tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư tại việt nam - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế,
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng trong
toàn bộ chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Trong những
năm vừa qua, FDI ngày càng được thừa nhận như là một giải pháp quan trọng
góp phần thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước.
Trong quá trình đó, pháp luật về FDI có vai trò hết sức quan trọng.
Pháp luật về FDI là công cụ quản lý hữu hiệu và khoa học của Nhà nước
nhằm định hướng cho các hoạt động đầu tư nước ngoài, là "vũ khí" cạnh tranh
sắc bén với các nước trong khu vực trong thu hút đầu tư; đồng thời là hàng
rào pháp lý để ngăn chặn các ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động này, giữ
ổn định và cân đối cho các hoạt động đầu tư trong xã hội. Hơn thế nữa, pháp
luật về FDI còn thúc đẩy sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật.
Trong khi ở nhiều nước trên thế giới chỉ tồn tại một khung pháp luật
về đầu tư áp dụng chung cho mọi đối tượng, thì ở Việt Nam, ngay từ khi văn
bản pháp luật đầu tiên về FDI ra đời cho đến nay, hệ thống các quy phạm
pháp luật về FDI vẫn đang tồn tại với tính chất là một khung pháp luật tương
đối độc lập bên cạnh khung pháp luật về đầu tư trong nước. Sự tồn tại của hai
khung pháp luật về đầu tư đã làm cho các chủ thể kinh doanh chưa được bình
đẳng thực sự về mặt kinh tế bởi các chính sánh và biện pháp khuyến khích,
bảo hộ đầu tư hay hạn chế đầu tư được áp dụng rất khác nhau đối với các chủ
thể đầu tư.
Hệ thống các văn bản pháp luật về FDI ở Việt Nam hiện nay có đến
hàng trăm văn bản quy định về nhiều vấn đề khác nhau và liên tục được sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện trong hơn 14 năm qua, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại
1
Việt Nam được Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 12 năm 1987. Tuy nhiên,
trước những yêu cầu mới của việc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay,
với tính chất là một bộ phận trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, pháp luật về
FDI cũng còn nhiều vấn đề bất cập, cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn

nước Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; các bài: Đầu tư
trong nước và đầu tư nước ngoài, của GS.TS Nguyễn Mại, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, số 6, 1993; Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam -
Quá khứ, hiện tại và tương lai của TS. Hoàng Phước Hiệp, Thông tin khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp, 1997; Khu vực thương mại và đầu tư tự do ASEAN của TS.
Vũ Đức Long, Tạp chí Luật học, số 4, 2002; Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện
khung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ
của Lê Mạnh Tuấn, 1996; Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ của Hoàng Phước Hiệp,
1996; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - sự ra đời, quá trình phát triển và
hoàn thiện, Luận án Tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng, 2002. Nhiều công trình nghiên
cứu khác cũng đề cập ở mức độ khác nhau những nội dung về pháp luật đầu
tư nói chung và pháp luật FDI nói riêng như các công trình nghiên cứu của
các tác giả: PGS.TS Nguyễn Bích Đạt, PGS.TS Lê Hồng Hạnh, TS. Nguyễn
Bá Diến, TS. Vũ Huy Hoàng, TS. Vũ Chí Lộc, TS. Võ Đại Lược Một số dự
án hợp tác quốc tế có nội dung liên quan như: Dự án VIE/94/003 "Tăng
cường quản lý nhà nước bằng pháp luật tại Việt Nam" do Chương trình Phát
triển của Liên hợp quốc (UNDP) và Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ; Dự án
VIE/95/015 "Tăng cường sự hội nhập của Việt Nam với ASEAN" do UNDP
tài trợ, với chuyên đề "Môi trường đầu tư nước ngoài ở Việt Nam - con
đường đi tới khu đầu tư ASEAN (AIA)" do nhóm nghiên cứu của Viện Chiến
lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện. Tác giả luận án có một số
3
bài viết được công bố và đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ Luật học có
nội dung liên quan đến pháp luật về FDI.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập trực tiếp
hoặc gián tiếp đến nhiều nội dung về hoàn thiện pháp luật về FDI ở những
mức độ và phạm vi khác nhau, tương ứng với những khoảng thời gian nhất
định, giải quyết nhiều vấn đề bức xúc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu có hệ
thống và tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề hoàn thiện

