NHTM phân loại các khoản nợ
xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính
chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay
(có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm) và tình trạng pháp lý
khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt động) để phân loại thành
03 nhóm nợ tương ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác nhau, bao gồm:
- Nợ xấu tồn đọng có tài sản bảo đảm (nợ tồn đọng nhóm 1);
- Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng
thu hồi (nợ tồn đọng nhóm 2);
- Nợ xấu tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng con nợ đang còn tồn
tại, hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3).
*) Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (giai
đoạn hiện nay).
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống
đốc NHNN Việt Nam về việc ban hành “Quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của
tổ chức tín dụng”, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN
Việt Nam ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
5
Chuyên đề thực tập
về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, việc xác định, phân loại nợ xấu của
các TCTD đã bước đầu theo sát với thông lệ quốc tế (phân loại căn cứ vào
thực trạng khách hàng chứ không chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản

ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại
lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả
chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các
khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5.
* Phân loại nợ theo phương pháp định tính:
Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh
giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này
được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là
khả năng tổn thất cao.
Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm các khoản nợ được TCTD
đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Tóm lại, nợ xấu theo thông lệ quốc tế và theo chuẩn mực ở Việt Nam đều
có đặc điểm chung đó là các khoản nợ đã quá hạn trả nợ gốc/lãi trên 90 ngày
và/hoặc các khoản nợ mà TCTD có lý do chắc chắn để đánh giá là không có
khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
2.1.1.2. Qui định và thông lệ của thế giới
* ) Theo ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM gồm
- Những khoản nợ không thể thu hồi được :
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
7
Chuyên đề thực tập
+ Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để
đòi bồi thường từ nợ.
+ Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
+ Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ
hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
+ Những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý

thế giới.
Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc
tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời
và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005. Về
cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận
thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh
giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng
tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng). Hệ thống này được coi
là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại.
Ví dụ ở Nhật Bản, theo báo cáo của Ngân hàng Thanh toán quốc tế
(BIS) tại cùng thời điểm 2003 nếu áp dụng cách đánh giá nợ xấu theo định
nghĩa về “Khoản vay, tại Luật Tái cơ cấu tài chính” là 35,3 ngàn tỷ Yên,
nhưng theo định nghĩa “Đánh giá khoản vay” tương tự IAS 39 thì nợ xấu lên
tới 90,1 ngàn tỷ Yên.
*) Theo Basel II
Tháng 6 năm 2004, ủy ban Basel đã xây dựng Hiệp định mới về “Tiêu
chuẩn vốn quốc tế” - mà chúng ta vẫn gọi là Basel II, và được chỉnh sửa liên
tục trong các thời gian tiếp theo. Theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống
cơ sở dữ liệu của nội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ
số an toàn vốn tối thiểu.
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
9
Chuyên đề thực tập
Việc đưa Basel II vào phần lý thuyết chung về phân loại nợ xấu của tôi
bởi Basel II trình bày các nguyên tắc và công thức mang tính quốc tế liên
quan đến việc xếp hạng tín dụng nội bộ, ước lượng rủi ro của các khoản cho
vay, từ đó là cơ sở để phân loại nợ xấu một cách chính xác.
Cụ thể, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô
hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng.

tuyến tính, mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn
chuyên nghiệp.
2.1.2. Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu
2.1.2.1. Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ
xấu tại ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng.
- Do các cú sốc về kinh tế không thể lường trước
Mỗi nền kinh tế luôn có những đặc điểm riêng của mình và chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên ngoài như chính trị, xã hội và
các yếu tố nội tại. Khi các yếu tố này gặp các cú sốc bất lợi như thiên tai,
khủng hoảng chính trị hay sự sụp đổ của 1 vài yếu tố kinh tế thì nên kinh tế sẽ
bị tác động trực tiếp dẫn đến khủng hoàng. Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái,
mặc nhiên tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của các
hộ tiêu dùng cũng sẽ khủng hoảng. Vì vậy, khả năng hoàn trả các món nợ đã
vay ngân hàng cũng sẽ giảm sút; dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng
- Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật
Một sự thay đổi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tới hoạt động
của doanh nghiệp. Ví dụ như một sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm
cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự án. Bên cạnh
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
11
Chuyên đề thực tập
đó, phải kể đến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý. Sự chồng chéo
này không những gây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh
mà còn gây ra sự khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu.
- Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng
Với việc cung cấp các báo cáo tài chính và các văn bản pháp lý của doanh
nghiệp có sự sai khác so với thực tế, vì vậy làm cho các nhận định của cán bộ
tín dụng đối với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không
chính xác. Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn cho tới

