1 CẢNH QUAN ĐÔ THỊ
Định nghĩa được khái niệm về cảnh quan đô thị.
Phân tích và đánh giá được vai trò và yêu cầu phát triển hệ thống mảng xanh
cho một khu vực cụ thể trong đô thị.
Có khả năng quy hoạch được một loại hình cây xanh trong đô thị.
Tài liệu này được sử dụng cho sinh viên ngành thiết kế cảnh quan đô thị và các
ngành học liên quan tới vấn đề quản lý môi trường, sinh thái trong đô thị. 3
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẢNH QUAN ĐÔ
THỊ
1.1. Khái niện cảnh quan đơ thị trên quan điểm sinh thái học
1.1.1. Khái niệm cảnh quan
Trên quan điểm sinh thái học, cảnh quan là một khu vực khơng đồng nhất được
cấu thành bởi một cụm của các hệ sinh thái tương tác với nhau, được lặp lại trong
khơng gian, với các kích thước, hình dáng, và quan hệ khơng gian khác nhau trong
khắp cảnh quan. Mỗi cảnh quan có các kiểu địa hình, kiểu thảm thực vật, và kiểu kiến
trúc khác nhau. Một cách thức khác về mặt sinh thái đcó thể xem xét một cảnh
quan là xem nó như một thể khảm của các đám sinh cảnh mà qua đó sinh vật di chuyển,
cư trú, sinh sản, và cuối cùng chết và trở về với đất.
Phương pháp tốt nhất để xem xét một cảnh quan là quan sát trên thực địa từ một
cách nhìn theo khơng gian hay khảo sát các khơng ảnh hay ảnh vệ tinh để đặt một mảnh
đất cụ thể trong một hình ảnh rộng hơn của bối cảnh chung quanh nó và xác định các
mối quan hệ khơng gian của nó.
1.1.2. Phân loại cảnh quan
Hình 1.2. Đền Taj Mahal tại Agra là địa điểm du lịch nổi tiếng nhất Ấn Độ, 1trong 7 kỳ
quan thế giới được tạo dựng bởi con người. (Ảnh: www.vietnamonline.com)
5
1.1.3. Cảnh quan đô thị
Cảnh quan đô thị là khung cảnh bao gồm các thành phần của một hệ sinh thái
cùng tồn tại liên kết, xắp xếp và tương tác với nhau trong một không gian nhất định của
một độ thị và khung cảnh đó cũng được xem xét với quang cảnh chung quanh rộng lớn
hơn. Hệ sinh thái ở đây là hệ sinh thái nhân tạo, do con người tác động vào, cải tạo hoặc
hoàn toàn tạo dựng nhằm đáp ứng những nhu cầu cuộc sống của con người.
Đô thị cổ xưa nhất được ghi nhận là Jericho được hình thành khoảng 6000 năm
TCN ở vùng Trung đông. Các ngôi nhà có dạng vòm và có các bức tường bằng đất bùn
hay gạch, đôi khi các bức tường được sơn qu ét. Thành phố được bao bọc bởi các bức
tường đá và các tháp.
Cùng sự phát triển trí thức nhân loại, sự biến đổi của cảnh quan đô thị cũng diễn
ra rất mạnh mẽ. Thành phố đầu tiên của người Sumarian cũng là một vi du điển hình
của một đô thị cổ.
Thành phố cổ Mesopotamia (Iraq cổ) nổi tiếng bởi các kim tự tháp hình tròn. Đó
là các kim tự tháp 4 cạnh của cư dân Sumarian với cấu trúc bậc thang có 5 mức. Người
ta đã tạo lập hệ thống cây bụi, cây gỗ lớn để che bóng cho các kim tự tháp tới cả bậc
cao nhất của kim tự tháp (khoảng 3 triệu năm TCN). Tới khoảng thế kỷ thứ 8 TCN,
Sennacherib- người được coi như là một nhà kiến trúc cảnh quan, một nhà thực vật sớm
nhất - đã tạo lập một công viên rộng lớn. Ông cũng đã sưu tập nhiều loài cây ở địa
phương này đem tới phía bắc, tây và Bờ Địa trung hải nhằm tạo lập một vườn sưu tập
thực vật.
tương đối, cùng sống trong một số điều kiện ngọai cảnh nhất định. Mà điều kiện ngoại
cảnh đó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tồn tại, phát triển của quần xã sinh sống.