pháp luật thực định về đầu tư trong nước và các điều kiện về chính trị, kinh tế
xã hội của đất nước và thực tiễn quốc tế; 2) Thực tiễn công tác thi hành pháp
luật đầu tư nước ngoài và tình hình hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam; 3) Pháp luật thực định về đầu tư nước ngoài của một số nước và những
điều ước quốc tế có liên quan.
Nội dung nghiên cứu mà luận án đề cập là rất rộng và phức tạp, liên
quan đến nhiều chuyên ngành như Lý luận Nhà nước và pháp luật, Luật Kinh
tế, Luật Hành chính, Tư pháp quốc tế, Kinh tế học Phạm vi nghiên cứu của
luận án này chỉ tập trung sâu vào một nội dung thuộc chuyên ngành Luật Kinh
tế, đó là vấn đề hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài theo xu hướng
nhất thể hoá pháp luật về đầu tư ở Việt Nam trong mối quan hệ giữa Nhà nước
với các chủ thể đầu tư để xác lập và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của
họ. Đối với một số nội dung cụ thể có liên quan đến các chuyên ngành khác,
luận án chỉ đề cập ở một mức độ nhất định, trong mối quan hệ cần thiết nhằm tạo
lập cơ sở lý luận có tính hệ thống cho việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.
5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là: 1) Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
nhà nước pháp luật; 2) Hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước ta trong sự nghiệp đổi mới. Đó là các quan điểm, chủ trương trong lĩnh
vực xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là các quan điểm "mở cửa" và
"kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" trong hợp tác đầu tư với
nước ngoài, cũng như các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với thực
tiễn. Luận án cũng sử dụng phương pháp luật học so sánh để phân tích và so
sánh tổng hợp một một số khía cạnh trong pháp luật về FDI của Việt Nam với
một số quy định cùng loại trong pháp luật của một số nước khu vực để từ đó

của pháp luật về FDI; làm rõ cơ sở lý luận và chứng minh xu hướng nhất thể
pháp luật về đầu tư, đồng thời xác định những nguyên tắc và giải pháp mang
tính chất định hướng cho việc tiếp tục thực hiện quá trình nhất thể hóa này.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu hệ thống
pháp luật thực định về đầu tư nước ngoài, trong công tác xây dựng pháp luật,
trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài hay trong công tác giảng dạy các
môn khoa học pháp lý như Luật kinh tế, Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật
so sánh
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương, 10 mục.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cùng với việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ hợp tác kinh tế
quốc tế, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước ta. Trong những
năm vừa qua, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ra đời và thực hiện, đầu
tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được thừa nhận như là một giải pháp quan
trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước.
Về mặt kinh tế, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế được đặc trưng
bởi quá trình di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác. Mặc dù còn nhiều
khác biệt về quan niệm nhưng nhìn chung ở các nước thì FDI được hiểu như
là một hoạt động kinh doanh mà ở đó có sự tách biệt ở tầm vĩ mô về mặt chủ
thể nhưng lại có sự kết hợp ở tầm vi mô trong việc sử dụng vốn và quản lý đối
tượng đầu tư. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài
được định nghĩa là: "Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó,

chức, người nước ngoài được sử dụng vào doanh nghiệp ở Indonesia, và lợi
nhuận lẽ ra được chuyển ra nước ngoài nhưng lại được sử dụng ở Indonesia
[100].
Trong quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, đối với nước xuất khẩu tư
bản, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như việc di chuyển tư bản ra nước
ngoài nhằm thiết lập ở đó những hoạt động kinh doanh nhất định để thu lợi
9
nhuận; còn đối với nước tiếp nhận đầu tư nó lại là việc tiếp nhận vốn của
người nước ngoài để cho phép chủ đầu tư nước ngoài tổ chức các hoạt động
kinh doanh theo những hình thức mà pháp luật quy định. Điều đó cho thấy,
dù nhìn nhận dưới góc độ nào FDI cũng đều là hoạt động kinh doanh quốc tế
dựa trên cơ sở của quá trình di chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do
các pháp nhân và thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định mà qua
đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình đầu tư.
Ở Việt Nam, văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài
là Điều lệ về đầu tư của nước ngoài tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều lệ này
không nêu định nghĩa cụ thể FDI nhưng trong tư tưởng của các quy phạm thì
khái niệm FDI cũng cơ bản giống như khái niệm được ghi nhận sau này trong
các Luật Đầu tư như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được
Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc
thành lập doanh nghiệp liên doanh, hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
(khoản 3, Điều 2, Luật Đầu tư 1987; khoản 1, Điều 2, Luật Đầu tư 1996).
Như vậy, về mặt pháp lý, khái niệm FDI được đề cập trong luật của
các quốc gia chỉ giới hạn phạm vi nhìn nhận về FDI dưới con mắt của nước
tiếp nhận đầu tư. Khái niệm này không bao gồm hoạt động đầu tư gián tiếp
nước ngoài, cũng không bao gồm các quan hệ thương mại thông thường.
Tuy nhiên, một điều cần chú ý khi nghiên cứu là, khái niệm đầu tư
trực tiếp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với giới hạn như trên khác