Tuy nhiên, không phải tất cả các lỗi này đều xuất phát từ vấn đề đạo đức mà
có thể xuất phát từ vấn đề trình độ.
2.2. Lý thuyết về quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
2.2.1. Khái niệm quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Khái niệm này được tôi đưa ra trong quá trình nghiên cứu, có tham
khảo của một số luận văn tốt nghiệp các khóa trước. Theo tôi thì:
Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế nào khi đã có nợ xấu
phát sinh mà nó bao gồm quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các
mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các
biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý
các khoản Nợ xấu đã phát sinh nhằm phù hợp đối với mục tiêu trong từng giai
đoạn của mỗi ngân hàng.
2.2.2. Mục tiêu của quản lý nợ xấu
Mục tiêu của quản lý nợ xấu tại mỗi ngân hàng và các thời điểm khác
nhau là khác nhau. Tuy nhiên, theo một cách chung nhất thì mục tiêu của
quản lý nợ xấu trong bất kỳ hoàn cảnh nào và đối với bất kỳ ngân hàng nào
thì đó chính là việc phải xây dựng và thực thi được một qui chế, chính sách
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
13
Chuyên đề thực tập
sàng lọc khách hàng phù hợp với từng thời kỳ sao cho phải hạn chế đến mức
thấp nhất rủi ro không thể thu hồi được của các khoản cho vay mà không ảnh
hưởng tới mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng
2.2.3. Nội dung của quản lý nợ xấu
2.2.3.1. Xây dựng chiến lược và thực thi quản lý nợ xấu
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chiến lược quản lý nợ
xấu phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình trong từng thời kì, và phải
linh hoạt có thể điều chỉnh tuỳ theo diễn biến thị trường tín dụng. Chiến lược
quản lý nợ xấu cũng phải chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của ngân

giám sát tình hình sử dụng vốn vay sau giải ngân bằng cách kiểm tra hoạt
động sản xuất kinh doanh của khách hàng định kỳ. Đây là một yêu cầu bắt
buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NHTM nào.
Ngày nay, các ngân hàng có rất nhiều biện pháp khác nhau để kiểm tra
giám sát các khoản vay, một số các biện pháp cơ bản hầu hết các ngân hàng
đang sử dụng là:
+ Tất cả các loại hình tín dụng đều phải được tiến hành kiểm tra theo
định kì, ví dụ như kiểm tra theo chu kỳ 30,60 hay 90 ngày đối với những
khoản vay lớn, đồng thời cũng tiến hành kiểm tra bất thường đối với những
khoản cho vay có quy mô nhỏ.
+ Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra giám
sát một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng
nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra.
+ Kiểm soát và theo dõi thường xuyên các khoản cho vay lớn bởi vì
những khoản cho vay lớn này nếu xảy ra rủi ro sẽ gây ảnh hưởng nghêm
trọng đến tình hình kinh doanh của ngân hàng.
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
15
Chuyên đề thực tập
+ Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tíndụng có vấn đề, tăng
cường kiểm tra giám sát khi phát hiện ra những dấu hiệu không lành mạnh có
khả năng dẫn đến rủi ro liên quan đến khoản vay.
+ Trong trường hợp nền kinh tế có chiều hướng suy giảm hay các
ngành có tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của ngân hàng phải đối mặt
với những vấn đề khó khăn lớn thì ngân hàng phải tăng cường các biện pháp
kiểm soát tín dụng.
- Xây dựng và thực thi qui chế kiểm tra kiểm soát nội bộ
Một khía cạnh khác cũng rất quan trọng của hoạt động kiểm tra giám sát
hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Thông qua công tác
này có thể phát hiện ,ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình

động cần thiết để cải thiện tình hình của họ, và sửa chữa sai sót. Đặc biệt,
trong trường hợp không trả được nợ lần đầu, ngân hàng cần có hành động
cương quyết để thuyết phục khách hàng trong việc thực thi các biện pháp
cứng rắn để củng cố vị thế của khách hàng. Ngân hàng duy trì mối quan hệ
chặt chẽ với khách hàng để giám sát tiến trình xử lý nợ. Trên cơ sở đó, ngân
hàng có thể áp dụng các phương pháp:
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ:
Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường được thực hiện thông qua việc
hoãn hoặc/và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh toán của kỳ hạn trả nợ,
nhưng không được giảm tổng số nợ phải trả. Nếu được sử dụng một cách cẩn
thận, việc điều chỉnh kỳ hạn nợ là một hình thức được chấp nhận khi thực
hiện cơ cấu lại nợ.
- Gia hạn nợ
Đây là phương án tránh áp lực trả nợ của khách hàng để hỗ trợ khách hàng
tiếp tục kinh doanh. Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
17
Chuyên đề thực tập
khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản nợ
trước. Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao
- Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả:
Giải pháp này có thể được xem xét áp dụng tuỳ thuộc vào thiện chí trả
nợ vay của khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước
và của từng ngân hàng. Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy
sinh một phần doanh thu của ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn
đã cho vay.
2.2.3.2.2 Chứng khoán hoá các khoản nợ xấu
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đuợc áp dụng
rộng rãi trên thế giới là chứng khoán hoá các khoản nợ. Chứng khoán hoá là
chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của ngân hàng

yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Trường hợp
bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý
tài sản bảo lãnh tương tự như các tài sản thế chấp cầm cố của bên vay.
Thực hiện quyền truy đòi cho vay gián tiếp: nếu đến hạn mà người
thanh toán không thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng truy đòi người đi vay,
người bảo lãnh.
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại tài sản
bảo đảm hoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn
nhiều thời gian, khả năng thu hồi đầy đủ nợ thường không cao, song ngân
hàng vẫn buộc phải thực hiện để thu hồi vốn. Cho đến nay, đây là một trong
số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt các
khoản nợ do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
2.2.3.2.4. Bán các khoản nợ
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với các khoản nợ không có
tài sản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ. Ngân hàng sẽ chuyển
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
19
Chuyên đề thực tập
quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác có
chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình. Khi bán các khoản nợ
xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu
hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Để thực hiện
có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu
ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có
tính chuyên môn hoá cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Công
ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo.
2.2.3.2.5. Sử dụng biện pháp pháp lý để xử lý
Biện pháp kiện khách hàng ra toà để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn
khi các biện pháp trên không khả thi. Ngân hàng có thể nhờ toà án can thiệp
buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản đảm bảo tiền vay, phát mại tài

Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các ngân hàng
vận dụng tối đa nhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng. Thực chất của biện pháp này
là ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Việc sử dụng quá nhiều
giải pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn
không thu hồi được. Vì vậy, ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu
hồi nợ có tính triệt để hơn.
2.2.2.3.7. Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính
sách của Chính phủ, các ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ Ngân
sách Nhà nước. Thực chất các khoản vay theo chính sách có thể coi như
khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ. Do vậy, khi ngân hàng
không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ
phải đứng ra giải quyết cho ngân hàng. Chính phủ có thể sử dụng Ngân sách
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
21
Chuyên đề thực tập
mua toàn bộ số nợ xấu của NHTM để xử lý dần trong một số năm nhằm giải
thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng nợ xấu, giúp ngân
hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh. Biện pháp này có hạn chế là thủ
tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan chức
năng, không thể áp dụng thường xuyên vì vốn ngân sách có hạn, việc xử lý
một khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các
lĩnh vực khác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.
2..3. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về xử lý nợ xấu
2.3.1. Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Những năm gần đây, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước Trung Quốc
luôn cao hơn mức cho phép. Năm 1995, tỷ lệ nợ xấu là 21,4%, đến năm 2000
tỷ lệ này tăng lên 29%. Năm 2001, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhằm làm
giảm bớt tỷ lệ nợ xấu song vẫn là 25,4%- cao hơn nhiều so với mức cho phép

