nghiên cứu hiện trạng xử lý rác tại một số vùng nông thôn đô thị hoá ở miền bắc và xây dựng mô hình thu gom, xử lý rác thải khả thi, đảm bảo vệ sinh môi trường - Pdf 10

Bộ y tế
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ Hà Nội, 2007 Bộ y tế
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ Tên đề tài: Nghiên cứu hiện trạng xử lý rác tại một số vùng nông thôn đô
thị hoá ở miền Bắc và xây dựng mô hình thu gom, xử lý rác thải khả thi,
đảm bảo vệ sinh môi trờng.
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Hùng Long
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ơng
Cấp quản lý: Bộ Y tế
Thời gian thực hiện: từ tháng 5 năm 2003 đến tháng 6 năm 2007

Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 300 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH: 300 triệu đồng Tháng 6, năm 2007

Nội dung
Trang
Bản tự đánh giá về tình hình thực hiện và những đóng góp mới của đề tài
Phần A. Báo cáo Tóm tắt
i
Phần B. Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu

Chơng i. Đặt vấn đề

Chơng ii. Tổng quan

2.1. Vấn đề đô thị hoá và tác động tới môi trờng và sức khỏe
3
2.1.1. Quá trình đô thị hoá
3
2.1.2. Tác động của đô thị hoá 5
2.1.3. Tình hình đô thị hoá ở Việt Nam 5
2.1.4. Môi trờng sinh hoạt khu vực nông thôn đô thị hoá 6
2.2. Chất thải sinh hoạt: thành phần, nguy cơ và nguyên tắc xử lý 7
2.2.1. Chất thải sinh hoạt
7
2.2.2. Thành phần của rác thải sinh hoạt 8
2.2.3. Nguy cơ của chất thải đối với môi trờng và sức khỏe 8
2.2.4. Nguyên tắc quản lý chất thải 9
2.2.5. Hệ thống quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
11
2.3. Tình hình thu gom, phân loại, vận chuyển , xử lý rác trên thế giới và ở
Việt Nam
12

3.2. Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tợng nghiên cứu
24
3.3. Phơng pháp nghiên cứu
27
3.4. Tổ chức nghiên cứu và xử lý số liệu
26
Chơng IV. Kết quả nghiên cứu

4.1. Trình độ và nghề nghiệp của đối tợng phỏng vấn
28
4.2. Một số đặc điểm về kinh tế của các hộ gia đình
29
4.3. Đặc điểm ý thức xã hội của cộng đồng dan c về rác thải và các vấn
đề liên quan đến rác thải
31
4.4. Kết quả cân rác tại các hộ gia đình 41
4.5. Đánh giá mức độ nguy cơ của rác thải tới sức khỏe con ngời
42
4.6. Đề xuất và thử nghiệm mô hình thu gom, xử lý rác cho vùng nông
thôn đô thị hoá
44
Chơng IV. Bàn luận
52
Kết luận
62
Kiến nghị
64
Tài liệu tham khảo
65
Phụ lục: Các mẫu phiếu phỏng vấn

Bng 21. Mức độ nhiễm vi sinh vật tại rác thải hộ gia đình
Bảng 22. Mức độ nhiễm trứng giun, sán đờng ruột tại rác hộ gia đình
Bảng 23. Mức độ nhiễm vi sinh vật tại rác thải tại các bãi rác của xã
Bảng 24. Mức độ nhiễm trứng ký sinh trùng và vi khuẩn đờng ruột trong rác thải
tại các bãi rác của xã
Bảng 25. Nội dung thử nghiệm mô hình
Bảng 26. Tỉ lệ phân loại rác tại các hộ gia đình
Bảng 27. Theo dõi quá trình phân huỷ rác tại các bể xử lý

Bản tự đánh giá
Về tình hình thực hiện và những đóng góp mới
của đề tài kh&cn cấp Bộ

