Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty Bia Việt Hà - Pdf 10

Lời mở đầu
ất nớc ta đang trên đà hội nhập phát triển cùng thế giới, đời sống
nhân dân ngày càng nâng cao, nhu cầu về cuộc sống càng trở nên
phong phú và đa dạng hơn. Uống không chỉ đơn thuần là nhu cầu
sinh lý giải quyết cơn khát của con ngời mà nó còn là nhu cầu gắn liền với
đời sống tình cảm của con ngời. Trong các loại đố uống thì Bia hơi là loại đồ
uống bình dân đợc đông đảo mọi ngời tiêu dùng a chuộng.
Đ
Hiện nay ngành Bia là một trong những ngành kinh doanh đem lại lợi
nhuận tơng đối cao, do đó nhiều cơ sở địa phơng đã thành lập những nhà máy
nhằm đa sản phẩm ra thị trờng phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng.
Tuy nhiên, các nhà kinh doanh nói chung và các nhà kinh doanh sản phẩm
bia nói riêng đang phải đối mặt với những biến động không ngừng của môi
trờng kinh doanh. Để đạt đợc các mục tiêu trong môi trờng kinh doanh luôn
biến động này các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực nh: nguồn lực về vốn, về con ngời, không ngừng tổ chức cơ cấu lại
bộ máy hoạt động.....Thực chất những việc này là doanh nghiệp thực hiện
hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là thớc đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất
và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự
thành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất
Bia nh Công ty Bia Việt Hà nói riêng. Để khai thác triệt để các nguồn lực
khan hiếm nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của xã hội,
các Công ty, các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiến
hành đánh giá các kết quả đã thực hiện và đa ra các giải pháp, biện pháp để
nâng cao hơn nữa hiệu quả.
Vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn đợc ban lãnh đạo Công ty Bia Việt
Hà quan tâm xem đây là thớc đo và công cụ thực hiện mục tiêu kinh doanh
tại Công ty. Với những kiến thực thu đợc trong quá trình học tập và xuất phát
từ thực tế của Công ty Bia Việt Hà em nhận thấy vấn đề nâng cao hiệu quả
1

nhau mà có ý kiến trái ngợc nhau về hiệu quả kinh doanh.
Trong xã hội t bản, giai cấp t bản nắm quyền sở hữu t liệu sản xuất, do đó
quyền lợi về kinh tế chính trị đều u tiên cho nhà t bản. Chính vì thế việc phấn đấu
tăng hiệu quả kinh doanh thực chất là đem lại lợi nhuận và nâng cao đời sống của
các nhà t bản (có thể đời sống của ngời lao động ngày càng thấp đi). Nhà kinh tế
học ngời Anh Adam Smith cho rằng: Hiệu quả là kết quả đạt đợc trong hoạt
động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá, và nhà kinh tế học ngời Pháp
Ogiephri cũng quan niệm nh vậy. ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh
kết quả kinh doanh. Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả kinh doanh có
thể tăng do tăng chi phí mở rộng các nguồn sản xuất. Nếu cùng một kết quả có
hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng cùng có hiệu quả. Quan
điểm này phản ánh t tởng trọng thơng.
Quan niệm thứ hai cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ
giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan niệm
này đã biểu hiện đợc quan hệ so sánh tơng đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí
tiêu hao. Tuy nhiên xét trên quan điểm Mác - Lênin thì sự vật hiện tợng đều
có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại
một cách riêng lẻ. Hơn nữa kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố
tăng thêm có sự liên kết mật thiết với yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián
tiếp tác động lên quá trình kinh doanh và làm kết quả kinh doanh thay đổi.
Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét đến phần bổ sung
và chi phí bổ sung, nó mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đáp chi phí
bỏ ra cho quá trình kinh doanh tăng thêm.
3
Quan niệm thứ ba cho rằng: Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu
quả kinh doanh là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết
quả đó. Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất
với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào
trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. Đây là quan
niệm khá phổ biến đợc rất nhiều ngời thừa nhận. Quan niệm này gắn kết quả