thức chủ yếu của kênh tư nhân là đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Foreign
Direct Investment - FDI) và đầu tư gián tiếp bằng đóng góp vốn cổ phần (đầu
tư chứng khoán lãi không cố định - Porfolio Equity Flows) cùng các nguồn
vay tư nhân. Các nguồn vay tư nhân gồm vay ngân hàng thương mại
11
(Commercial Bank) với lãi suất trên thị trường, vay dưới hình thức phát hành
trái phiếu (Bond Debt Flows) và các nguồn tư nhân khác. Hình thức đầu tư
chứng khoán lãi không cố định (Porfolio Equity Flows) và vay dưới hình thức
trái phiếu (Bond Debt Flows) hợp thành hình thức đầu tư chứng khoán nói
chung (Porfolio Investment).
(1)- Phân biệt Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và Hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA): Sự khác biệt về chủ thể đầu tư được thể hiện ở chỗ, trong
đầu tư gián tiếp (dưới hình thức ODA), chủ thể chủ yếu là các quốc gia và các
tổ chức tài chính quốc tế. Trong khi đó, chủ thể chủ yếu thực hiện các hoạt
động đầu tư trực tiếp là thể nhân và các pháp nhân.
Về nguồn vốn, trong FDI, vốn đầu tư bao gồm tiền mặt, sở hữu công
nghiệp và các tài sản khác được nước nhận đầu tư chấp nhận. Khác với nguồn
FDI, các loại nguồn ODA bao gồm: a) hỗ trợ tài chính: Cung cấp tiền ở dạng
cho không hay cho vay lãi suất thấp. Khi hỗ trợ tài chính ở dạng song phương
thì nó có thể bị ràng buộc với việc phải mua hàng ở nước tài trợ; b) Hỗ trợ kỹ
thuật: Cung cấp cố vấn và những chuyên gia kỹ thuật mà nước tiếp nhận đang
thiếu (nhưng cũng quy ra tiền thông qua lương và các khoản thù lao trả cho
các cố vấn, chuyên gia đó); hỗ trợ bằng hiện vật dưới dạng hàng hóa như tư
liệu sản xuất, lương thực, thực phẩm v.v
Về mục đích, quan hệ FDI là quan hệ kinh doanh theo cơ chế thị
trường, có mục đích kinh doanh. Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu cao nhất và
cuối cùng của các chủ đầu tư. Còn trong đầu tư gián tiếp dưới hình thức
ODA, kinh doanh và lợi nhuận không phải là mục tiêu trực tiếp của chủ đầu
tư bởi quan hệ này không phải là quan hệ kinh doanh một cách thuần túy.
Mục đích ODA có thể là: a) Tính đoàn kết quốc tế như quyết định của Liên

gián tiếp không chỉ bị biến thành con nợ mà còn phải bảo đảm một số điều
kiện khác mang tính chính trị như phải bảo đảm tốc độ tăng trưởng, ổn định tỷ
lệ lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán, phải giảm chi thường xuyên từ ngân
13
sách Nhà nước, phải có dự án đầu tư cụ thể thì mới được tiếp nhận vốn đầu
tư với hình thức chủ yếu là vay vốn tín dụng ưu đãi. Về vấn đề này, Báo cáo
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng 3/1996 đã đề cập:
Bên cạnh những thuận lợi to lớn ở trong nước và quốc tế đối
với việc thu hút và sử dụng ODA, chúng ta còn nhiều khó khăn và
thách thức. ODA trên thế giới là nguồn vốn có hạn, lại có sự cạnh
tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển. ODA và chính trị đi
liền với nhau, các nước cung cấp ODA thường hay gắn các điều
kiện để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chính trị. Phần lớn ODA là vốn
vay, tuy có phần ưu đãi song phải trả nợ, nếu không tính toán đúng
đắn sẽ có nguy cơ mắc phải nợ nần [3].
Báo Asahi Shibun, ngày 13/6/1996 của Nhật Bản cũng đã coi "ODA
là vũ khí ngoại giao quan trọng nhất của Nhật Bản" [76].
(2)- Phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp nước ngoài của pháp nhân,
thể nhân: Pháp nhân, thể nhân khi tiến hành đầu tư với mục đích tìm kiếm lợi
nhuận tại một quốc gia khác, họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài. Hình thức
đầu tư mà họ có thể lựa chọn là đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
Các hình thức đầu tư này, tuy có điểm giống nhau về chủ thể đầu tư và
mục đích kinh doanh nhưng khác nhau về bản chất và nội dung quản lý vốn, đối
tượng đầu tư, thủ tục tiến hành và nguồn luật điều chỉnh.
Về bản chất, trong đầu tư trực tiếp, chủ thể đầu tư và vốn đầu tư luôn
gắn bó chặt chẽ với nhau. Các nhà đầu tư trực tiếp quản lý vốn đầu tư của
mình, trực tiếp điều hành hoặc tham gia điều hành dự án đầu tư, thu lợi nhuận
và trực tiếp gánh chịu rủi ro từ hoạt động đầu tư. Trong đầu tư gián tiếp, các
nhà đầu tư thực hiện đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của các
doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư hoặc cho các doanh nghiệp ở nước nhận

