nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn Long An - Pdf 33

Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
CHƯƠNG 1-MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển hiện nay của hầu hết các nước phát triển và
các nước đang phát triển trên thế giới, phát triển bền vững được coi là chiến
lược hàng đầu, là mục tiêu cần đạt được trong các kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội. Và để đạt được điền này, các mô hình mới, các hình thức và công cụ
kinh tế mới, được áp dụng ngày càng rộng rãi và đa dạng hơn.
Với mục đích giảm lượng thải bỏ hoàn toàn bằng cách tăng lượng tái sử
dụng, phương pháp KÝ QUỸ HOÀN CHI được xem là một trong các công cụ
quản lý tiên tiến và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhất. Điều này đã được
chứng minh ở một số nước khác nhau trên toàn thế giới từng áp dụng thành
công phương pháp KÝ QUỸ HOÀN CHI này ở các ngành nghề khác nhau,
đối với những đối tượng khác nhau.
Là một nước có nền tảng là một nước nông nghiệp, đang trên con
đường phát triển Việt Nam cũng không nằm ngoài tư thế trên. Nhà nước đang
càng ngày càng khuyến khích việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, các phương
thức sản xuất cũng như quản lý mới vào hoạt động kinh tế. Và có thể xem KÝ
QUỸ HOÀN CHI là một trong các sự lựa chọn hiệu quả trong quá trình phát
triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Với đặc thù là một tỉnh có truyền thống nông nghiệp, Long An hiện nay
có sự thay đổi lớn trong đời sống của người dân khi bước vào thời kỳ phát
triển. Năng suất trồng trọt được nâng cao cùng với việc áp dụng ngày càng
nhiều biện pháp trồng trọt mới, các phương thức sản xuất mới. Tuy nhiên, bên
cạnh việc mang lại các lợi ích kinh tế không phải là không có các vấn đề nảy
sinh. Một trong các ảnh hưởng của tiến trình phát triển nông nghiệp đến sự
bền vững đó là việc sử dụng ngày càng nhiều lượng thuốc bảo vệ thực vật
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 1
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
trong quá trình canh tác của người dân. Ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến chất

thức cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua việc thu hồi, tái sử
dụng, tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế từ vỏ chai thuốc
BVTV đã qua sử dụng.
o Thúc đẩy chương trình phân loại rác tại nguồn ở Long An sớm đi
vào hoạt động.
1.3 Nội dung nghiên cứu
o Nghiên cứu hiện trạng và các bất cập trong quản lý chất thải rắn
trên đòa bàn tỉnh Long An.
o Nghiên cứu các tác động kinh tế-xã hội và môi trường của công
cụ KÝ QUỸ HOÀN CHI so với các công cụ quản lý chất thải rắn
khác và thực tế áp dụng trên thế giới.
o Nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của người dân khi áp dụng
công cụ KÝ QUỸ HOÀN CHI.
o Nghiên cứu các yếu tố tác động đến lượng chất thải (vỏ chai)
thuốc BVTV được thu hồi.
o Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hỗ trợ khi thực hiện chính sách
áp dụng công cụ KQHC đối với thuốc BVTV.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
o Đòa điểm nghiên cứu: 6 huyện trên đòa bàn tỉnh Long An bao gồm 2
huyện ở khu vực phía Nam (Bến Lức, Châu Thành) và 4 huyện
thuộc khu vực Đồng Tháp Mười (Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa,
Vónh Hưng)
o Thời gian nghiên cứu: từ ngày 1/9/2007 đến 10/12/2007
o Đối tượng nghiên cứu: người sử dụng các sản phẩm thuốc BVTV
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 3
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
1.5 Phương pháp nghiên cứu
o Tham khảo tài liệu: các số liệu thứ cấp được thu thập từ sách báo,
các số liệu thống kê, internet, từ tài liệu có sẵn của các ban ngành

ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Long An
2.1.1 Đặc điểm kinh tế
 Tăng trưởng và chuyển dòch cơ cấu kinh tế
Giai đoạn năm 2001 đến 2005 trên đòa bàn tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao. Thu nhập bình quân đầu người là 500 USD trong năm 2005, mức
độ tăng GDP trung bình là 9.4% (mục tiêu tăng từ 7% – 7.5%). GDP của các
khu vực tăng trưởng cao hơn so với mục tiêu đề ra cụ thể:
Khu vực Phát triển kinh tế Mục tiêu
Nông lâm ngư nghiệp 6.0% 4.5%
Xây dựng, công nghiệp 17.0% 12%-14%
Dòch vụ 8.5% 8%-9%
Cơ cấu kinh tế trên đòa bàn tỉnh: nông lâm ngư nghiệp 45.04%, xây
dựng và công nghiệp 25.32%, dòch vụ 29.64% (mục tiêu tương ứng là 43.7% -
23.3 -30.0%).
 Sản xuất công nghiệp
Thực hiện chính sách thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước sản xuất
công nghiệp đạt tốc độ phát triển cao trong 5 năm qua mức độ tăng trưởng
trung bình là 21.5%, trong nước 21.6%, nước ngoài 25.2%. Ưu thế là công
nghiệp chế biến (95.3%) sản phẫm chủ yếu là thực phẩm, đồ uống, các sản
phẩm bằng kim loại, da, giả da.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 5
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
 Sản xuất nông lâm, thuỷ sản
Diện tích nông nghiệp: 70-73% trên tổng diện tích đất. Diện tích cây
trồng giảm như: cây lương thực, cây công nghiệp, cây công nghiệp lâu năm,
chỉ có cây ăn quả có diện tích tăng khoảng 18% so với năm 2000.
Sản xuất nông lâm thuỷ sản tăng trưởng phát triển ổn đònh. Giá trò sản
xuất toàn nghành đạt mức tăng trưởng bình quân 6.1%. Giá trò sản xuất nông

2.1.2. Cơ cấu hạ tầng
 Phát triển giao thông vận tải, bưu chính viễn thông
Khối lượng luân chuyển đạt mức tăng trưởng 9.6% hành khách tăng
5.6%
Trong 5 năm qua tỉnh đã xây dựng 130 cây cầu trong đó cầu bê tông
cốt thép chiếm tỷ lệ 32%, 682 km đường trong đó đường nhựa 312km. Hệ
thống cầu và đường nhựa chưa được đồng bộ về tải trọng cầu có tải trong thấp
dẫn đến tình trạng hạn chế trong việc khai thác vận chuyển hàng hoá nhất là
các tuyến đường có khu công nghiệp.
Giao thông nông thôn trong những năm qua trở thành phong trào rộng
lớn kết hợp với nguồn vốn ngân sách nông nghiệp và đóng góp của nhân dân.
Hiện có 160/188 xã có đường ô tô đến trung tâm trong đó số xã có đường
nhựa là 53/188 xã.
Mạng lưới giao thông đường thuỷ không phát triển trong những năm qua
chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên chưa khai thác hết tiềm năng hiện có.
Bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc phát triển khá mạnh, những dòch
vụ mới được phát triển phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đời
sống dân cư. Số máy điện thoại cố đònh đạt 33,9 máy/100 dân.
 Hiện trạng cấp nước
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 7
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
Trữ lượng nước ngầm ở Long An không dồi dào và chất lượng nước
kém chủ yếu ở độ sâu trên 200m. nguồn nước sử dụng chủ yếu hiện nay là
nguồn nước mặt (sông, hồ) với nhà máy nước Tân An có công suất
37000m
3
/ngày đêm, cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt trên đòa bàn thò xã Tân
An và các vùng phụ cận. Ngoài ra, còn có một mạng lưới giếng khoang do
nguồn ngân sách nước ngoài Unicef đầu tư để cung cấp nước cho những nơi

phòng ốc.
Toàn tỉnh có 2.861 biên chế nhân viên y tế trong đó cán bộ đại học
chiếm 20,8% số xã có bác sỹ đạt tỷ lệ 76%, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh
hoặc y sỹ sản nhi, bình quân có 20,5 cán bộ y tế/1 vạn dân. Số bệnh nhân
điều trò với tỷ lệ 11 giường/1 vạn dân. Tuy nhiên còn một số huyện cơ sở
trang thiết bò còn lạc hậu chưa đồng bộ.
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên đòa bàn tỉnh Long An
2.2.1 Lượng chất thải rắn phát sinh
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm hội
nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Long An đang từng bước xây dựng
cho mình một nền công nghiệp phát triển đa dạng, chiếm một tỷ trọng ngày
càng cao trong cơ cấu GDP trên đia bàn. Do vậy, việc quản lý và xử lý chất
thải rắn cho các khu công nghiệp, khu đô thò và các vùng nông thôn là vô
cùng quan trọng. Xử lý chất thải ô nhiễm nói chung và chất thải rắn nói riêng
vừa là công việc trước mắt, vừa mang tính lâu dài trong sự nghiệp bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững.
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ước tính trên toàn tỉnh
trong những năm qua bao gồm:
- Năm 2001: 166 tấn/ngày.
- Năm 2002: 187 tấn/ngày.
- Năm 2003: 209 tấn/ngày.
- Năm 2004: 255 tấn/ngày.
- Năm 2005: 279 tấn/ngày.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 9
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
- Năm 2006: 305 tấn/ngày.
Ngoài chất thải rắn sinh hoạt năm 2006 Long An còn tiến hành điều tra
các loại chất thải rắn khác như:
Tổng lượng chất thải rắn y tế là 280 tấn/năm.

