TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa Thương Mại
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HOÁ
CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
NHÀ NƯỚC
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : Đỗ Năng Trọng
Lớp : Thương Mại B
Khoá : 47
GVHD : GS.TS Hoàng Đức Thân.
Hà Nội 2008
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp Nhà
nước
CPH Cổ phần hoá
CTCP Công ty cổ phần
SXKD Sản xuất kinh doanh
NSLĐ Năng suất lao động
NSNN
Ngân sách Nhà
nước
KTTT Kinh tế thị trường
TTCK
Thị trường chứng
khoán
XHCN Xã hội chủ nghĩa
TTGDCK
Trung tâm giao dịch
2.3.2. Vấn đề đặt ra.................................................................................28
2.3.3. Nguyên nhân của những khó khắn vướng mắc.............................33
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá các
doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội..............36
3.1. Phương hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước
ở Thành phố Hà Nội...........................................................................................36
3.1.1. CPH DN nhưng không được làm thất thoát tài sản của Nhà nước,
không ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh.............................36
3.1.2. Đảm bảo chính xác trong việc xác định giá trị còn lại của DNNN
khi tiến hành CPH.........................................................................37
3.1.3. Lựa chọn DN hoặc bộ phận DN và hình thức CPH phải đảm bảo
thực hiện được mục tiêu CPH.......................................................37
3.1.4. Lành mạnh hoá tình hình tài chính của DN trước khi tiến hành...37
3.1.5. Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện CPH..............38
3.1.6. Xác lập cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động...............38
3.2. Giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá các DN thương mại nhà nước ở
Thành phố Hà Nội...............................................................................................38
3.2.1. Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách và giải pháp đổi mới
DNNN...........................................................................................38
3.2.2. Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm, tạo tiền đề cho việc thực
hiện thành công chương trình CPH DNNN..................................39
3.2.3. Tích cực giải quyết các khoản nợ của DNNN thực hiện CPH......40
3.2.4. Hoàn thành việc xác định giá trị DN khi tiến hành CPH..............41
3.2.5. Đổi mới công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình CPH DNN43
3.3. Khắc phục những hạn chế sau cổ phần hoá doanh nghiệp thương mại
Nhà nước.............................................................................................................45
3.3.1. Tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động của DN cổ phần............45
3.3.2. Nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý và điều hành của DN cổ
phần...............................................................................................45
3.3.3. Một số giải pháp đối với cổ đông trong DN cổ phần....................46
CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
1.1 Quá trình phát triển doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.
1.1.1/ Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước.
DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, ra đời và hoạt động
kinh doanh độc lập chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
DNNN là một tổ chức kinh tế khác với tổ chức hành chính và tổ chức sự
nghiệp Nhà nước, không chỉ với hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích làm
chủ yếu. Điều cơ bản là DNNN phải chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu
quả, bảo toàn và phát triển vốn, các nguồn lực do Nhà nước là chủ sở hữu giao
cho DN.
1.1.2/ Quá trình phát triển doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.
1.1.2.1/ Quá trình hình thành và phát triển của DNNN trước đổi mới.
Trong thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng CNXH ở Việt Nam, các DNNN được
hình thành từ ba nguồn sau đây:
+ Nhà nước thực hiện chính sách quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất nằm
trong tay đế quốc, tư sản mại bản. Từ nền tảng vật chất đó Nhà nước tổ chức lại
thành các cơ sở kinh tế quốc doanh.
+ Nhà nước thực hiện cải tạo các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản
dân tộc, biến các xí nghiệp này thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và cuối
cùng thành các xí nghiệp quốc doanh.
+ Nhà nước đầu tư xây dựng thêm nhiều DNNN bằng các nguồn vốn
viện trợ của nước ngoài (Liên Xô cũ, Trung Quốc…) và bằng nguồn vốn NSNN.
Đây là con đường ra đời quan trọng nhất của các DNNN Việt Nam.