cáo về "Triển vọng phát triển châu Á" (ADO) của Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB), tháng 4 năm 2001 đã phân tích lý do của dòng vốn đầu tư gián tiếp
trên thế giới gồm cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư khác (gồm cả vay tín
dụng ngân hàng) đã: "tăng lên khi các thị trường được nới lỏng kiểm soát và
các nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội tìm kiếm nhiều lợi nhuận". Cùng với sự rút
vốn ồ ạt ra khỏi các thị trường kém hấp dẫn, các hoạt động đầu tư gián tiếp
này "suy yếu dần sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mê-hi-cô năm 1995" và
"sụp đổ hoàn toàn sau cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á vào năm 1997-
1998". Vào thời điểm này, nguồn vốn đầu tư gián tiếp đã giảm đến 87% so với
đỉnh cao năm 1996, làm cho nền tài chính của nhiều nước càng nhấn sâu vào
khủng hoảng. Trong khi đó "đầu tư trực tiếp nước ngoài tỏ ra ổn định hơn nhiều
so với dòng vốn đầu tư gián tiếp trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính ở châu
Á. Hơn nữa có một nhận thức rõ ràng rằng nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
không thể dễ dàng tháo gỡ máy móc ra khỏi nhà máy khi họ mất niềm tin và
muốn rút lui" [66, tr. 2; 33].
1.1.2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước
Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, dù xét dưới giác độ đều là
đầu tư trực tiếp, không có sự tách rời quyền quản lý của chủ đầu tư và vốn
đầu tư nhưng cũng có nhiều sự khác nhau do bản chất về vốn và tính chất của
chủ đầu tư quy định.
Về hình thức biểu hiện, sự khác biệt chủ yếu thể hiện qua chủ thể đầu
tư, nguồn gốc vốn đầu tư và hình thức đầu tư. Trong FDI, bắt buộc phải có sự
hiện diện của các nhân tố nước ngoài, đó là vốn đầu tư và quốc tịch của chủ
thể đầu tư. Ngược lại, đối với đầu tư trong nước, pháp luật không có đòi hỏi
mang tính bắt buộc này.
Về các hình thức đầu tư theo các quy định của pháp luật Việt Nam,
đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới các hình thức: doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh;
16
còn đầu tư trong nước được thực hiện theo các hình thức: doanh nghiệp nhà