1. Tên đề tài: Nghiên cứu hiện trạng xử lý rác tại một số vùng nông thôn đô thị
hoá ở miền Bắc và xây dựng mô hình thu gom, xử lý rác thải khả thi, đảm bảo
vệ sinh môi trờng.
2. Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Hùng Long
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ơng
4. Thời gian thực hiện: từ tháng 5 năm 2003 đến tháng 6 năm 2007
5. Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 300 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH: 300 triệu đồng
6. Tình hình thực hiện đề tài so với đề cơng:
6.1. Về mức độ hoàn thành khối lợng công việc: Thực hiện không chỉ đầy đủ mà
còn mở rộng thêm phạm vi, đó là việc đề xuất giải pháp xử lý rác thải ni lông
vì trên thực tế nghiên cứu thấy rằng vấn đề rác thải ni lông gây bức xúc nhiều
nhất đối với các cấp chính quyền và nhân dân. Đây là loại rác gần nh không
tiêu huỷ đợc và gây ứ đọng, chiếm diện tích canh tác và gây ô nhiễm môi
trờng.
6.2. Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN: đề tài
đã đợc thực hiện theo phơng pháp mô tả cắt ngang. Các mẫu xét nghiệm

trên tạp chí Y học thực hành:
Tạp chí Y học thực hành số 6 (547) năm 2006:
(1). Nghiên cứu hiện trạng rác thải taịo một số xã ven đô của Hà Nội và Hà
Tây.
(2) Đánh giá về nhận thức của ngời dân đối với rác thải tại một số xã ven đô
Hà Nội và Hà Tây.
Tạp chí Y học thực hành số 7 (549) năm 2006:
(3) Nghiên cứu tình hình thu gom và xử lý rác thải tại một số xã ven đô Hà
Nội và Hà Tây.
+ Đề tài này cũng là cơ sở cho nghiên cứu sinh tiến sỹ thuộc chuyên ngành
Y xã hội học và tổ chức y tế. 1
Phần B
Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu Chơng I
đặt vấn đề

Trong khi ở hầu hết các nớc công nghiệp hiện đại đang quan tâm lo
lắng đến sự ô nhiễm môi trờng toàn cầu, ô nhiễm từ các nhà máy điện, hoá
chất, từ các lò phản ứng hạt nhân nguyên tử, hoặc các chất thải từ các khu công
nghiệp thì ở Việt Nam ngoài nỗi lo đó lại còn thêm vấn đề môi trờng và ô
nhiễm bắt nguồn từ khu vực nông thôn đô thị hoá và các làng nghề.
Chính sách đổi mới kinh tế do Đảng và Nhà nớc khởi xớng chỉ đạo đã

- Đánh giá nhận thức của ngời dân và các cấp chính quyền, đoàn thể về
vấn đề rác thải ở khu vực này.
- Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải ở khu vực nông thôn đô thị
hoá.
- Đề xuất mô hình thu gom, xử lý rác hợp vệ sinh cho khu vực nông thôn
đô thị hoá. 3
Chơng II
tổng quan


Khụng cú cụng nhõn v sinh dn rỏc. Lut v sinh kiu c trong lng nay
khụng cũn hiu lc vỡ s dõn c mi
n ngy cng ụng. S ngi mi n
ny cng loi. Xúm liu thng tp hp nhng thnh phn xó hi bt
ho hoc quỏ nghốo khú v khú vn ng, thuyt phc. nhng khu nh giu

4
mới di cư đến thì lại có khuynh hướng kín cổng cao tường, không hoà nhập với
cộng đồng làng xã cũ. Từ những đặc điểm trên, ta thấy rõ ràng là việc quy
hoạch xử lý rác thải ở vùng ven đô, vùng đang đô thị hoá cần phải có những
quy hoạch và biện pháp thích hợp.
- Kiểu mở rộng đô thị ven đô thứ hai cũng đang được diễn ra là nhà
nước, các công ty đầu tư xây dự
ng xây hoàn chỉnh một khu dân cư mới rồi bán
cho dân hoặc chia đất cho cán bộ rồi quy định phải xây dựng theo thiết kế tổng
thể trên địa bàn của một làng xã cũ nhưng không nằm trong khu cư trú cũ của
làng xã. Kiểu đô thị hoá này có những ưu điểm riêng vì khi xây dựng người ta
đã quy hoạch khá đầy đủ phần giao thông, cấp thoát nước cũng như các hố rác
thải Tuy nhiên, ở những khu vực này, n
ếu không có những quy định nghiêm
ngặt và những quản lý cộng đồng cần thiết thì nguy cơ ùn tắc và ô nhiễm rác
thải có khi còn tệ hại hơn cả ở những khu vực phát triển theo lối tự phát kể
trên. Thực tế đã cho thấy có những khu nhà ở nhiều tầng vì không ai bảo được
ai nên nước thải và rác bẩn từ tầng trên vứt thẳng xuống sân chung năm này
qua năm khác thành những đống rác khổng l
ồ mà xử lý những đống rác lưu
cữu này thật vô cùng tốn kém, chưa nói đến tác hại lâu dài của nó đến sức khoẻ
những người dân sống ở những khu vực này.
b. Đô thị được xây dọc theo các trục lộ giao thông
Đây là một kiểu đô thị hoá khá phổ biến ở các nước châu Á. Nhà cửa,