Một hệ sinh thái môi trường bao gồm
- Các tập đoàn quần xã sinh vật "sinh vật sản xuất", "sinh vật tiêu thụ", và "sinh
vật phân hủy".
- Các chất vô cơ (CO
2
, O
2
, H
2
O, CaCO
3
…),
- Các chất hữu cơ (protein, lipit, gluxit…),
- Các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa…)
Các tập đoàn hay quần xã sinh vật liên hệ chặt chẽ với nhau theo hệ thống cung
cấp và tiêu thụ thực phẩm và năng lượng. Ba yếu tố sau là môi trường vật l ý mà quần
xã tồn tại.
Hệ sinh thái môi trường có thể trải qua sự chọn lọc tự nhiên mà sinh ra: hệ sinh
thái biển, hồ, sông ngòi, rừng, đồng cỏ, sa mạc. hệ sinh thái nhân tạo được con người
tạo ra như hệ sinh thái đô thị, hệ sinh thái môi trường nông thôn, hệ sinh thái nông
nghiệ, hệ sinh thái ven biển…
7
Thông thường hệ sinh thái môi trường tự nhiên thì bền vững hơn vì nó tuân theo
quy luật chọn lọc tự nhiên, hợp với tự nhiên. Hệ sinh thái này chỉ bị phá hủy khi điều
kiện tự nhiên biến đổi khắc nghiệt. Còn hệ sinh thái nhân tạo, thường là hệ sinh thái
lớn nhất thế giới) trên diện tích 2.080 km
2
Tp có khoảng 700 nhà máy xí nghiệp công
nghiệp, gần 30000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Phân bố xen kẽ trong khu dân cư. Mặt
khác nhiều xí nghiệp có cơ sở thiết bị máy móc cũ kĩ, lạc hậu. Kết quả các hoạt động
của con người đã gây ra những tác động sâu sắc, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi
trường đô thị như gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, không khí…
Trong Tp HCM nồng độ bụi trung bình: Mùa khô 4,5 mg/m
3
Mùa mưa 2,1 mg/m
3
Vượt 4-9 lần TC vệ sinh cho phép tcvs = 0, 5 mg/m
3
Nồng độ các khí SOx, CO, CO
2
… đều cao hơn mức cho phép nhiều.
8
Về ô nhiễm nước thuộc loại 6 tức là loại nặng nhất (1989). Tiếng ồn trung bình
77-80 dBA (đề xi ben) vượt TC cho phép 5- 20 dBA.
Năm 2005 dân số TP.HCM là 6.117.251 người (cư dân có đang ký nhân khẩu
chính thức), ngoài ra còn nhiều người cư trú, người lao động từ các nơi khác tới không
có hộ khẩu tại TP. Từ năm 1997 – 2004, tổng diện tích xây dựng tăng 11.227 ha. Tổng
dự án được giao và cho thuê để xây dựng, kinh doanh, sản xuất công nghiệp, hạ tầng kỹ
thuật… là 3.551 dự án (thông tin của Viện quy hoạch xây dựng TP HCM, 2005)
nặng nề do tiếng ồn, khí thải, khói, bụi, hóa chất… từ các khu công nghiệp, phương tiện
giao thông. Do đó nhiều nhà chuyên môn đang quan tâm tới vấn đề môi trường ở đô thị
và xây dựng các đô thị xanh và đô thị sinh thái.
Đô thị xanh là vùng đô thị được thiết kế theo quan điểm sinh thái với cảnh quan
thiên nhiên xinh đẹp và một bầu không khí luôn trong sạch.
9
Đô thị xanh là một tổ hợp phát triển được xây dựng để nâng cao môi trường
sống của con người trong một cộng đồng (Trung tâm Môi trường California - Mỹ) (dẫn
theo Thái Vũ Bình, 2006)
Một đô thị xanh có những tiêu chí đánh giá
• Đảm bảo không gian xanh đô thị: Bao gồm hệ thống các mảng xanh đô thị, vành
đai xanh đô thị và mặt nước xanh.
• Không ô nhiễm: Đảm bảo các chất thải trong mọi hoạt động tại đô thị được tái
sử dụng, quản lý, xử lý thích hợp đảm bảo tiêu chuẩn môi trường cho phép.
• Cảnh quan đô thị xanh, sạch, đẹp.