1.1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tiễn thế giới cũng như ở Việt Nam đã phản ánh rằng FDI có vai
trò hết sức to lớn đối với nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt những nước đang
phát triển. Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và thông thường, nó
luôn được đề cập trong các công trình nghiên cứu về FDI. Vốn, công nghệ và
kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác tài nguyên, hợp lý hóa cơ cấu kinh tế
để phát triển đất nước, tạo công ăn việc làm là nhu cầu và nguyện vọng của
bất cứ quốc gia nào. Đối với những nước nghèo, chậm phát triển nó lại càng
là mơ ước mà khó có thể tự mình thực hiện. Trong thực tế nhiều năm qua, FDI
đã giúp cho các nước nghèo thực hiện dần những nguyện vọng đó của mình. Vì
vai trò quan trọng của FDI nên ngày nay kể cả các nước phát triển và đang phát
triển đều đang ra sức cạnh tranh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại cho nước chủ nhà nhiều mối lợi.
Thể hiện rõ ràng nhất là việc chuyển giao vốn, công nghệ hiện đại và kỹ năng
quản lý nếu không có FDI sẽ không có được hoặc có với giá rất đắt Đầu tư
trực tiếp nước ngoài của các công ty đa quốc gia sản xuất để xuất khẩu giúp
nước chủ nhà có thể tiếp cận được với thị trường nước ngoài [46, tr. 32].
Có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài đề cập
đến vai trò của FDI với mức độ khác nhau. Theo chúng tôi, các vai trò sau
đây của FDI là đặc biệt đáng ghi nhận.
1.1.3.1. Bổ sung vốn cho nền kinh tế
Trước hết, FDI đóng vai trò là một nguồn cung cấp vốn lớn, góp phần
giải quyết tình trạng thiếu vốn đầu tư - một căn bệnh kinh niên và phổ biến
của bất kỳ quốc gia chậm phát triển nào. Ở Indonesia, sau khi ban hành Luật
Đầu tư nước ngoài năm 1967, FDI đã cung cấp một lượng vốn bình quân
18
trong 27 năm (1967 - 1994) là 1,15 tỷ USD. Ở Philippines, FDI đã cung cấp
170 triệu USD năm 1987 và tăng gấp 16 lần vào năm 1994 (2,66 tỷ USD).
Trong những năm Philippines đang trên đà tăng trưởng kinh tế ở mức cao họ
vẫn cho rằng nếu sử dụng vốn nước ngoài hợp lý thì có thể khuyến khích

Theo đánh giá của Vụ Quản lý dự án thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
"tỷ trọng nguồn vốn FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 25,75%
thời kỳ 1991-1995 lên khoảng 30% trong những năm 1996-2000" [32]. Năm
2001, vốn thực hiện đạt 2,2 tỷ USD, vốn đăng ký mới và bổ sung thêm đạt
2,8 tỷ USD [17, tr. 7]. Dự kiến vốn FDI được thực hiện trong kế hoạch 5 năm
2000-2005 khoảng 9 - 10 tỷ USD, bao gồm vốn các dự án đã được cấp phép
chưa được thực hiện của các năm trước; vốn thực hiện các dự án cấp phép
mới và vốn bổ sung các dự án đã thực hiện [26, tr. 269].
Những con số nêu trên cho thấy FDI có vai trò rất quan trọng trong
việc trực tiếp bổ sung vốn, đồng thời kích thích việc tăng đầu tư nội địa cho
sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi nước.
1.1.3.2. Cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển
Bên cạnh vai trò cung cấp vốn, FDI mang lại cho nước tiếp nhận đầu
tư những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, góp phần phát triển lực lượng sản xuất,
cơ cấu lại nền kinh tế Thực tế cho thấy rằng, kỹ thuật và công nghệ nước
ngoài đã giúp cho Malaysia thực hiện thành công chiến lược "công nghiệp
hóa thay thế hàng nhập khẩu" và chiến lược "hướng về xuất khẩu". Từ chỗ cơ
cấu kinh tế lạc hậu, kỹ thuật thủ công, phân tán, lực lượng sản xuất kém phát
triển, đến giữa những năm 1980, Malayxia đã là nước xuất khẩu lớn nhất thế
giới về găng tay cao su, thứ hai thế giới về chất bán dẫn và tinh thể sơ đồ tích
phân và thứ ba thế giới về máy điều hòa nhiệt độ [29, tr. 20]. Rõ ràng là, chỉ
20
có đầu tư nước ngoài với trình độ kỹ thuật cao phương pháp sản xuất tiên tiến
và khả năng thâm nhập thị trường thế giới của các công ty xuyên quốc gia
mới tạo được thành công nói trên.
Cũng phải kể đến một xu hướng nữa trong FDI là trong nhiều trường
hợp, các nước phát triển còn mang vào các nước chậm phát triển những công
nghệ tiến tiến hơn ngay cả so với nước mình. Ví dụ ở Nhật Bản, do đồng Yên
tăng giá nên ngày càng nhiều các công ty của Nhật Bản mang những công
nghệ tiến tiến nhất ra nước ngoài để sản xuất hàng hóa rồi nhập khẩu trở lại