Trong khoảng thời gian trên 40 năm (1945 - 1986), hệ thống DNNN đã
trải qua các giai đoạn lớn:
* Giai đoạn 1945 - 1954:
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp các cơ sở công nghiệp được thành lập
theo quy mô nhỏ, phân tán bí mật. Công nghiệp quốc phòng phát triển với tốc độ
nhanh. Nhà nước đã thành lập các xưởng sản xuất vũ khí, cơ sở quân khu, quân
dược bảo đảm nhu cầu cơ bản cho quân đội. Đáng lưu ý là một số xưởng vũ khí
cổ phần. Đến cuối năm 1960, thành phần kinh tế tư bản tư doanh ở miền Bắc về
căn bản bị xoá bỏ. Các xí nghiệp công tư hợp doanh dần dần bị thu hẹp và hoà
nhập vào kinh tế quốc doanh.
Trong giai đoạn này, DNNN giữ vai trò chủ yếu như là một công cụ thực
hiện đường lối cải tạo XHCN. Ở nhiều nơi DNNN được xây dựng một cách tập
trung. Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá III) tháng 6 - 1962 đã đề ra phương hướng
công nghiệp hoá đất nước là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và đã hình
thành một số khu công nghiệp ở Hà Nội, Việt Trì, Vinh…DNNN phát triển mạnh
trong các ngành điện lực, cơ khí, hoá chất, khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó,
Nhà nước cũng gia sức phát triển ngành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp
nhẹ.
Ở giai đoạn này DNNN vẫn hoạt động trong chế độ Nhà nước cấp phát toàn
bộ vốn. Tuy nhiên, khác với trước là chuyển từ sản xuất phục vụ quốc phòng
sang sản xuất phục vụ đời sống nhân dân và xây dựng kinh tế.
Trong 10 năm tiếp theo, khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, hệ
thống DNNN ngoài nhiệm vụ sản xuất hàng hoá phục vụ hàng hoá phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng còn phải sản xuất hàng hoá quốc phòng phục vụ sự nghiệp đấu
tranh thống nhất đất nước.
DNNN hình thành và phát triển chủ yếu trong các ngành công nghiệp, tiếp
đến là thương mại, giao thông vận tải và dịch vụ bưu chính viễn thông.
Công nghiệp luôn được coi là lĩnh vực có vai trò quyết định nhất trong kinh
tế quốc doanh. Trong 12 ngành công nghiệp chủ yếu thuộc nhóm A và B, vai trò
của DNNN gần như chi phối tuyệt đối về số lượng DN, lực lượng lao động cũng
như giá trị tổng sản lượng. Những DNNN hình thành ngay từ đầu của giai đoạn
này và đồng thời là lực lượng kinh tế lớn mạnh nhất của nền kinh tế là: điện lực,
khai thác và chế biến nhiên liệu, luyện kim đen, luyện kim màu, cơ khí, hoá chất,
vật liệu xây dựng, khai thác, chế biến gỗ, thuỷ tinh, sành sứ, dệt, da, may,
nhuộm, thực phẩm, in và văn hoá phẩm. Trong những lĩnh vực này, hệ thống
DNNN giữ vai trò độc quyền.
* Giai đoạn 1976 - 1985:
thương mại và dịch vụ.
1.1.2.2/ Quá trình hình thành và phát triển của DNNN sau đổi mới.
* Giai đoạn 1994 - 1997:
Mục tiêu phát triển DNNN giai đoạn này là hình thành hệ thống DNNN và
nâng cao khả năng tích tụ, tập trung tiềm lực kinh tế cho các TCT và tiếp tục tiến
trình bước đầu thực hiện CPH. Đồng thời trong giai đoạn này, Nhà nước thực
hiện chủ trương CPH DNNN theo nghị định 28/CPH, ngày 7-5-1996 về chuyển
một số DNNN thành CTCP nhằm huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng và tài
sản ở các DN này.
Việc ban hành luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20-4-1995 đã quy
định rõ khái niệm về DNNN, phân định rõ DNNN hoạt động kinh doanh và
DNNN hoạt động công ích, nghĩa vụ của DNNN với Nhà nước, định hướng phát
triển khu vực DNNN, phân định quyền của DNNN.
Chuyển biến lớn nhất trong giai đoạn này là dựa trên cơ sở kết quả triển
khai thí điểm CPH trong giai đoạn trước thì đã có 25 DNNN chuyển thành
CTCP.
* Giai đoạn 1998 -2000:
Mục tiêu phát triển các DNNN trong giai đoạn này là: “sắp xếp DNNN theo
phương án tổng thể từng vùng, tổ chức lại TCT theo hướng thí điểm thành lập
tập đoàn kinh tế và thúc đẩy tiến trình chuyển đổi các hình thức sở hữu của
DNNN như đẩy mạnh CPH DNNN kết hợp phương án tổng thể sắp xếp DNNN,
thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê DNNN”.