• Giao thông thông suốt, không tắc nghẽn
• Có hệ thống thông tin môi trường cung cấp kịp thời cho người dân đô thị và định
kỳ tiến hành kiểm toán môi trường đô thị.
• Đô thị sinh thái là đô thị có chất lượng môi trường sống cao, có quan hệ hài hòa
với thiên nhiên, có mật độ xây dựng hợp lyù, có công trình và kỹ thuật đảm bảo yêu cầu
sinh thái, có cảnh quan kiến trúc đẹp đẽ, có nền công nghiệp họat động hiệu quả về mặt
sinh thái, có áp dụng thành công các giải pháp về năng lượng và giao thông (Nguyễn
Huy Côn, 2007). Nghĩa là đô thị là một hệ sinh thái với đầy đủ các đặc tính, cấu trúc và
chức năng sinh thái của nó
Một số đô thị đã có các mô hình tiếp cận đô thị sinh thái như tiểu khu sinh thái
Herlen (Hà Lan), Thành phố sinh thái Adelaide (tiểu khu sinh thái Chritie, Úc), Thành
phố Malmae (Thụy Điển), tiểu khu Simbiotic (Nhật Bản). Tuy nhiên việc ứng dụng và
phố Malmae (Thụy Điển), tiểu khu Simbiotic (Nhật Bản). Tuy nhiên việc ứng dụng và
xây dựng các đơ thị sinh thái còn tùy thuộc rất nhiều vào điều kiện cụ thể mỗi đơ thị.
Vì vậy để xây dựng một đơ thị sinh thái cần có cái nhìn tổng thể về sinh thái học,
về quy hoạch đơ thị, kiến trúc đơ thị, bảo tồn cảnh quan, xây dựng nền cơng nghiệp,
quản lý giao thơng, năng lượng, chất thải… hiệu qủa. Điều đó cũng cho thấy, cần có
sự phối hợp hiệu quả của các nhà quản lý, các nhà chun mơn trên nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Với nhiệm vụ của mơn học này, chúng ta chỉ giải quyết vấn đề về cảnh quan đơ
thị trên góc độ sinh thái học, trong đó tập trung vào các vấn đề liên quan tới hệ thống
mảng xanh ở một đơ thị hay các khu cơng nghiệp, dân cư có mức độ tập trung cao.
1.2. Một số vấn đề về Sinh thái học cảnh quan
1.2.1 Khái niệm Sinh thái học cảnh quan
Trên quan điểm sinh thái học, cảnh quan là một khu vực khơng đồng nhất được
cấu thành bởi một cụm của các hệ sinh thái tương tác với nhau, được lặp lại trong
11
không gian, với các kích thước, hình dáng, và quan hệ không gian khác nhau trong
khắp cảnh quan. Mỗi cảnh quan có các kiểu địa hình, kiểu thảm thực vật, và kiểu sử
dụng đất khác nhau. Một cách thức khác để xem xét một cảnh quan là xem nó như một
thể khảm của các đám sinh cảnh mà qua đó sinh vật di chuyển, cư trú, sinh sản, và cuối
cùng chết và trở về với đất.
Sinh thái học cảnh quan là một khoa học liên ngành đáp ứng với nhu cầu tìm
hiểu mối quan hệ lẫn nhau giữa xã hội con người và không gian sinh sống của chúng ta.
Nó nghiên cứu cấu trúc, chức năng, và sự biến đổi xảy ra trong một vùng đất không
đồng nhất được cấu thành bởi các hệ sinh thái tương tác với nhau. Là một ngành khoa
học tương đối mới, mặc dù các nhà nghiên cứu Châu Âu đã sử dụng các nguyên tắc của
nó sớm hơn nhiều so với các nhà nghiên cứu ở Bắc Mỹ, sinh thái học cảnh quan có
những đóng góp rất quan trọng trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững không gian sinh
12 Hình 1.6. Một cảnh quan với một ma trận (thành phần ưu thế), các đám, và các hành
lang nối kết giữa các đám
Độ rỗng của ma trận
Các đặc điểm cấu trúc ma trận gồm sự đa dạng về mật độ của các đám mà nó
chứa (các nhà sinh thái học cảnh quan gọi là độ rỗng – porosity – của ma trận), hình
dáng của các ranh giới, các mạng lưới, và tính không đồng nhất. Nếu một diện tích bị
phá vỡ nhưng các đám còn duy trì tương đối gần nhau, các đám vẫn còn đủ dày để có
ích cho việc di chuyển của động vật hệ vi sinh vật. Tuy nhiên, nếu tạo ra nhiều khoảng
trống nhỏ, các đám có thể không đủ dày để duy trì một hệ động thực vật, khi đó có thể
gặp vấn đề liên quan đến sự tồn tại của chúng.