chính sách khuyến khích các dự án đầu tư nước ngoài có sử dụng nhiều lao
động. Ở Việt Nam, trong giai đoạn 1996 - 2000 "Khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài đã thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp" [17, tr. 239]. Ngoài
ra, FDI còn gián tiếp tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục vạn lao động
làm việc trong các ngành xây dựng, thương mại và dịch vụ liên quan [6]. Một
kết quả nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế đã chỉ ra rằng, cứ mỗi việc làm
do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra thì ít nhất có 1,6 việc
làm được tạo ra trong các khu vực khác nhau của nền kinh tế [99].
Tiền lương của người lao động, về cơ bản được giải quyết phù hợp với
quy định, cao hơn mức lương của người lao động cùng loại trong nhiều doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Thu nhập bình quân một lao động
của năm 1996 là 136 USD/tháng, trong đó thu nhập của người Việt Nam là
94 USD/ tháng (riêng ngành dầu khí 692 USD/tháng, các ngành khác phổ
biến trong khoảng 55 đến 80 USD/tháng, thấp nhất dưới 35 USD/tháng). Thu
nhập của lao động người Việt Nam tăng bình quân 5,8%/năm,
1.1.3.4. Góp phần mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu
22
Trong thời đại ngày nay, nước ta cũng như các nước trên thế giới đều
có nhu cầu mở rộng thị trường cả trong nước và nước ngoài. Thị trường nội
địa của nước ta tuy không lớn nhưng phần lớn số hàng nhập khẩu là hàng
trong nước chưa sản xuất được. Đó là cơ sở chủ yếu thúc đẩy các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Như vậy, thị phần họ nhằm là thị
phần hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu của Việt Nam, trước hết là những mặt
hàng nhập khẩu mà Việt Nam chưa thể sản xuất được.
Việc mở rộng thị phần của Việt Nam ở nước ngoài còn có ý nghĩa
quan trọng hơn nhiều nhưng năng lực tiếp thị ngoài nước, trình độ công nghệ
và quản lý của nhiều doanh nghiệp đầu tư trong nước rất hạn chế. Trong vấn
đề này, các công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam sẽ có ưu thế
hơn bởi họ am hiểu thị trường thế giới, có các cơ sở tiếp thị ở các thị trường
quan trọng. Với sức mạnh về công nghệ và vốn, cùng với việc sử dụng lợi thế

ngoài đã vượt cả khu vực ngoài quốc doanh về giá trị sản xuất như sản xuất
radio, ti vi, thiết bị truyền thông, sản xuất sửa chữa xe có động cơ, sản xuất
sửa chữa vận tải thủy
Sơ bộ tính toán kết quả sản xuất của khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài chiếm khoảng 6,58% GDP của năm 1995, 7,27% GDP của năm 1996,
7,48% GDP của năm 1997 [30], 11,75% của năm 1999 [32] và 13,3% của
năm 2000 [15, tr. 16]. Những ngành kinh tế có tỷ trọng đầu tư trực tiếp của
nước ngoài cao như: Công nghiệp, vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn nhà
hàng, kinh doanh bất động sản và hoạt động tư vấn, là những ngành có tốc độ
phát triển cao nhất và vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng quyết định.
Một công trình nghiên cứu của Công ty tư vấn đầu tư nước ngoài
(FIAS) đã đưa ra nhận xét:
24
Trong thời gian 4 năm 1994-1997, dòng vốn FDI vào Việt
Nam trung bình hơn 2,2 tỷ USD một năm thực sự là nhiều và là một
con số lớn so với quy mô của nền kinh tế Việt Nam. Tại năm đỉnh
điểm thu hút FDI, dòng vốn này chiếm tới hơn 11 % GDP, còn tỷ lệ
trung bình trong giai đoạn 1994-1997 là 9 % GDP. Con số này
không chỉ cao hơn các nước láng giềng nổi tiếng về thu hút vốn đầu
tư nước ngoài như Trung Quốc, Indonesia, Malayxia, Philippine,
Thái Lan mà Việt Nam còn đứng thứ nhất trong số các nước đang
phát triển và các nước đang trong giai đoạn chuyển tiếp, nếu không
tính đến các nước có dân số nhỏ hơn một triệu người [28, tr. 11].
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại những tác động tích cực
và lâu dài cho nền kinh tế. Xuất phát từ việc FDI có vai trò quan trọng và có
ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước mà người Malaixia
đã nhận xét rằng: trong một chừng mực nhất định FDI từ chỗ là "nhân tố
bên ngoài" chuyển thành "nhân tố bên trong" quyết định phần lớn tốc độ
tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu, tốc độ và phương
hướng phát triển của ngành công nghiệp Malaysia. Còn theo Tạp chí Kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status