Trong giai đoạn này các DNNN không được cấp vốn mà được giao vốn,
chuyển từ hình thức định mức vốn sang hình thức xác định vốn điều lệ. Theo đó
DNNN được quyền sử dụng vốn, thay đổi cơ cấu vốn nhằm đạt hiệu quả kinh
doanh, được quyền huy động vốn như phát hành trái phiếu, vay vốn, nhận vốn
góp…; được quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố, nhượng bán tài sản thuộc quyền
quản lý của DN để phục vụ cho kinh doanh. Tuy nhiên trong mọi trường hợp nếu
kinh doanh lỗ đều không được Nhà nước bù lỗ nữa mà phải lấy lợi nhuận của các
kỳ tiếp theo bù vào và để đảm bảo tính minh bạch DN phải công khai báo cáo tài
1.2.1.2/ Khái niệm CTCP.
Công ty cổ phần là loại hình DN góp vốn, trong đó số vốn điều lệ của công
ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ
chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông.
Ưu thế của CTCP so với các loại hình tổ chức kinh doanh khác , chủ yếu là
DN tư nhân, công ty TNHH thể hiện ở hai điểm chủ yếu sau:
+ Khả năng huy động các nguồn vốn khác nhau trong và ngoài nước vào
phát triển SXKD, từ những nguồn vốn nhỏ lẻ đến những nguồn vốn lớn.
+ Sự gắn kết chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quản lý, và quyền sử dụng tài
sản và vốn của DN. Vì quyền lợi thiết thực của mình, các cổ đông đều quan tâm
đến quá trình SXKD của công ty, đóng góp trí tuệ và công sức của mình vào sự
phát triển của công ty giúp công ty hoạt động có hiệu quả hơn.
1.2.2/ Mục tiêu của cổ phần hoá.
Về cơ bản, các mục tiêu hướng tới của tiến trình CPH ở hầu hết các nước
trên thế giới có thể được khái quát như sau:
+ Mục tiêu quan trọng nhất của CPH là xoá bỏ sự bao cấp của Nhà nước
đối với các DN, phát huy quyền tự chủ về SXKD và tài chính nhằm nâng cao
hiệu quả của nền kinh tế, củng cố và phát triển nền tảng cơ bản của KTTT.
+ Huy động tiềm năng về vốn trong xã hội để đầu tư phát triển nền kinh
tế. CPH được thực hiện nhằm khơi dậy và huy động tất cả các nguồn lực từ các
tầng lớp cư dân và mọi thành phần kinh tế khác nhau mới có thể hình thành
nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư và phát triển.
+ Đổi mới phương thức quản trị và điều hành DN, bố trí và sử dụng hợp
lý nguồn nhân lực, vật lực và khai thác tối đa tiềm năng của DN để nâng cao thu
nhập cho người lao động và đời sống xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế DN.
+ Điều chỉnh vai trò, vị trí và phương thức quản lý của Nhà nước từ trực
tiếp vận hành kinh doanh và quản lý hành chính sang lập kế hoạch vĩ mô và quản
lý thông qua pháp luật nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học và hiệu quả của
vấn đề quản lý Nhà nước về kinh tế và khắc phục những hiện tượng tiêu cực như
hành chính, tham nhũng, quan liêu của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và
hay chi nhánh được quyết định bán kết hợp với xác định tỷ trọng tham gia vốn
của tổng công ty vào các công ty con hay chi nhánh đó.
+ Bán tất cả giá trị vốn thuộc sở hữu Nhà nước của DN để cấu thành
CTCP. Đây là hình thức được coi là có mức độ CPH cao nhất vì sau khi CPH
Nhà nước không tham gia sở hữu đối với DN, tài sản của DNNN được bán hay
chuyển hoá hoàn toàn thành tài sản thuộc sở hữu của các chủ thể khác.
1.2.4. Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá DNNN.
CPH DNNN là một biện pháp thiết yếu trong công cuộc cải cách khu vực
kinh tế Nhà nước, xuất phát từ thực tiễn:
1.2.4.1/ Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các DNNN.