Ví dụ, một số khu vực ở miền đông Kentucky không gặp vấn đề lớn nào với loài
chim chìa vôi có đầu màu nâu vì ở các khu vực này, ma trận là đất có rừng. Tuy nhiên,
sự tồn tại của loài chim này có thể trở thành một vấn đề trong các khu vực khác của
miền đông Kentucky nơi ma trận đã bị phân mảnh nhiều do sự khai thác than, nông
nghiệp, và phát triển đô thị (Hình 1.6). Sự ăn mồi gia tăng đối với các loài động vật
hoang dã như gấu trúc, thú có túi opossum, rắn đen bắt chuột, hay chim dẽ cùi xanh.
Một sự sụt giảm về mật độ cũng có thể làm tăng sự ký sinh ở tổ bởi chim chìa vôi có
đầu màu nâu lên chim di trú biết hót của vùng Tân Nhiệt đới.
Hình dáng của các ranh giới
Hình dáng của ranh giới cũng có ảnh hưởng có ý nghĩa lên sự phân bố và tồn tại
của hệ sinh thái. Ranh giới càng không đều, càng có nhiều vùng cạnh. Trong phạm vi
diện tích của ma trận, các mạng lưới nối kết các sinh cảnh có kích thước và hình dáng
khác nhau, tạo ra cái được gọi là tính không đồng nhất trong cảnh quan. Các đám sinh
cảnh khác nhau này thường được lặp lại trong khắp ma trận. Chúng có ảnh hưởng tới
khu đất ngập nước hay một vách đá.
• Các đám do du nhập là các đám trong đó do tác động nhiều bởi các họat động sống
của con người hay hay do sự di chuyển nơi cư ngụ, sinh sống của động vật.
Các đám trong cảnh quan có một số khía cạnh có ý nghĩa quan trọng trên quan
điểm sinh thái và ảnh hưởng lên các quyết định quản lý ở cấp độ cảnh quan. Cách tiếp
cận thường được sử dụng nhất trong phân tích các sinh cảnh của đám là xem chúng như
là các đảo sinh học. Phần lớn cách tiếp cận hiện đại về quản lý các đám trong cảnh quan
bắt nguồn từ lý thuyết về đảo địa lý sinh học. Lý thuyết này đã được MacArthur và
Wilson phát triển từ năm 1967 để giải thích các dạng thức của sự đa dạng loài trên các
đảo trong các đại dương. Nó cũng đã được chứng minh là có ích và có thể áp dụng
được trong một loạt các tình hình khác nhau, vì một đảo được định nghĩa một cách đơn
giản là một đám hay một mảng sinh cảnh thuận lợi, bao quanh bởi một sinh cảnh bất
lợi. Vấn đề là cần xác định, duy trì hay tạo nên một điểm cân bằng trong một quần thể.
14
Hình 1.7 Các đám sinh cảnh và khỏang trống Hình 1.8. Công trình xây dựng và rừng Hình 1.9 . Đô thị đang tiến dần ra các Hình 1.10. Sự thay đổi cảnh quan trước khu
rừng và hình thành cảnh quan mới (hình nhỏ góc trên) và sau khi thêm
vào một vườn cảnh nhỏ trong khu biệt thự Hình 1.11. Đưa thiên nhiên đến gần hơn với người dân đô thị
dựng các vườn tín ngưỡng như vườn thiêng của người dân tộc thiểu số ở các vùng núi
cao. Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, thương mại, ngành trồng cây xanh và
trao đổi buôn bán cây xanh, hình thành các vườn sưu tập cây cũng phát triển theo.