sản xuất để đạt đợc mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh doanh - mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận.
4
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả
cao nhất với chi phí thấp nhất.
Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc thực hiện hàng loạt
các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ và có tính liên tục tại
doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều khâu
với các mối liên hệ, tác động qua lại mang tính chất quyết định và hỗ trợ
cùng nhau thực hiện mục tiêu tổng thể của hoạt động kinh doanh. Nâng cao
hoạt động của tất cả các khâu trong kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm trong
công tác tổ chức điều hành hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào.
Xét theo nghĩa rộng hơn thì hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất
lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả. Chính vì khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng
chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội,
đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để
đạt đợc mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều
kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của yếu tố sản xuất và tiết kiệm
mọi chi phí.
Bên cạch đó cần hiểu phạm trù hiệu quả một cách toàn diện trên cả hai
mặt định lợng và định tính. Về mặt định lợng, hiệu quả kinh doanh biểu hiện
ở mối tơng quan giữa kết quả thu đợc và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lợng
thì kinh doanh chỉ đạt hiệu quả khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này
càng lớn hiệu quả kinh doanh càng cao và ngợc lại.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh cao phản ánh sự cố gắng, lỗ
lực, trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh
doanh.

phí vô hình. Xác định chi phí vô hình thờng mang tính ớc đoán, chúng ta
không thể xác định chính xác chi phí vô hình trong một thơng vụ kinh doanh.
Chi phí vô hình là một cản trở lớn cho các không chỉ doanh nghiệp mà còn cả
nền kinh tế quốc dân trong xác định đợc chính xác chi phí bỏ ra.
Cũng chính vì việc xác định kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh
khó khăn mà dẫn tới khó xác định hiệu quả kinh doanh. Hơn nữa, điều này
cũng dẫn đến tình trạng hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh
doanh dài hạn không phù hợp với nhau, đôi khi là mâu thuẫn. Chẳng hạn
doanh nghiệp chú trọng vào các mục tiêu trớc mắt mà bỏ qua các đoạn thị tr-
ờng, bạn hàng truyền thống, về ngắn hạn có thể đem lại hiệu quả kinh doanh
cao cho các doanh nghiệp. Nhng về dài hạn có thể đem lại hiệu quả xấu.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh.
Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, nó là
phơng cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà mình
đạt đợc và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lợc, kế hoạch hoạt
động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả đợc biểu
hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trng và ý nghĩa cụ
thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác
nhau có tác dụng thiết thực trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt
động của doanh nghiệp.
2.1 Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
6
Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu đợc từ hoạt động kinh doanh của từng
doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lợng
thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh tế quốc dân đợc
tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thăng d, thu nhập
quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nớc thu đợc trong mỗi thời kỳ so
với lợng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.
Trong việc thực hiện cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
không những cần tính toán và đạt đợc hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của