Trên thực tế các DNNN luôn luôn hoạt động kém hiệu quả hơn các DN
quốc doanh. Tình trạng kém hiệu quả này đã kéo dài trong nhiều năm liền. Theo
Báo cáo của DNNN (năm 2000) cho thấy: Tổng giá trị tài sản của DNNN theo sổ
sách kế toán là 517.654 tỷ đồng. Nợ phải thu là 187.091 tỷ đồng, chiếm 35.5%
giá trị tài sản của DN, gấp 1,43 lần vốn kinh doanh. Hàng hoá tồn kho là 45.688
tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng.
DN có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh, hệ số
vốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần. Tổng số nợ phải trả là
355.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn Nhà nước cấp, gấp 2 lần nợ phải thu trong đó
nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ.
Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các DNNN bắt nguồn từ bản thân
sở hữu Nhà nước cùng với sự điều tiết trực tiếp của Nhà nước ở các DN này:
Thứ nhất, Nhà nước duy trì hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cứng
nhắc không có tính thích ứng với cơ chế thị trường. Nguồn tài chính được phân
và sử dụng hoàn toàn theo kế hoạch duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi
linh hoạt. Điều này khiến cho các kế hoạch tài chính của DN không có động cơ
tiết kiệm, vì vậy không hợp lý hoá được sản xuất và giá thành sản phẩm luôn
phải cộng nhiều chi phí so với các DN tư nhân.
Thứ hai, quyền tự chủ trong quản lý và hoạt động SXKD của các DNNN
được thừa nhận khá rộng rãi, nhưng không có sự phân biệt đầy đủ giữa quyền sở
chúng vào NSNN. Trên thực tế, các nguồn tài chính có thể được Chính phủ huy
động và vay nợ để trang trải thâm hụt ngân sách ngày càng suy giảm đã làm bộc
lộ sự yếu kém của các DNNN và việc đánh giá lại vai trò của khu vực kinh tế
này ngày càng trở nên cấp bách. Vấn đề CPH đã được WB và IMF đặt ra như
một biện pháp quan trọng để giảm thâm hụt ngân sách và hạn chế các khoản nợ
nước ngoài ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
1.2.4.3/ Sự thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường.
Vấn đề đa dạng hoá sở hữu được đặt ra và thực hiện là do có sự thay đổi
nhận thức từ chỗ nhẫn mạnh vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước đến chỗ chú
trọng nhiều hơn vào khu vực kinh tế tư nhân và vai trò điều tiết của cơ chế thị
trường. Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép xã hội nhận thức ngày
càng rõ hơn rằng bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nước, các hình thức sở hữu
khác cũng cần được tạo điều kiện tồn tại thuận lợi, cũng phát huy vai trò tích cực
trong nền kinh tế. Đây là một bước phát triển mới về nhận thức đối với nền kinh
tế thị trường hỗn hợp, trong đó vai trò Nhà nước được coi như một biến cố của
sự phát triển kinh tế - nó chỉ có tác dụng thúc đẩy khi sự can thiệp và điều tiết ở
mức độ hợp lý dựa trên sự tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường.
1.3 Quy trình thực hiện CPH các doanh nghiệp thương mại Nhà nước.
Quy trình CPH mới nhất được ban hành kèm theo Thông tư số 126/2004/TT
- BTC (Hướng dẫn thi hành Nghị định 187/2004/NĐ - CP về chuyển DN nhà
nước thành CTCP) gồm các bước sau:
Bước 1: Xây dựng phương án cổ phần hoá.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban chỉ
đạo CPH đồng thời với quyết định CPH DN. Tiếp đó, Trưởng ban chỉ đạo lựa
chọn và lập ra Tổ giúp việc CPH. Trong thời hạn tối đa 10 ngày, Ban chỉ đạo, Tổ
giúp việc cùng DN tiến hành lựa chọn thời điểm, phương pháp xác định giá trị
DN phù hợp với điều kiện của DN và chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên quan bao
gồm:
- Các hồ sơ pháp lý về thành lập DN.
- Phương án sắp xếp lại lao động sau CPH.
- Phương án hoạt động SXKD trong 3-5 năm tiếp theo.
- Phương án CPH, bao gồm: hình thức tiến hành CPH, vốn điều lệ và dự
kiến cơ cấu vốn điều lệ, phương thức phát hành cổ phiếu.
- Dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CTCP.