Những tác phẩm nghệ thuật về cây xanh cũng hình thành rất sớm và phát triển, đặc biệt
là ở các nước phương đông như các vườn cảnh (vườn treo Babylon nổi tiếng), các kiểu
vườn thượng uyển, các tác phẩm nghệ thuật bonsai đã có từ rất lâu đời và được trưng
bày trong các cung đình ở Trung Quốc, Nhật Bản. Ngay từ năm 1618, trong cuốn sách
“A New Orchard and Garden” của William Lawson đã trình bày khá chi tiết về cách
chăm sóc cây (Gene W. Grey – Frederik J. Deneke, 1996).
Tuy nhiên đến giữa năm 1960 các thuật ngữ lâm nghiệp đô thị (urban forestry);
quản lý hệ thống rừng và cây xanh đô thị vẫn chưa được thừa nhận.
2.2. Vai trò của cây xanh trong việc cải thiện môi trường đô thị
2.2.1. Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí
Không khí giữ vai trò cực kì quan trọng trong sự tồn tại của mọi hình thức sống
trên hành tinh chúng ta. Khí quyển bao quanh quả đất và được chia thành nhiều lớp,
nhưng 95% khối lượng không khí nằm ở lớp đối lưu (Troposphere) từ độ cao 0 – 10 km
trên bề mặt trái đất. Còn lại ở các lớp bình lưu (Statosphere) từ độ cao 10 – 50 km,
trong đó lớp ozon xuất hiện ở độ cao 18 – 30 km. Lớp trung lưu (Mesosphere) ở độ cao
trên 50 – 90 km và lớp ngoài (Themosphere) (Lê Huy Bá, 1997).
Trong lớp đối lưu thì tới 99% thể tích không khí sạch chứa 2 loại khí N
2
(78%),
O
2
(21%). 1% còn lại là các khí khác như argon (0,93%), CO
2
(0,03%), hơi nước… Các
thành phần này hầu như không đổi.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của các hoạt động xã hội loài người, và do
sự phân giải tự nhiên của sinh vật nhất là tại các đô thị, qúa trình ô nhiễm không khí đã
Để khống chế ô nhiễm không khí người ta tiến hành nhiều giải pháp, trong đó
vấn đề tăng cường trồng cây xanh ở khu vực đô thị là một trong những giải pháp hữu
hiệu.
Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang được các quốc gia và các nhà khoa học đặc
biệt quan tâm và tập trung nghiên cứu các giải pháp có tính chất tòan cầu. Sự nóng lên
toàn cầu tiềm ẩn những tác động tiêu cực tới sinh vật và các hệ sinh thái (UNFCCC,
2005b (United Nations Framework Convetion on Climate change) (dẫn theo Phan Minh
Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006)).
Một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này là sự tăng lên của khí
thải nhà kính. Theo IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) (2000) thì khí
carbonic (CO
2
) chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu. Nồng độ CO
2
trong không khí đã tăng 28% từ 288 ppm lên 366 ppm kể từ năm 1850 tính tới năm
1998.
Cây xanh với quá trình quang hợp của mình đã hấp thu một lượng lớn khí CO
2,
giúp giảm thiểu đáng kể lượng thán khí, đồng thời không ngừng làm gia tăng lượng khí
O
2
cho khí quyển.
Công thức tổng quát của quá trình quang hợp
AS
6CO
2
+ 6 H
2
sinh ra (tấn)
5 1352946,5 901964,35
10 3226257,1 2150838,10
15 5377095,2 3584730,10
18
20 7736078,8 5157385,90
25 10164444,0 6776296,30
30 12592810,0 8395206,60
35 15055866,0 10037244,00
40 17484232,0 11656155,00
45 19843216,0 13228810,00
50 22167508,0 14778339,00
55 24387728,0 16258486,00
60 26503875,0 17669250,00
Theo bảng trên thì một rừng đước trồng có diện tích khoảng 21.000 ha và đồng
nhất về tuổi hấp thụ tổng cộng gần 8 triệu tấn CO
2
từ lúc trồng cho đến khi đạt 20 tuổi.