trờn cỏc c s khoa hc v iu ki
n kinh t - xó hi trc khi a ra quyt
nh vỡ gii phỏp ny cú th thớch hp vi ni ny nhng khụng thớch hp vi
ni khỏc, hoc cú th thớch hp vo thi im ny nhng vo thi im khỏc
li khụng thớch hp.
2.1.3. Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển mạnh về kinh tế, đô thị hoá đang là một xu hớng
rất mạnh ở nớc ta. Chỉ trong vòng 3 năm trở lại đây, đã có hàng chục thành
phố loại 2, 3 đợc thành lập. Nếu nh năm 2000 nớc ta có 649 đô thị lớn nhỏ
thì đến cuối năm 2005 đã có trên 670 đô thị lớn nhỏ. Tốc độ đô thị hoá nhanh
nh vậy, nhng cơ sở hạ tầng nh cấp thoát nớc, nhà ở, giao thông, vệ sinh
môi trờng còn yếu kém không đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng tăng của các
khu vực đang trong quá trình đô thị hoá [28].
Đặc điểm của khu vực nông thôn đô thị hoá:
Mật độ dân số tăng cao: tại các khu vực ngoại thành tăng cao, đặc biệt do
số l
ợng ngời di dân lao động tự do. Khi nghiên cứu tình hình môi trờng lu
vực sông Nhuệ, sông Đáy cho thấy năm 1990, dân số đô thị của lu vực này chỉ
có 1,67 triệu ngời, con số này năm 2004 là 2,85 triệu ngời. Dân số nội thành
Hà Nội năm 90 là 1 triệu tới năm 2004 là gần 2 triệu dân trong đó số dân khu
vực ngoại thành đang đô thị hoá đóng góp đáng kể [28].
Chuyên môn hoá nghề nghiệp: một số nghề đợc chuyên môn hoá nh
cơ khí, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ gỗ nội thất, chăn nuôi quy mô công

6
nghiệp , và một số nghề hay hoạt động sản xuất cũ biến mất nh trồng hoa
màu, rau xanh .
Có sự dịch chuyển lao động: lao động tại địa phơng tập trung vào nghề
mới, nghề chính. Một số lao động từ các địa phơng khác đợc thu hút, huy
động và cũng có một bộ phận do thiếu kỹ năng nghề, thiếu trình độ hay những