khoản nợ ngân hàng đã chuyển sang trả cổ tức cho cổ đông. Đây là giải pháp
nhằm giải quyết mối quan hệ giữa Ngân hàng và doanh nghiệp
2.3.2. Kinh nghiệm từ Thái Lan
Thập kỷ 80, 90 nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng, có hiệu quả và tương
ứng với diễn biến đó là nợ xấu (NPLs) ở khu vực ngân hàng là khá thấp.
Những biện pháp thường được các ngân hàng áp dụng là: gia hạn nợ, điều
chỉnh lãi suất vay, đảo nợ. Các biện pháp này đã có kết quả khi mới sảy ra nợ
xấu. Đó là việc làm trước tiên của ngân hàng.
Nhưng từ năm 1997, nhất là năm 1998, tác động mạnh của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ lên nền kinh tế, nhiều Công ty là khách hàng vay nợ
ngân hàng không còn khả năng thanh toán, nợ quá hạn tăng lên đột ngột thì
các giải pháp nói trên tỏ ra không có hiệu quả nữa. Do vậy, cần có các giải
pháp khác như tái cơ cấu doanh nghiệp, đấu thầu quản lý Công ty, tái cơ cấu
nợ ngân hàng..…qua đó tách ra khỏi doanh nghiệp các khoản nợ xấu tạo điều
kiện để họ cạnh tranh được trong thị trường đầy biến động. Bốn mô hình
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
23
Chuyên đề thực tập
(phương thức) đã được Thái Lan áp dụng là: cơ cấu kế hoạch hoá; chu trình
CDRAC; phương án không chính thức; phương án tái cơ cấu.
* Cơ cấu kế hoạch hoá (Planner Regime)
Theo mô hình này, doanh nghiệp con nợ phải đệ đơn, cơ quan quản lý
phải chỉ định đối tác, con nợ phải xuất trình kế hoạch trong thời hạn ấn định,
sự chấp nhận kế hoạch của con nợ, tổ chức gặp gỡ giữa các chủ nợ và người
tham gia kế hoạch. Toà án xem xét kế hoạch, chấp nhận hoặc không chấp
nhận để doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch đó trong thời hạn từ 5-7 năm.
Ngân hàng có quyền can thiệp vào một Công ty, trong trường hợp công ty
không hoàn trả vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên áp dụng mô hình này rất khó,
vì các công ty tìm mọi cách để ngân hàng không can thiệp vào. Họ tìm cách
“ru ngủ” ngân hàng, tạo ra bảng cân đối của Công ty và chứng tỏ là có lợi

phải chủ động đề ra các phương án hiệu quả, nhanh chóng khắc phục khó
khăn, mà không cần có sự can thiệp nào từ bên ngoài.
Tuy vậy có rất ít phương án không chính thức để đưa đến tái cơ cấu
thực sự. Hầu hết các khách hàng vay lớn tìm cách bảo vệ quyền lợi của mình
và không sẵn sàng thảo luận vay trên cơ sở thương mại. Hậu quả là, các ngân
hàng không đầu tư thêm vốn để hỗ trợ các Công ty.
Ngân hàng Trung ương Thái Lan cho biết, phương pháp này rất có hiệu
quả đối vớí những Công ty thiếu khả năng chi trả tạm thời, nhưng lãnh đạo
Công ty có khả năng và có trình độ quản lý kinh doanh. Trong trường hợp
này, nếu lãnh đạo Công ty có trình độ, có quyết tâm cao và có phương án cụ
thể để khắc phục, thì ngân hàng tiếp tục hỗ trợ để khắc phục sự mất cân đối
tạm thời để duy trì sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu lãnh đạo
Công ty yếu kém, thì phương thức này có nhược điểm là không đưa ra được
tư vấn cụ thể nào cho khách hàng và ngân hàng, nó cũng không giúp cho 2
bên một sáng kiến nào, không đưa ra một nguồn vốn nào cho chủ nợ và con
nợ.
* Các Công ty Quản lý tài sản – AMC
SV:Nguyễn Quang Linh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47A
25

Trích đoạn Tổng quan về ngân hàng SHB Cơ cấu bộ máy quản trị của ngân hàng Bộ máy điều hành của SHB Chức năng của các phòng nghiệp vụ hội sở: Sản phẩm dịch vụ của SHB
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status