Trong suốt quá trình đó rừng cũng sinh ra hơn 5 triệu tấn O
2
. Nếu rừng đước tiếp tục
tăng trưởng đến 30 tuổi thì môi trường chung quanh được lợi vì có thêm 8.395.206,6 –
5.157.385,9 = 3.237.820,7 tấn O
2
và được lấy bớt đi 12.592.810 – 7.736.078,8 =
5 2,934 – 3,912 4,401 – 5,868 2,934 – 3,912
10 4,890 – 5,868 7,335 – 8,802 4,890 – 5,868
15 5,868 – 7,842 8,802 – 11,736 5,868 – 7,824
20 6,846 – 9,780 10,269 – 14,760 6,846 – 9,780
25 6,846 – 9,780 10,269 – 14,670 6,846 – 9,780
Để sản xuất ra một tấn gỗ (để đơn giản tính tốn nhưng đồng thời sai số ở phạm
vi chấp nhận được bằng cách xem chất gỗ được cấu tạo chỉ bởi cellulose), cây xanh đã
hấp thụ 1,63 tấn CO
2
và tạo ra 1,18 tấn O
2
.
19
Theo Nicolas P. Lansigan (1973 (dẫn theo Lê Huỳnh, 1999)), để sản xuất 1 tấn
gỗ, rừng đã hấp thụ 1,5 tấn CO
2
và nhả ra 1 tấn O
2
.
Một tấn gỗ được hình thành tương ứng với 1,5 tấn CO
2
(hút vào) và 1 tấn O
2
(nhả ra) là kết quả cuối cùng giữa 2 quá trình trái ngược nhau, đó là sự quang hợp và hô
hấp. Hô hấp là quá trình biến dưỡng qua đó sự đốt cháy nguyên liệu (ở thực vật là chất
Kim loại ô nhiễm Lượng tích lại trong 1năm (mg /cây)
Chì 452
Nickel 64
Crôm 11
Cadmium 5
Bảng 2.4: Lượng ước tính các hạt kim loại được cây sao đen đường kính 20 cm, chiều
cao 9 m, độ che phủ 30% tích lại trong 1 năm trong điều kiện nồng độ chì trong không
khí thấp
Kim loại ô nhiễm Lượng tích lại trong 1năm (tấn)
Chì 14,973
Nickel 2,120
Crôm 0,364
Cadmium 0,165
20
Bảng 2.5. Lượng ước tính các hạt kim loại được cây sao đen đường kính 20 cm, chiều
cao 9 m, với 2 độ che tách khỏi bầu không khí ô nhiễm trong 1 năm
Kim loại ô nhiễm Lượng tích lại trong 1năm (tấn)
Độ che phủ 20% Độ che phủ 30%
CO 108.948 163.423
NOx 96.377 144.566
O3 2.598.006 3.897.010
Peroxyacetylnitrate 50.284 75.426
0,1161576 0,1027548 2,769912 0,0536112 1,831716
Tamarindus india
b
(36 tháng tuổi,H = 3,5 m
R = 3,71 m
S = 10,2 m
2
)
0,2323512 0,2055096 5,539824 0,1072224 3,663432
Pithecellobium dulce
b
(36 tháng tuổi, H = 5,5 m
R = 6,37 cm
S = 11,2 m
2
)
0,2550912 0,2256576 6,802944 0,1177344 4,022592
Eucalyptus lai
b
(36 tháng tuổi, H = 7,3 m
R = 5,89 cm
S = 13,1m
2
)
0,2983656 0,2639388 7,114872 0,1377072 4,704996
Cassia fistula
b
21
R: bán kính được xác định ngang mặt đất cho với cây có kí hiệu b, ngang vai đối với
cây có kí hiệu c (VD: Hopea odorata
c
)
S: tổng diện tích lá/cây đối với cây
có kí hiệu a, b, tổng diện tích lá + vỏ thân/cây đối
với cây
có kí hiệu c
.
Bảng 2.6. Lượng một số khí ô nhiễm và bụi do nhà máy thải ra được cây sao 10 năm
tuổi trồng ở cự ly 9 m (cả 2 chiều) trên diện tích có bán kính 153 m và 261 m (tính từ
tâm nhà máy) giữ lại trong 1 năm
Lượng khí và bụi (hạt) Lượng khí có thể giữ lại
bán kính R = 153m R = 26lm
Số cây N = 716 N = 2584
SO
2
55,697972 201,01056
CO 3,5320665 12,747011
NO
x
3,1245204 11,276202
O
chênh lệch nằm trong khoảng 3 – 5
0
C (Moll, 1991) hoặc 0,5 – 1,5
0
C (Federer, 1970
(dẫn theo Lê Huỳnh, 1999)).