của các phơng án với nhau.
Cách phân loại này đợc sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong việc
thực hiện thẩm định các dự án mới đầu t, với các doanh nghiệp đi vào hoạt
động thì chỉ tiêu hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ
tiêu hiệu quả tuyệt đối trong hai mốc thời gian khác nhau.
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh
doanh đối với doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với
thị trờng nhất là trong một nền kinh tế mở. Do vậy mà để thấy đợc vai trò của
nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế trớc hết
chúng ta xem xét cơ chế thị trờng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong thị trờng.
Thị trờng là nơi diễn ra quá trình trao đổi, điều tiết và lu thông hàng
hoá. Nó tồn tại một cách khách quan và gắn liền với lịch sử phát triển của
nền sản xuất hàng hoá. Thông qua thị trờng các doanh nghiệp có thể nhận
biết đợc sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trờng.
Trên thị trờng luôn tồn tại các quy luật vận độngcủa hàng hoá giá cả và tiền
tệ.... nh các quy luật giá trị, quy luật giá cả, quy luật lu thông, quy luật cạnh
tranh.... Các quy luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này
chính là linh hồn của cơ chế thị trờng. Dới hình thức các quan hệ mua bán
hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng cơ chế thị trờng tác động đến việc điều tiết
sản xuất, tiêu dùng, đầu t và từ đó làm thay đổi cơ cấu sản phẩm cơ cấu
ngành....Nói cách khác, cơ chế thị trờng điều tiết quá trình phân phối, phân
phối lại các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một
cách tối u.
Sự vận động đa dạng, linh hoạt của cơ chế thị trờng dẫn đến sự biểu
hiện gần đúng nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu đó của thị trờng, hay thị trờng
là nơi phát ra các tín hiệu về cung, cầu, giá cả điều tiết các thành viên của nó
hoạt động theo các quy luật vốn có. Tuy nhiên điều này không phải là tuyệt
đối, thị trờng cũng biểu hiện rất nhiều các khuyết tật mà nó không tự khắc

nghiệp lại càng khốc liệt hơn, đó là sự cạnh trạnh về chất lợng, gía cả, các
dịch vụ hậu mãi....Với mục tiêu là phát triển, thì cạnh tranh là một nhân tố
làm doanh nghiệp mạnh lên và cũng là nhân tố làm doanh nghiệp thất bại. Do
vậy, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp đều phải chiến thắng trong cạnh
tranh. Để thực hiện điều này thì tất yếu doanh nghiệp phải nâng cao chất lợng
hàng hoá dịch vụ với giá cả hợp lý. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh đồng
nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lợng, chất lợng hàng bán....và là hạt
nhân cơ bản của sự thắng lợi trong cạnh tranh. Và các doanh nghiệp cạnh
tranh nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh
9
Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lợng tổng
hợp, nó liên quan tới tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó
chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau.
Muốn đa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trớc hết
doanh nghiệp phải xác định đợc nhân tố nào tác động đến kinh doanh và tác
động đến hiệu quả kinh doanh, nếu không làm đợc điều này thì doanh nghiệp
không thể biết đợc hiệu quả hình thành từ đâu và cái gì sẽ quyết định nó. Xác
định nhân tố ảnh hởng, ảnh hởng nh thế nào và mức độ, xu hớng tác động là
nhiệm vụ của bất cứ nhà kinh doanh nào.
Nói đến nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh có rất nhiều, nhng
chúng ta có thể chia làm hai nhóm chính: nhân tố thuộc về doanh nghiệp và
nhân tố ngoài doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải có biện
pháp tác động lên các yếu tố một cách hợp lý, có hiệu quả, làm cho doanh
nghiệp ngày càng phát triển tốt hơn, phát huy tốt hơn các nhân tố tích cực và
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn hoạt động đợc thì nó phải có một hệ thống cơ
sở vật chất, con ngời, đây chính là nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp.

cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiếu hoá chi phí cho một mục tiêu nhất định
nào đó. Trong kinh doanh không thể thiếu khái niệm chi phí khi muốn có
hiệu quả. Vì vậy mà vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận, đạt đợc mục đích
cuối cùng của nhà kinh doanh.
Thiếu vốn cho kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả do không tận dụng đ-
ợc lợi thế quy mô, không tận dụng đợc các thời cơ, cơ hội. Tuy nhiên, thiếu
vốn là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn luôn gặp phải. Đứng trên góc độ của
nhà kinh doanh thì cách thức giải quyết sẽ là tối đa hoá lợi ích trên cơ sở số
vốn hiện có.
1.2 Bộ máy tổ chức, quản lý và lao động
Con ngời là khởi nguồn của mọi hoạt động có ý thức. Hoạt động kinh
doanh đợc bắt đầu là do con ngời, tổ chức thực hiện nó cũng chính do con
ngời. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện kinh
doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng tạo thì nhân tố con ngời đ-
ợc đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát triển. Kết hợp với hệ thống t liệu
sản xuất con ngời đã hình thành lên quá trình sản xuất. Sự hoàn thiện của
nhân tố con ngời sẽ từng bớc hoàn thiện quá trình sản xuất và xác lập hiệu
quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài sự phân
công lao động sẽ lại là một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh, khắc phục
điều này chính là nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của của các cấp lãnh
đạo xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện
một hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức, quản lý có hiệu
quả là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Sự kết hợp yếu tố
sản xuất không phải là tự phát nh quá trình tự nhiên mà là kết quả của hoạt
động có tổ chức, có kế hoạch, có điều khiển của con ngời, vì vậy hình thành
bộ máy tổ chức có hiệu quả là một đòi hỏi để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
11
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu sản xuất phù hợp và
thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một cơ cấu hợp hợp lý còn