trờng nớc, môi trờng đất và môi trờng không khí trong khu vực dân sinh
[17].
Thống kê của Sở công nghiệp một số tỉnh cho biết đa số các làng nghề
thuộc khu vực nông thôn đô thị hoá, khu vực ngoại thành hoặc có mối liên hệ
mật thiết với đô thị, ví dụ Hà Tây có 88 làng nghề, Bắc Ninh 58 làng, Vĩnh
Phúc 24 làng, Hng Yên 33 làng, Nam Định 113 làng, Hà Nam 10 làng, Hải
Dơng 36 làng, Thái Bình 82 làng Mỗi làng nghề thờng dao động từ 400
700 hộ sản xuất, mỗi hộ có từ 4 - 5 nhân lực lao động. Cũng theo ớc tính,
trong vòng 10 năm qua, làng nghề ở nông thôn có tốc độ tăng trởng nhanh,
trung bình đạt khoảng 8%/năm tính theo giá trị đầu ra [16].
Thực tế trên cho thấy hiệu quả của chính sách môi trờng tại khu vực
nông thôn đô thị hoá cha cao. Nguyên nhân của hiện trạng ô nhiễm là do diện
tích đất trống bị thu hẹp làm đất ở, nên rất khó cho việc bố trí xử lý chất thải.
Mặt khác, dới áp lực của dân số, một số khâu trung gian điều tiết chất thải nh
ao hồ, sông ngòi bị san lấp làm diện tích ở. Số lợng ao hồ còn quá ít nên dẫn
tới quá tải, dẫn đến nớc thải ứ đọng, tràn cả ra khu dân c, tình trạng này
khiến ô nhiễm không những không thuyên giảm mà ngày càng trầm trọng. Bên
cạnh đó, các hoạt động sản xuất thô sơ lạc hậu và đặc biệt là dịch vụ thơng
mại thải ra rất nhiều rác cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm (17,19).
2.2. Chất thải sinh hoạt, thành phần, nguy cơ và nguyên tắc quản lý:
2.2.1. Chất thải sinh hoạt:
Theo báo cáo diễn biến môi trờng Việt Nam 2004 chuyên đề về chất
thải rắn, Việt Nam mỗi năm phát thải khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó chất
thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ kinh doanh chiếm tới
80% tổng lợng chất thải phát sinh trong cả nớc. Khu vực nông thôn phát thải
khoảng 6 400 000 tấn chất thải rắn mỗi năm (32). Chất thải sinh hoạt phát sinh
từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành
phần khác nhau, nhìn chung các chất hữu cơ dễ phân huỷ khoảng 60-75% ở
khu vực nông thôn, khu vực đô thị tỷ lệ này thấp hơn khoảng 50%. Hệ số phát
thải chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn khoảng 0,3 kg/ ng
Sơ đồ 1. Tác động của việc xử lý không hợp lý chất thải đô thị
Các tác động của xử lý chất
thải không hợp lý
Môi
trờng
xú uế
Làm hại
sức khoẻ
con ngời
Tạo môi
trờng
dịch bệnh
Tạo nếp
sống
kém văn
minh
Gây ùn
tắc giao
thông
Làm mất
vẻ đẹp đô
th

quan trọng hơn là tìm ra những phơng pháp xử lý rác thích hợp vừa hạn chế
đợc ô nhiễm vừa tái sử dụng đợc những nguồn dinh dỡng có trong các chất
thải cho sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống.
2.2.4. Nguyên tắc quản lý chất thải
Quản lý chất thải là các hoạt động kiểm soát chất thải từ nơi phát sinh
cho tới nơi tiêu huỷ bao gồm cả không gian và thời gian, hoạt động quản lý
chất thải bao gồm các khâu sau (9,19,21):
- Giảm thiểu tối đa lợng chất thải phát sinh bằng các biện pháp khuyến
khích công nghệ sạch không phát sinh chất thải. Thay thế vật liệu khó tiêu huỷ
nh túi ni lông bằng các vật liệu tự tiêu, tự huỷ. Tái sử dụng tại chỗ các chất
thải. Phân loại chất thải ngay từ đầu nguồn.

10
- Thu gom vận chuyển hết chất thải phát sinh. Điều này rất khó khăn
trong hoàn cảnh nớc ta hiện nay, đòi hỏi đầu t ngân sách và xã hội hoá. Phải
có những phơng thức có hiệu quả thu gom cao nhng phù hợp với khả năng
kinh tế và việc làm của ngời lao động.
- áp dụng các công nghệ, trang bị và kỹ thuật tiên tiến vào vận chuyển,
phân loại, xử lý chất thải rắn. Đào tạo đợc một đội ngũ cán bộ và công nhân
kỹ thuật lành nghề trong hệ thống quản lý chất thải rắn. Khuyến khích các đơn
vị t nhân tham gia thực hiện quản lý chất thải rắn.
- Truyền thông, giáo dục toàn dân đóng góp vào công tác giảm thiểu, thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.
- Có các chế tài, quy định về xử phạt, khen thởng, đóng thuế, thu phí
để tái đầu t cho hệ thống quản lý chất thải rắn.
Vấn đề chất thải cần đợc giải quyết theo nguyên tắc kết hợp đồng bộ
giữa tuyên truyền giáo dục cho ngời thải rác, tổ chức thu gom và xử lý chất
thải. Nếu vì một lý do nào đó chỉ thực hiện tốt một nội dung thì mục tiêu sẽ
không đạt đợc.
Nguyên tắc 3R trong quản lý chất thải rắn (36,40):