Ngoài ra, còn có các Doanh nghiệp đang trong giai đoạn xem xét và
chưa được cấp giấy phép như: Công Ty TNHH Giày Chinglud Việt Nam,
Công Ty TNHH 4-Organces.
Hiện nay trên đòa bàn tỉnh Long An chưa có đơn vò có chức năng làm
dòch vụ xử lý chất thải nguy hại. Các Doanh nghiệp đăng ký chất thải công
nghiệp nguy hại đã hợp đồng với Công Ty TNHH Sản Xuất - Dòch Vu ï-
Thương Mại Môi Trường Xanh của Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý.
 Chất thải rắn y tế
Hiện nay trên đòa bàn tỉnh chưa có đơn vò thu gom, phân loại và xử lý
chất thải y tế riêng biệt. Chất thải rắn y tế tại các Huyện, Thò được các Công
Ty Công Trình Công Cộng các huyện thu gom chung với các chất thải rắn
sinh hoạt và đổ lộ thiên ở các bãi rác tạp của các Huyện, Thò. Hiện tại tỉnh chỉ
có hai lò đốt chất thải y tế tại Bệnh Viện Đa Khoa Long An với công suất 20
kg/giờ và 35 kg/giờ.
b. Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
 Hiện trạng quy hoạch
Hiện nay trên đòa bàn chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà chỉ có
những điểm tập kết thu gom rác một cách tự phát và xử lý bằng cách đổ đống
lộ thiên. Những khu vực chứa chất thải rắn sinh hoạt trên đòa bàn tỉnh bao
gồm:
Bãi rác Lợi Bình Nhơn có diện tích 1.5 ha tại xã Lợi Bình Nhơn, Thò Xã
Tân An.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 11
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
Bãi rác Lương Hòa có diện tích 7.500 m
2
tại xã Lương Hòa, Huyện Bến
Lức
Bãi rác Đức Hòa Đông có diện tích là 2.000 m

Company (ASENCO) 100% vốn đầu tư nước ngoài, công suất 120 tấn/ngày.
 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt
- Thò Xã Tân An: lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại
Thò xã được thu gom và vận chuyển đến bãi rác Lợi Bình Nhơn cách trung
tâm Thò xã 3 km với khối lượng 35 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom khoảng 60%. Hiện
nay Công Ty Công Trình Công Cộng Thò Xã là đơn vò thực hiện thu gom rác
thải sinh hoạt bằng các xe ép rác 4 tấn và đem về tập trung đổ đống lộ thiên
mà không xử lý.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 12
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
- Huyện Bến Lức và Cần Giuộc: Công Ty Công Trình Công Cộng Huyện
Bến Lức thu gom chất thải rắn trên đòa bàn Huyện Bến Lức và Huyện Cần
Giuộc với khối lượng 30 tấn/ngày đem đổ tập trung tại bãi rác Lương Hòa,
huyện Bến Lức cũng không có biện pháp xử lý nào.
- Huyện Thủ Thừa: Công Ty Công Trình Công Cộng Huyện Thủ Thừa
thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên đòa bàn huyện với công suất 5 tấn/ngày
và đổ lộ thiên tại bãi rác Thò trấn tại Xã Bình Lương, Huyện Thủ Thừa.
- Huyện Đức Hòa: vào năm 2001 đến năm 2005, rác trên đòa bàn huyện
được thu gom và đổ tập trung tại xã Đức Hòa Đông, nhưng hiện nay Công Ty
Công Trình Công Cộng Huyện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên đòa bàn
huyện công suất 10 tấn/ngày và chuyển đến bãi rác Huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh. Chất thải rắn tại từ các khu công nghiệp cũng được thu gom
và đổ tại bãi rác Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các huyện khác, hiện nay tại các huyện trên đòa bàn tỉnh đều có các
đơn vò thu gom và vận chuyển rác về nơi tập trung. Tuy nhiên chỉ là các bãi
rác tạm chưa được xử lý. Riêng ở các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười, rác
được thu gom và đổ ngoài đê bao của thò trấn hoặc đổ vào các khu vực trước
đây là hầm khai thác đất.
Theo số liệu điều tra và thống kê tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt

chất thải rắn thải vào môi trường cũng như lượng chất thải rắn xử lý theo cách
chôn lấp truyền thống, đặc biệt là những hợp chất khó phân hủy ngoài môi
trường hay những loại chất thải có thành phần nguy hại cao. Giảm đáng kể
diện tích đất dành cho bãi chôn lấp trước tình hình quỹ đất ngày càng hạn hẹp
như hiện nay.
- Thúc đẩy phân loại chất thải tại nguồn, góp phần nâng cao hiệu quả
xử lý chất thải.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 14
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
- Góp phần sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 15
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
2.3 Hiện trạng sử dụng thải bỏ và xử lý vỏ chai thuốc BVTV sau khi sử
dụng
2.3.1 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV
Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên đòa bàn tỉnh có chiều hướng ngày
càng gia tăng với nhiều chủng loại khác nhau. Lượng thuốc BVTV cung ứng
cho sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh trung bình khoảng 400 – 450 tấn/năm.
Các chương trình khuyến nông, chương trình quản lý dòch hại IBM đã giúp
người nông dân nâng cao nhận thức. Phần lớn nông dân đã chuyển hướng sử
dụng thuốc trừ sâu ít độc hại đối với môi trường nhất là đối với sức khỏe
người trực tiếp sử dụng như các loại có nguồn gốc vi sinh (Defin,…).
Việc lưu trữ và bảo quản thuốc BVTV ở nông dân chưa được quan tâm
đúng mức. Đa số người dân mua các loại thuốc BVTV dự trữ tại nhà. Sau khi
sử dụng các vỏ chai, bao bì chứa thường vứt bỏ bừa bãi, chưa có các biện
pháp thu gom, tiêu hủy hoặc tái chế (thường vứt ngay bờ ruộng, kênh, rạch,…).
2.3.2 Đặc tính của thuốc BVTV
[GS.TS. Phạm Văn Biên; PGS.TS.Bùi Cách Tiến; KS. Nguyễn Mạnh

tương đối mau phân hủy trong môi trường và cơ thể người nên được dùng trừ
sâu cho rau, cây ăn quả và gia công thành các sản phẩm thuốc sát trùng.
 Các hợp chất Phoromone: là những chất tổng hợp có cấu tạo giống như
những chất do côn trùng tiết ra trong quá trình sinh trưởng và hoạt động.
Những chất này thường dùng dẫn dụ côn trùng đến tiêu diệt.
 Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng: là những chất làm rối loạn
quá trình sinh trưởng, phát triển của côn trùng, dẫn đến bò chết.
 Nhóm thuốc vi sinh: thành phần giết sâu trong thuốc là các vi sinh vật
(thường là nấm và vi khuẩn).
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 17
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
2.3.2.2 Thuốc trừ bệnh: gồm hai nhóm
 Nhóm thuốc vô cơ: chủ yếu là các nhóm hóa học như nhóm đồng,
nhóm lưu huỳnh, nhóm thủy ngân. Tác động chủ yếu của nhóm này là tiếp
xúc, phổ tác dụng rộng, một số trừ được vi khuẩn ( đồng, thủy ngân), trừ nhện
(lưu huỳnh). Độ độc cấp tính thấp nhưng chậm phân hủy trong môi trường và
cơ thể người.
- Nhóm thuốc hữu cơ: có nhiều nhóm hóa học khác nhau đang được sử
dụng, trong đó có các nhóm chính là: nhóm lân hữu cơ, nhóm carbamate,
nhóm Dithiocarbamate, nhóm Triazole.
- Nhóm Dicarboximit có các chất Captan, Folpet.
- Nhóm thuốc sinh học là chất chất kháng sinh được chiết suất trong quá
trình lên men của một số loài nấm nhóm Streptomeces như các chất
Kassugamycin ( Kasumin), Validamycin A ( Validacin).
Trong nhóm thuốc trừ bệnh hữu cơ có một số chỉ có tác động tiếp xúc
(Dithiocarbomate), một số có khả năng nội hấp mạnh (các nhóm carbamate,
trialzole, thuốc sinh học). Phần lớn các thuốc này đều ít hoặc rất ít độc hại với
người và môi trường.
2.3.2.3 Thuốc trừ cỏ