Việc doanh nghiệp sử dụng các hình thức trách nhiệm vật chất, thởng
phạt nghiêm minh sẽ tạo ra động lực cho ngời lao động nỗ lực hơn trong phần
trách nhiệm của mình, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhân tố này
cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa tiềm năng lao động, tạo điều kiện cho
mọi ngời, mọi bộ phận phát huy đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong sản
xuất và kinh doanh.
12
2. Những nhân tố ngoài doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố thuộc doanh nghiệp thì hệ thống nhân tố ngoài
doanh nghiệp cũng ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1 Thị trờng
Thị trờng là tổng hợp các thoả thuận thông qua đó ngời mua và ngời
bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Chức năng cơ bản của thị trờng là ấn định
giá cả đảm bảo sao cho số lợng mà những ngời muốn mua bằng số lợng của
những ngời muốn bán. Thị trờng đợc cấu thành bởi ngời bán, ngời mua, hàng
hoá và hệ thống quy luật thị trờng.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng thì tất
yếu phải chịu sự tác động và tuân theo các quy luật của thị trờng, việc thực
hiện ngợc lại các quy luật tất yếu sẽ bị đào thải. Thị trờng tác động đến kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua các nhân tố sau:
Cầu về hàng hoá
Cầu về hàng hoá là số lợng hàng hoá dịch vụ mà ngời mua muốn mua
và sẵn sàng mua tại những mức giá cụ thể. Cầu là một bộ phận cấu thành lên
thị trờng, nó là lợng hàng hoá tối đa mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại một
thời điểm tại một mức giá nhất định. Khi cầu thị trờng về hàng hoá của
doanh nghiệp tăng thì lợng tiêu thụ tăng lên, giá trị đợc thực hiện nhiều hơn,
quy mô sản xuất mở rộng và doanh nghiệp đạt đợc lợi nhuận ngày một tăng.
Chỉ có cầu thị trờng thì hiệu quả kinh doanh mới đợc thực hiện, thiếu cầu thị
trờng thì sản xuất sẽ luôn trong tình trạng trì trệ, sản phẩm luôn tồn trong