trờng chung cho cả nớc, xây dựng và đề xuất lên Quốc hội những văn bản
pháp luật về quản lý môi trờng quốc gia. Hiện nay, hoạt động quản lý môi
trờng trong đó có quản lý chất thải rắn đợc điều tiết bởi nhiều văn bản qui
phạm pháp luật đã đợc Nhà nớc ban hành (31). Đó là:
- Luật Bảo vệ môi trờng (1994)
- Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989)
- Luật đất đai (1993)
- Luật Thơng mại (1996)
và một số bộ luật khác nh Luật Tài nguyên nớc, Luật Khoáng sản .v.v
Để đa các bộ luật vào thực thi chúng ta còn có các văn bản dới luật do Chính
phủ và các Bộ ban hành nh:
- Nghị định về Hớng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trờng (1994)
- Điều lệ Vệ sinh (1991)
- Các Quy chế về Quản lý chất thải nguy hại, Quy chế quản lý chất thải y tế,
các tiêu chuẩn Việt Nam về Bãi chôn lấp hợp vệ sinh, về hoá chất nguy hiểm
- Các Chiến lợc quốc gia về Quy hoạch đô thị, về Quản lý chất thải rắn đô thị,
Chiến lợc quốc gia về cung cấp nớc sạch và vệ sinh môi trờng nông thôn.

12
Các cơ quan quản lý nhà nớc nh Bộ Tài nguyên và Môi trờng, Bộ
Xây dựng, Bộ Y tế chỉ đạo ngành của mình tham gia hớng dẫn, kiểm tra,
thanh tra giám sát công tác quản lý chất thải. Chính quyền địa phơng chịu
trách nhiệm thành lập các đơn vị thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
rắn trên địa phơng mình. Trực tiếp thực hiện là các công ty môi trờng đô thị
của nhà nớc, hợp tác xã hoặc của t nhân.
Đã tạo đợc d luận và sự ủng hộ của cộng đồng về hoạt động của tổ môi
trờng tự quản.
2.3. Tình hình thu gom, phân loại và vận chuyển, xử lý rác thải trên thế
giới và ở Việt Nam:
2.3.1. Kinh nghiệm thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác trên thế

một lớp đất mầu lên để trồng cây. Ưu điểm của phơng pháp này là không gây
ô nhiễm môi trờng, nớc thải từ bãi rác đợc thu gom và xử lý (14)
Tại các nớc châu á, điển hình nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ở
nơi công cộng ngời ta dùng các thùng chia làm 4 ngăn để thu gom rác theo 4
loại: chai lọ thuỷ tinh, vỏ đồ hộp, giấy bỏ và các loại rau, cỏ, thực phẩm thừa.
Các phơng tiện sẽ thu gom từng loại và chuyển đến nơi tái chế hoặc xử lý. Rác
thải hữu cơ đợc sản xuất thành phân bón hoặc chôn lấp an toàn (25).
2.3.2. Tình hình thu gom và xử lý rác cho khu vực đô thị và thành phố lớn ở
Việt Nam
Theo các kết quả điều tra của Công ty môi trờng đô thị Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh thì lợng chất thải rắn ở Hà Nội mỗi ngày là 1.228 tấn
trong đó có 51,9% là chất hữu cơ, còn ở thành phố Hồ Chí Minh là 3.500 tấn
với 60 65% là chất hữu cơ (16). Hai thành phố này đã nhập một số công nghệ
của nớc ngoài với chi phí tới hàng nghìn tỉ đồng để xử lý rác hữu cơ thành
mùn nhng cũng chỉ đáp ứng đợc một phần nhỏ lợng rác thải hàng ngày, còn
chủ yếu vẫn chở đi các bãi chôn lấp tập trung (30,32).
Tại Hà Nội biện pháp xử lý rác chủ yếu vẫn là chôn lấp, chỉ có khoảng
5% lợng rác đợc chế biến thành phân hữu cơ tại nhà máy rác Cầu Diễn với
công suất 7.500 tấn phân/năm. Các bãi rác Tam Hiệp, Mễ Trì, Tây Mỗ đã đóng
cửa, chỉ còn bãi rác Nam Sơn với diện tích trên 80 ha đang sử dụng. Gần đây đã
có một số nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm vi sinh vào xử lý làm giảm thể