2.3.3 Hiện trạng xử lý chất thải (vỏ chai) thuốc BVTV và khả năng tái chế
Mặc dù là một loại chất thải rắn nguy hại nhưng hiện nay vỏ chai thuốc
BVTV sau khi đã sử dụng phần lớn vẫn chưa được thu gom và xử lý đúng
mức. Hầu hết các loại vỏ chai sau khi sử dụng đều được thải bỏ một cách bừa
bãi xuống ao, hồ, kênh rạch hoặc được đem đi chôn lấp ở các khu đất gần nhà
người sử dụng. Điều này khiến cho công tác xử lý chất thải gặp nhiều khó
khăn và gây ra những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 19
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
Một lượng rất nhỏ các loại vỏ chai thuốc BVTV có khả năng tái chế
được một số cá nhân và cơ sởõ thu gom đem bán cho các đầu mối thu gom phế
liệu và cơ sở tái chế. Hầu hết các cơ sở thu gom và tái chế này thuộc thành
phần kinh tế tư nhân, sản xuất nhỏ lẻ, hoạt động một cách tự phát và không
có sự kiểm soát chặt chẽ. Công nghệ tái chế cũ kó, lạc hậu, mặt bằng không
đảm bảo tạo nên những vấn đế ô nhiễm môi trường khác như nước thải, khói
thải và cũng chưa tận dụng được hết khả năng tái sinh tái chế của chất thải.
Thực tế vỏ chai thuốc BVTV là loại chất thải có khả năng tái chế cao.
Hầu hết, tất cả các vỏ chai thuốc BVTV đều có thể làm sạch, đem tái chế và
tiếp tục đưa vào chứa các sản phẩm thuốc BVTV.
Với khả năng như trên, nếu được sự quan tâm đầu tư và hỗ trợ đúng
mức, việc tái chế vỏ chai thuốc BVTV sẽ đem lại những lợi ích không nhỏ:
tiết kiệm việc sử dụng tài nguyên, tiết kiệm chi phí cho nhà sản xuất, giảm
bớt lượng chất thải đem chôn lấp, hạn chế ô nhiễm môi trường, đồng thời tạo
công ăn việc làm ổn đònh cho một số lượng lớn lao động trong ngành sản xuất
kinh doanh mới. Tuy nhiên vấn đề cần giải quyết trước mắt là làm sao có thể
thu gom chất thải một cách hiệu quả và triệt để.
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 20
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV

 Thúc đẩy quá trình tái sinh, tái sử dụng chất thải vào các mục đích có
lợi khác, hoặc quá trình tái chế các dòng phế liệu, từ đó làm giảm
tốc độ và số lượng khai thác tài nguyên đồng thời giảm chi phí
nguyên vật liệu cho các đơn vò sản xuất.
 Tạo công ăn việc làm cho những người thu gom và tái chế chất thải.
 Một cách lý thuyết, những hệ thống này là có hiệu quả vì chúng
không đòi hỏi giám sát và sự can thiệp của các cơ quan nhà nước.
Phần lớn việc quản lý thuộc về các khu vực tư nhân, tạo ra động lực
khuyến khích cho các bên thứ ba tham gia vào các dòch vụ thu gom,
tái chế hoặc tái sử dụng chất thải.
3.1.4 Đánh giá hiệu quả của hệ thống KQHC
Tính hiệu quả của hệ thống KQHC cần xem xét đến các yếu tố là kinh
tế (mức ký quỹ-hoàn chi phù hợp) và tỷ lệ chất thải thu gom (chất thải được
người tiêu dùng đem trả lại). Để đánh giá tính hiệu quả của chính sách KQHC
có thể dựa vào mức độ thay đổi trạng thái đối ứng của người tiêu dùng trong
việc trả lại sản phẩm sau sử dụng (%QR) theo mức từng ký quỹ-hoàn chi
(%DR). Mối tương quan giữa hai yếu tố này được thể hiện qua hệ số co giãn
El (Elasticity), được tính toán theo công thức (Nyasha Kaseke, 2003, trang
14):
%QR
El =
%DR
Trong đó: %QR là tỷ lệ biến thiên về lượng chất thải thu hồi và được
tính như sau:
/QR –QR
0
/
%QR =
QR
0