Giá mua vào: có vai trò quan trọng, ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh. Nó cần đợc xác định trên cơ sở của dự đoán thị trờng và giá bán có
thể. Giá mua vào càng thấp càng tốt và để đạt đợc giá mua vào thấp, doanh
nghiệp cần phải tìm kiếm thị trờng, lựa chọn mua ở thị trờng nào và mua của
ai. Doanh nghiệp càng có mối quan hệ rộng, có nhiều ngời cung cấp sẽ cho
phép khảo giá đợc ở nhiều nơi và lựa chọn mức giá thấp nhất.
Giá bán ra: ảnh hởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nó đợc xác định
bằng sự thoả thuận của ngời mua và ngời bán thông qua quan hệ cung cầu.
Để đạt đợc hiệu quả kinh doanh thì giá bán phải đảm bảo lớn hơn giá thành
sản xuất cộng với chi phí lu thông. Do vậy để đạt hiệu quả kinh doanh phải
dự báo giá cả và thị trờng.
Cạnh tranh
Tình hình cạnh tranh trên thị trờng có ảnh hởng lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh càng gay gắt có nghĩa là doanh
nghiệp càng phải khó khăn và vất vả để tồn tại và phát triển. Ngoài ra cạnh
tranh còn dẫn đến giảm giá bán, ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh trở lên khó khăn. Vì giờ đây doanh nghiệp phải nâng cao chất
lợng sản phẩm giảm giá thành, tổ chức lại bộ máy kinh doanh phù hợp.... để
bù đằp những mất mát cho công ty về giá cả, chiến lợc, mẫu mã.
1.2 Tập quán dân c và mức độ thu nhập bình quân
14
Đây là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nó quyết định mức độ chất lợng, số lợng, chủng loại, gam hàng.... Doanh
nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu để làm sao phù hợp với sức mua, thói
quen tiêu dùng ở mức giá cả chấp nhận đợc. Bởi những yếu tố này tác động
một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất kinh doanh cũng nh hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.3 Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng
Đây là giá trị vô hình của doanh nghiệp, nó tác động đến sự thành bại

đoán về chính trị và luật pháp cùng xu hớng vận động của nó, bao gồm:
- Sự ổn định về chính trị và đờng lối ngoại giao.
- Sự điều tiết và khuynh hớng can thiệp của chính phủ.
- Sự phát triển và quyết định bảo vệ ngời tiêu dùng.
- Hệ thống luật, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành.
1.6 Điều kiện tự nhiên
Môi trờng tự nhiên gồm các nhân tố:
Nhân tố thời tiết khí hậu, mùa vụ: nhân tố này ảnh hởng rất lớn đến
quy trình, tiến độ kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là doanh
nghiệp kinh doanh các mặt hàng đố uống giải khát, hàng nông sản, thuỷ hải
sản....Với những điều kiện thời tiết, khí hậu và mùa vụ nhất định thì các
doanh nghiệp phải có chính sách cụ thể phụ hợp với điều kiện đó. Và khi yếu
tố này không ổn định sẽ làm mất ổn định hoạt động kinh doanh và ảnh hởng
trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh.
Nhân tố tài nguyên thiên nhiên: nhân tố này chủ yếu ảnh hởng đến các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một
khu vực có nhiều tài nguyên với trữ lợng lớn và có chất lợng tốt sẽ ảnh hởng
và tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khai thác. Ngoài ra,
các doanh nghiệp sản xuất nằm trong khu vực này mà có nhu cầu đến tài
nguyên, nguyên vật liệu cũng có ảnh hởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Nhân tố vị trí địa lý: đây là nhân tố không chỉ tác động đến lợi thế của
doanh nghiệp mà còn tác động đến các mặt khác trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp nh: Giao dịch vận chuyển, sản xuất....các mặt này cũng tác
động đến hiệu quả kinh doanh bởi sự tác động lên các chi phí tơng ứng.
IV. Phơng pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh
1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh trong các
doanh nghiệp
1.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp

Zu : chi phí S.P hỏng
17
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Chỉ tiêu Công thức xác
định
í nghĩa
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp
- Lợi nhuận TR TC Phản ánh số tiền lãi của Công ty
- Doanh thu trên một
đồng chi phí sản xuất
TR
----------
TC
Bỏ ra một đồng chi phí chúng ta thu mấy
đồng đợc mấy đồng doanh thu
- Doanh thu trên một
đồng vốn sản xuất
TR
----------
M
Bỏ ra một đồng vốn đầu t vào sản xuất ta
thu đợc mấy đồng doanh thu
- Doanh lợi theo chi
phí

----------
TC
Doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí thì
lãi mấy đồng
- Doanh lợi theo vốn

L
Số khoản tiền lãi mà một công nhân đem
lại cho doanh nghiệp
18
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Sức sản xuất của vốn
cố định
TR
----------
MF
Bỏ ra một đồng vốn cố định thì thu đợc
mấy đồng doanh thu
- Sức sinh lợi của vốn
cố định