22
Cây xanh mặt nước trong đô thị có thể làm giảm nhiệt độ không khí từ 3,3
0
C đến
3,9
0
C, khi diện tích đất cây xanh đạt 20% đến 50% diện tích đất đô thị. Hiệu quả tổng
hợp của bóng mát và bay hơi có thể làm giảm đi 17% đến 57% năng lượng cần thiết khi
tăng 25% diện tích che phủ thảm thực vật. Cây xanh đô thị có thể làm giảm từ 40% đến
50% cường độ bức xạ mặt trời và hấp thụ 70% đến 75% năng lượng mặt trời (Trương
Văn Quảng (2004); Website: quanlymt.blogspot.com ).
Sử dụng nhiệt ẩm kế để đo nhiệt độ, độ ẩm ở khu vực có và không có cây xanh
trong công viên 23/9 TP.HCM, tháng 5 năm 2005, các số liệu được đo tại 9 vị trí với 3
vị trí ở lỗ trống, 3 vị trí dưới tán cây lớn, 3 vị trí dưới tán cây thấp (<3 m) trong Công
viên 23/9 vào các khoảng thời gian 7 h – 12 h – 17 h trong ngày cho kết quả như bảng
dưới đây.
Bảng 2.7. kết qủa đo nhiệt độ, ẩm độ tại Công viên 23/9, TP.HCM
Thời gian
Vị trí
7 h sáng 12 h trưa 17 h chiều
< 3
0
c. Đồng thời quá trình thoát hơi nước qua khí khổng của lá cũng làm giảm nhiệt độ
không khí xung quanh. Thực thế lượng nước cây hút vào rất nhiều nhưng dùng cho
quang hợp lại rất nhỏ, còn chủ yếu qua con đường thoát hơi nước (95 – 98%). Ví dụ rễ
cây hút 1000 g nước, cơ thể chỉ tăng 3 g chất khô. Sự thoát hơi nước lãng phí nhưng
cần thiết này diễn ra thường xuyên, đảm bảo cho các hoạt động sinh lí bình thường của
thực vật nhưng qua đó đã làm giảm đáng kể nhiệt độ không khí xung quanh. Tiết kiệm
năng lượng bằng trồng cây thay vì sử dụng các máy điều hòa nhiệt độ có thể đạt 10 –
50% đối với làm mát, và đạt 4 – 22% đối với sưởi nóng.
Cumming (1941) ước tính rằng một cây thích đứng một mình và cao 14 m có
khoảng 177.000 lá với tổng diện tích là 350 m
2
thì sự thoát hơi nước của cây ở mức
khoảng 220 lít nước mỗi giờ (Heller, 1969 ((dẫn theo Lê Huỳnh, 1999)).
Cây sao đen (Hopea odorata) là một cây được trồng khá phổ biến ở Tp.HCM.
Theo Wolf – Ulrich Kriebitzsch, Haold Miillerstael và Christiane Then thuộc Trung
tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp và Lâm sản liên bang Mỹ (1997), Viện Lâm nghiệp Thế
23
giới tại Hamburg (Đức) thì cây sao con hơn 8 tháng tuổi trồng trong nhà kính dưới 2
chế độ ánh sáng khác nhau, ánh sáng toàn phần và che bóng. Cây trong điều kiện ánh
sáng toàn phần có tổng diện tích lá là 1213,1 cm
2
còn trong bóng râm là 1748,4 cm
2
và
tốc độ thóat hơi nước lần lượt là 1,225 (ánh sáng toàn phần) và 0,61 mmol H
lười suy nghĩ, dễ nôn nóng, chóng mỏi mệt.
Tiếng ồn là đặc điểm của các đô thị, nhất là các đô thị có nhiều nhà máy, lò cao,
các phương tiện giao thông, công tác xây cất nhà, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình
(máy giặt, máy hát, radio…).
Ở thành phố HCM tiếng ồn do các phương tiện giao thông như xe bagac máy tới
97 dB, xích lô máy 95 dB, xe vận tải lớn 87 dB. Các khu vực bến xe, chợ tiếng ồn tới
70 – 80 dB. Tại các lớp học, cơ quan, nhà dân gần đường khỏang 65 – 70 dB. Nhìn
chung đều cao so với TC cho phép (5 – 20 dB). Theo kết quả khảo sát của Chi cục bảo
vệ môi trường thành phố, qua các năm 2003 dao động 71 – 88 dB (dB: decibel); năm
2004 là 79 dB và năm 2005 là 75 - 83 dB (theo các nhà y học thì tiếng ồn từ 80 db trở
lên sẽ gây hại tới sức nghe và sức khỏe, với độ ồn 90 dB con người chỉ có thể làm việc
trong 4 giờ/ngày nếu không muốn bị điếc) (Trần Trung – Kim Long, Báo Người lao
động ngày 6 - 4 -2006).