- 0 < El < 1 (khi % QR < %DR):Điều này có nghóa là mức độ gia tăng tỷ
lệ trả lại sản phẩm sau khi sử dụng so với gia tăng tỷ lệ hoàn chi/ký quỹ chưa
tương ứng. Trong trường hợp này, việc sử dụng công cụ KQHC để kích thích
tỷ lệ thu gom chất thải từ vỏ chai thuốc BVTV sau sử dụng gặp nhiều trở ngại.
Trên thực tế có thể có nhiều lý do ảnh hưởng nên El chỉ nằm trong
khoảng từ 0 đến dưới 1. Tuy nhiên những người hoạch đònh chính sách có thể
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 23
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
Nghiên cứu tính khả thi khi áp dụng hệ thống KQHC trên bao bì thuốc BVTV
lựa chọn giá trò El lớn nhất có thể đạt được đồng thời có giải pháp điều chỉnh
phù hợp trong quá trình thực hiện KQHC.
- El ≥ 1 (khi % QR ≥ % DR):Điều này có nghóa là mức độ gia tăng tỷ lệ
trả lại sản phẩm sau sử dụng nhanh hơn so với gia tăng tỷ lệ hoàn chi / ký
quỹ. Các cơ quan quản lý thường mong muốn và cố gắng đạt được trạng thái
co giãn này, khi đó việc áp dụng công cụ KQHC cho thấy là ảnh hưởng tốt lên
tỷ lệ thu gom phế phẩm, là cơ sở cho việc ra quyết đònh thực thi công cụ
KQHC trong tiến trình tìm kiếm giải pháp tái chế vỏ chai thuốc BVTV một
cách có hiệu quả nhất.
Hình 1.3 - Đồ thò thể hiện mối tương quan giữa biến thiên QR và biến
thiên DR( với mức ký quỹ cố đònh)
3.1.5 Những khó khăn trở ngại và các mục tiêu cần đạt được để thực hiện
hệ thống KQHC hiệu quả
a. Nếu giá ký quỹ cao, người tiêu dùng có thể không đủ khả năng tài
chính để mua sản phẩm và thực hiện ký quỹ. Điều này dẫn đến sức mua thò
trường giảm hoặc người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm thay thế, gây bất lợi
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 24
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên
QR
1
QR

phải đưa ra giá ký quỹ hợp lý dựa trên khả năng và mức sẵn lòng chi trả của
xã hội, phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng, đảm bảo sức mua hàng hóa
không giảm và đảm bảo thu gom hiệu quả các sản phẩm sau sử dụng.
b. Các yếu tố về nhận thức, ý thức của nhà sản xuất và người tiêu dùng
đối với vấn đề thu gom phế thải chưa cao, chưa hiểu rõ về hệ thống nên
không muốn tham gia. Do vậy, cần làm cho doanh nghiệp và người dân thấy
được sự cần thiết và lợi ích của công cụ KQHC trong việc bảo vệ Môi trường
để tự nguyện tham gia và thực thi chính sách.
c.Khả năng tổ chức, quản lý hệ thống thu gom còn nhiều bất cập. Chi phí
để quản lý các chương trình KQHC (Bao gồm các chi phí hành chính, các
phương tiện thu gom, tái chế và thải bỏ) rơi vào khu vực tư nhân. Cách đền bù
duy nhất là nâng cao giá, tác động đến thò trường cũng như nảy sinh nhiều vấn
đề tiêu cực. Do đó, để thiết lập phần lớn các hệ thống KQHC, cần phải có các
cơ cấu tổ chức mới để thu gom và điều hành việc tái chế các phế phẩm/ chất
thải, cũng như để quản lý các công việc tài chính; sự thống nhất và thực hiện
đồng bộ từ nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ và người tiêu dùng. Bên
cạnh đó, cần có sự ràng buộc đối với các đối tượng trên. Cũng phải yêu cầu
các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và đòa phương thiết lập nên hệ thống
này.
d. Việc phải trả lại tiền cho các chất ô nhiễm được trả lại, rất có khả năng
tạo ra sự khuyến khích đối với việc làm hàng giả nếu như không có các biện
pháp chế tài, kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, vấn đề về công nghệ tái chế
cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự hoạt động và thành công của hệ thống. Vì
GVHD: Th.S Vũ Thò Hồng Thủy 25
SVTH: Hoàng Thiện Phúc Nguyên

Trích đoạn Giải pháp thực th Chính sách bảo hộ mậu dịch đến với các sản phẩm tái chế Các giải pháp giáo dục tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status