----------
MF
Đầu t một đồng vốn cố định cho ta khoản
lãi là bao nhiêu
- Hệ số hao mòn TSCĐ D
----------
V
Khả năng thu hồi giá trị áy móc thiết bị
đã đầu t
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động
- Sức sinh lợi của vốn
lu động

----------
MV

19
- Khả năng thanh toán
ngắn hạn
MV
----------
BS
Khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn
của Công ty bằng tài sản lu động
- Khả năng thanh toán
nhanh
MV SQ
----------
BS
Khả năng chi trả nhanh của Công ty với
các khoản nợ ngắn hạn
- Khả năng thanh toán
tức thời
MM
----------
BS
Khả năng tra ngay tức thì các khoản nợ
ngắn hạn của Công ty
- Hệ số quay kho TR
----------
SQ
- Vốn lu động bình
quân tháng
MV
1
+ MV

i
*P
1
Phản ánh mức độ phẩm chất bình quân
của các sản phẩm mà Công ty cung cấp
20
- Chỉ tiêu thẩm mỹ Đặc trng cho sự truyền cảm hấp dẫn của sản phẩm
- Chỉ tiêu công nghệ Đặc trng cho quá trình chế tạo đảm bảo tiết kiệm lớn nhất
chi phí
- Chỉ tiêu về sinh thái Đặc trng cho độ độc hại của sản phẩm khi tác động lên
môi trờng
2. Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp
Trong thực tiễn không phải ai cũng hiểu biết và quan niệm giống nhau
về hiệu quả kinh doanh và chính những điều này làm triệt tiêu những cố
gắng, nỗ lực của họ mặc dù ai cũng muốn làm tăng hiệu quả. Nh vậy khi dề
cập đến hiệu quả kinh doanh chúng ta phải xem xét một cách toàn diện cả về
mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội.
2.1 Về mặt thời gian
Sự toàn diện của hiệu quả đạt đợc trong từng giai đoạn không đợc làm
giảm hiệu quả khi xét trong dài hạn, hoặc hiệu quả của chu kỳ sản xuất trớc
không đợc làm hạ thấp hiệu quả của chu kỳ sau. Trong thực tế không ít trờng
hợp chỉ thấy lợi ích trớc mắt, thiếu xem xét toàn diện lâu dài. Vấn đề này
đang tồn tại ở khá nhiều doanh nghiệp và trong đội ngũ cán bộ quản lý của
doanh nghiệp. Nghiên cứu và xem xét hiệu quả và nâng cao hiệu quả kinh
doanh về mặt thời gian là việc không thể thiếu nhằm để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển.
2.2 Về mặt không gian

nhân mà chúng ta phải xem xét lựa chọn phơng cách để đạt đợc kết quả lớn
nhất. Điều này cũng minh hoạ cho sự khác biệt giữ hai khái niệm hiệu quả và
kết quả
2.5 Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào cả mặt hiện
vật và mặt giá trị của hàng hoá
Mặt hiện vật của hàng hoá thể hiện ở số lợng sản phẩm, chất lợng sản
phẩm, mặt giá trị là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá sản phẩm, của kết quả
và chi phí bỏ ra. Xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cả hai mặt là
một tất yếu. Đứng trên giác độ mặt hiện vật nó cho biết khả năng cung cấp và
thoả mãn nhu cầu thị trờng của doanh nghiệp, đứng trên giác độ mặt giá trị
nó cho biết hiệu quả đích thực của kinh doanh.
22
Chơng 2
Phân tích đánh giá hiệu quả kinh doanh
ở Công ty Bia Việt Hà
I. Vài nét về Công ty Bia Việt Hà
Quá trình hình thành và phát triển của công ty Bia Việt Hà
Công ty Bia Việt Hà là một doanh nghiệp Nhà nớc, đợc thành lập và
hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nớc của nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Trụ sở của Công ty bia Việt Hà hiện nay là 254 phố Minh
Khai, quận hai Bà Trng, thành phố Hà Nội.
Những ngày đầu tiên thành lập (9/1966) Công ty Bia Việt Hà trớc kia
có tên gọi là Xí Nghiệp Nớc chấm, bởi mặt hàng kinh doanh chủ yếu là : nớc
chấm, dấm, tơng....phơng tiện lao động thủ công là chủ yếu, cơ sở vật chất
nghèo nàn lạc hậu, trình độ ngời lao động cũng rất thấp. Sản xuất theo chỉ
tiêu kế hoạch pháp lệnh, giao nộp để phân phối theo chế độ tem phiếu
(1966).
Đến đầu năm 1981 theo quyết định 25/HĐBT, 26/HĐBT của hội đồng
bộ trởng cho phép xí nghiệp tự lập kế hoạch, một phần do nhà nớc bao cung,
bao tiêu bù lỗ, còn một phần xí nghiệp tự khai thác vật t, nguyên liệu, tự tiêu