14
tích rác nhanh chóng cũng nh thúc đẩy nhanh quá trình ủ rác nh EMUNI
(gồm các vi khuẩn, nấm sợi, xạ khuẩn a nấm và a nhiệt), Biovina (gồm
Aspergillus, Actinomyces, Penicillium, Bacillus). (30)
Tơng tự nh vậy, tại thành phố Hồ Chí Minh, biện pháp xử lý rác chủ
yếu cũng là chôn lấp. Tuy nhiên với công nghệ chôn lấp đơn giản, bãi rác Đông
Thạnh đã tiếp nhận lợng rác vợt công suất thiết kế với hơn
6.500.000m

loại, thu gom rác. Tuy nhiên rác sau khi đợc phân loại tại các hộ gia đình đôi
khi lại đợc bỏ chung vào xe để vận chuyển làm cho ngời dân cảm thấy công
lao của họ bị bỏ quên nên hiệu quả không lâu dài (34).
Nghiên cứu xử lý rác thải tạo nguồn phân bón thích hợp phục vụ nông
nghiệp của tác giả Lý Kim Bảng và cộng sự (8) đã thành công trong việc tuyển
chọn các chủng vi sinh vật có hoạt tính cao và tìm điều kiện lên men thích hợp
để rút ngắn thời gian phân huỷ rác, tạo lợng mùn có giá trị dinh dỡng cao.
Nghiên cứu của Trờng Đại học Dân lập Hồng Bàng Tp. Hồ Chí Minh
cũng đã ứng dụng thành công men vi sinh và công nghệ xử lý 1 tấn rác thành
500 kg phân hữu cơ sau 2 tháng bằng vi sinh, không gây ô nhiễm môi
trờng(12).
Trờng Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu thành
công việc sử dụng sâu non của ruồi Lính đen để phân huỷ rác. Mỗi tấn rác sinh
hoạt sau khi xử lý sẽ cho 200 kg phân hữu cơ và 200 kg sâu non dùng làm thức
ăn cho gia cầm.
Vụ Y tế Dự phòng và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (15) cũng đã
phối hợp nghiên cứu sử dụng giun đất để xử lý rác thải hữu cơ hộ gia đình. Kết
quả là rác đã đợc giun phân huỷ thành chất mùn hữu cơ có giá trị dinh dỡng
cao để bón cho cây trồng, đặc biệt là cây cảnh.
2.3.4. Quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn Việt Nam
Khu vực nông thôn, chất thải rắn sinh hoạt cha đợc quản lý tốt, nhìn
chung mang tính chất tự phát và chủ yếu là các hộ gia đình phải tự giải quyết.
Kinh phí đầu t của nhà nớc hầu nh cha có. Một số chơng trình đầu t vào
quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt tại vùng nông thôn chủ yếu tập trung cho cải
thiện số lợng và chất lợng nhà tiêu, tập trung vào giải quyết quản lý phân
ng
ời. Chơng trình nớc sạch và vệ sinh môi trờng nông thôn cũng tập trung
vào vấn đề cấp nớc sạch. Đối với chất thải rắn hộ gia đình nông thôn, chơng
trình chủ yếu là tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức và hớng dẫn một
số kỹ thuật để ngời dân tự cải thiện điều kiện vệ sinh hộ gia đình, vệ sinh

sạch môi trờng. Một số nơi các thôn xóm tự quy định một nơi đổ rác và vận
động các gia đình tự mang rác đến đó. Một số địa phơng do yêu cầu quá cấp
bách nh Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội), Sao Đỏ (Hải Dơng) và thị xã Lạng
Sơn, một số nhân đứng ra thành lập tổ hoặc hợp tác xã dới sự bảo trợ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status