Cây xanh có khả năng hấp thu và làm khúc xạ tiếng ồn, giảm bớt tác hại của nó.
Nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp,
24
lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng
ồn. Đường phố có cây sẽ làm giảm tiếng ồn 5 – 6 lần so với đường không có cây. Theo
nghiên cứu của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, nếu trồng đai rừng rộng 30 m và cây cao 12 m
có thể giảm 50% tiếng ồn (Nguyễn Sơn Thụy, 2005).
Tuy nhiên hiệu qủa này còn phụ thuộc vào loài cây trồng, bố trí, mật độ, diện
tích trồng cây.
2.2.4. Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho khu vựcc
Các khu công viên, vườn hoa, thảo cầm viên… không chỉ tạo nên bầu không khí
mát mẻ, trong lành cho mọi người nghỉ ngơi mà ở đó còn là nơi để thưởng thức, nghiên
cứu các bộ sưu tập nhiều loài cây phong phú từ mọi miền đất nước và của thế giới.
Những vườn cây cảnh, vườn hoa luôn được các nghệ nhân sưu tầm và lai tạo, sáng tạo
25
Ở các vùng ngoại ơ rừng phòng hộ khơng chỉ có tác dụng bảo vệ khỏi gió bão,
mưa lũ gây ra cho vùng nội thành, mà ở nơi này diện tích canh tác còn nhiều do vậy cây
xanh ở đây còn có tác dụng chống xói mòn đất, bảo vệ mùa màng, bảo vệ các hệ thống
thủy lợi, nhà cửa của người dân.
2.2.6. Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan của đơ thị
Từ xa xưa cây xanh đã được đưa vào trồng ở đơ thị xen các kiến trúc nhà ở,
vườn, ở các đình chùa như ở Trung Quốc, Hy Lạp, Tây á, trong đó phải kể tới cơng
trình nổi tiếng là vườn treo Babylon cách đây 600 năm TCN.
Bây giờ khơng ai còn bàn cãi gì nữa về vấn đề cây xanh làm tăng mĩ quan chung
của đơ thị, mà chỉ còn bàn về nghệ thuật sắp xếp cây thế nào cho được hài hòa giữa
chúng với nhau, giữa chúng với các cơng trình khác tại từng khu vực. Cây xanh trồng 2
bên đường phố, tại các khu nhà tập thể, cơ quan, trường học, cơng viên… khơng chỉ
góp phần vào cải thiện mơi trưòng sinh thái mà rõ ràng nó đã tạo nên nét đẹp mới, độc
đáo riêng cho mỗi thành phố, cơng trình kiến trúc. Việc chọn lựa lồi cây, bố trí cây
trồng, chăm sóc cây cảnh… là những cơng trình nghệ thuật thực sự. Nó khơng chỉ
mang đến gía trị về tính đa dạng sinh học q báu, mà còn thể hiện nghệ thuật thẩm mĩ
phong phú của mỗi đơ thị, mỗi dân tộc, thậm chí của từng nhà sáng tạo. Những cơng
trình cây xanh thực sự làm tăng nét văn hóa – nghệ thuật của đơ thị. Con người ln
vươn tới cái hồn mĩ hơn, vì vậy họ ln ln cải thiện, sáng tạo từ những nền tảng cũ.
Mặc dù vấn đề cây trồng đơ thị diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, nhưng các nhà chun
mơn vẫn ln mong muốn gìn giữ nét văn hóa nghệ thuật độc đáo riêng của mỗi vùng,
mỗi con đường, mỗi vườn hoa, mỗi dân tộc …có sự kết hợp hài hòa và mang được tính
hiện đại.
Những cây đa, cây đề cao lớn, bề thế sẽ làm tăng thêm nét uy nghi, tĩnh lặng của
những ngơi đình, chùa. Những cây phượng vĩ thường đem đến sự trẻ trung, sơi động
cho các trường học. cây liễu rủ ven hồ nước trong xanh thật quyến rũ. Còn những rặng