3 triệu lít/năm, cải tiến thành 6 tiệu lít/năm và sau khi mở rộng đợt I là 14
tiệu lít/năm, mở rộng đợt II là 30 triệu lít/năm. Từ chỗ chỉ có sản phẩm bia
lon Halida bây giờ nhà máy đã có sản phẩm bia lon Carlsberg và hai loại bia
chai Halida, Carlsberg.
Song song với việc mở rộng sản xuất ở liên doanh, nhà máy đã tự
nghiên cứu và lắp đặt một dây chuyền sản xuất bia hơi mang tên bia Việt Hà.
Vì sản phẩm chính giờ đây là các loại bia lon, bia chai, bia hơi. Nên ngày
2/1/1994 theo quyết định số 2817 QĐUB của UBNDTP Hà Nội về việc đổi
tên và điều chỉnh nhiệm vụ chức năng của nhà máy Bia Việt Hà, tách bộ phận
liên doanh ra hạch toán độc lập. Nhà máy có tên gọi mới là: Công ty Bia
Việt Hà, địa chỉ 254 Minh Khai Hà Nội
Tiếp tục thực hiện chủ trơng đờng lối đổi mới của đảng và nhà nớc,
ngay từ giữa năm 1998 Công ty Bia Việt Hà đã thực hiện cổ phần hoá doanh
nghiệp. Để rồi vào đầu năm 1999 Công ty cổ phần Việt Hà ra đời, một công
ty đầu tiên của nhà nớc sản xuất bia thực hiện cổ phần hoá. Lúc này công ty
chính thức tách xởng bia 57 Quỳnh Lôi thành công ty cổ phần, đơn vị này
tiến hành hạch toán độc lập. Công ty Nhà nớc Bia Việt Hà hiện nay còn lại là
xởng bia 254 Minh Khai Hà Nội.
Chức năng nhiệm vụ của Công ty.
Công ty Bia Việt Hà đợc thành lập theo quyết định 2817 QĐUB của uỷ
ban nhân dân thủ đô Hà nội ngày 2/1/1994. Trong quyết định thành lập này
có quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của Công ty Bia Việt Hà nh sau:
- Sản xuất kinh doanh các loại bia nh: bia lon, bia chai, bia hơi và
các loại nớc giải khát có ga, nớc khoáng ....
24
- Hợp tác với các đơn vị cơ khí, diện lạnh để thiết kế, chế tạo thiết bị
và chuyển giao công nghệ sản xuất bia, nớc giải khát nớc khoáng cho các
đơn vị có nhu cầu.
- Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh, nhập
khẩu thiết bị, nguyên liệu hoá chất cho nu cầu sản xuất của công ty và thị tr-

25

Trích đoạn Hiệu quả kinh doanh tổng hợp Hiệu quả sử dụng vốn cố định Tăng cờng hoạt động Marketing Thành lập phòng Marketing Tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Xây dựng môi trờng văn hoá, quy chế quản lý trong Công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status