Sau khi xây dựng phương án CPH, Tổ giúp việc và DN tổ chức đại hội công
nhân viên chức (bất thường) dể lấy ý kiến hoàn thiện phương án CPH, phối hợp
với các tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện phương án CPH và trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt. Trong thời gian không quá 5 ngày, cơ quan quyết định
CPH DN xem xét và phê duyệt phương án CPH.
Bước 2: Tổ chức bán cổ phần.
Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định.
Đối với trường hợp bán đấu giá trực tiếp tại DN: Tổ chức bán đấu giá cổ
phần cho nhà đầu tư, đồng thời xác định giá đấu thành công bình quân để bán cổ
phần cho người lao động và nhà đầu tư chiến lược.
Đối với trường hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian: Ban chỉ đạo
lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho DN ký hợp đồng, cùng DN phối
hợp với tổ chức tài chính trung gian đó thực hiện bán cổ phần cho người lao
động, nhà đầu tư chiến lược và cho những nhà đầu tư khác theo quy định.
Đối với trường hợp bán cổ phần tại TTGDCK: Ban chỉ đạo CPH đăng kí
trực tiếp hoặc thuê tổ chức trung gian đăng kí và phối hợp với trung tâm giao
dịch để bán cổ phần. Nếu đăng kí trực tiếp, ban chỉ đạo CPH phải nộp đơn đăng
kí và các tài liệu liên quan, phối hợp để tổ chức phát hành cổ phiếu và phải thực
hiện bán cổ phần cho người lao động và nhà đầu tư chiến lược.
Tổng hợp kết quả bán cổ phần, báo cáo cơ quan ra quyết định CPH, cơ quan
này sẽ tiến hành điều chỉnh quy mô, cơ cấu cổ phần của DN đối với trường hợp
không bán cổ phần cho các đối tượng theo đúng phương án CPH được duyệt.
Bước 3: Hoàn tất việc chuyển DN thành CTCP.
Ban chỉ đạo CPH, tổ giúp việc và DN tổ chức đại hội đồng cổ đông lần thứ
nhất để thông qua điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án SXKD, bầu ra hội
triển. Thủ tướng lấy ví dụ: Chi phí vận chuyển công ten nơ từ khu công nghiệp
Bình Dương đến cảng Vũng Tàu còn cao hơn từ Vũng Tàu đi Singapore.
Bảng 2.1: Thực trạng về NSLĐ và vòng quay trung bình của vốn
của các DN trước CPH
TT Chỉ tiêu DNNN DN ngoài quốc doanh
1 NSLĐ 38% 100%
2 Vòng quay trung bình của vốn 60% 100%
Nguồn:
Bảng 2.2 Thực trạng về Thuế thu nhập DNNN trước CPH
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế Tỷ lệ
Số tiền phải nộp ngân sách 87.000 tỷ đồng 8.000 tỷ đồng 9,19%
Số tiền phải thu, phải trả 300.000 tỷ đồng 41.000 tỷ đồng 13,66%
Nguồn:
Chính vì sự yếu kém của các DNNN và không đảm nhiệm được việc giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế nên CPH DNNN là tất yếu khách quan và cũng
chính là chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta.
2.1.2 Nhà nước bảo hộ quá sâu đối với DNNN.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa về thị trường sản phẩm và thị
trường vốn, hàng loạt các ngành công nghiệp đã trở nên ngày càng khó khăn hơn
và không còn giải pháp nào khác và hợp tác quốc tế để giải quyết những khó
khăn đó. Đồng thời, việc phát triển các ngành công nghiệp, phát triển sản xuất và
những vấn đề liên quan đến sản xuất của các DNNN đều do Nhà nước quyết
định hoặc lãnh đạo DNNN quyết định đã phần nào gặp trở ngại trong môi trường
mới đòi hỏi phải có các quyết định nhanh và kịp thời trong nền KTTT.
2.1.3 Nhà nước can thiệp và làm thay DN trong chức năng quản lý SXKD.
Cho dù trong bất kỳ nền kinh tế nào thì sự quản lý của Nhà nước đóng vai
trò rất quan trọng, nó giúp cho thị trường vận hành trong một giới hạn nhất định
và bình ổn thị trường đó.
Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các quy phạm pháp luật, các cơ chế
chính sách, bằng việc thành lập các cơ quan được giao đặc trách việc điều tiết,