Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty Bia - Nước giải khát hải Dương. - Pdf 52

PHẦN MỞ ĐẦU
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Hồng, tiếp
giáp với Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh là 3 trung tâm kinh tế trọng
điểm của đất nước. Là một tỉnh nông nghiệp nhưng Hải Dương trong những
năm gần đây, nền kinh tế tỉnh đã có sự chuyển dịch rõ rệt, đời sống của nhân
dân không ngừng được nâng cao, nhu cầu cuộc sống ngày càng trở nên
phong phú và đa dạng. Uống không chỉ đơn thuần là nhu cầu sinh lý giải
quyết cơn khát của con người mà nó còn là nhu cầu gắn liền với đời sống
tình cảm của con ngưới. Một trong những nhu cầu không thể thiếu được
trong đời sống của người dân đó là bia, nước giải khát, nơi đây hứa hẹn một
thị trường tiêu thụ lớn và hấp dẫn.
Công ty Bia – nước giải khát Hải Dương ngày nay nguyên là nhà máy
mỳ sợi trước đây ra đời, sản phẩm của công ty đã đáp ứng được nhu cầu đó
của người tiêu dùng thành phố Hải Dương nói riêng và tỉnh Hải Dương nói
chung, hướng tới nâng cao chất lượng sản phẩm tạo lên một sản phẩm riêng
biệt của Hải Dương để tiêu thụ trên toàn quốc và bước tiếp theo có thể xuất
khẩu .Bia, Vang vải thiều, sâm panh vải thiều đã trở thành một thứ đồ uống
quan trọng của người dân trong tỉnh. Nó có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ, trong
quán bình dân ven đường, nhà hàng, khách sạn, trong nhà ăn của các doanh
nghiệp, cơ quan, trong từng hộ gia đình, đặc biệt là sản phẩm bia hơi trong
suốt quá trình hình thành và phát triển, mục tiêu cơ bản của công ty là không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận, đóng góp đáng kể
cho ngân sách Nhà nước, tích luỹ tái đầu tư mở rộng sản xuất cho đơn vị
mình và tăng thu nhập cho người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, sản phảm của công ty luôn phải đối mặt sự
cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại và những biến động không ngừng trong
môi trường khinh doanh. Để đạt được các mục tiêu trong môi trường kinh doanh
luôn biến động này các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực như: nguồn lực về vốn, về con người, không ngừng tổ chức cơ cấu lại
bộ máy hoạt động.....Thực chất những việc này là doanh nghiệp thực hiện hiệu
quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

hiểu biết và kinh nghiệm thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn !
CHƯƠNG I
HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ VẤN ĐỀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH Ở DOANH NGHIỆP
I BẢN CHẤT HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm và bản chất
1.1. Khái niệm
Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau song có thể khẳng định
trong cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay mọi doanh nghiệp
kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Để
đạt được mục tiêu này doanh nghiẹp phải xác định chiến lược kinh
doanh trong mọi giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của
môi trường kinh doanh; phải phân bổ và quản trị có hiệu quả các nguồn
lực và luôn kiểm tra quá trình đang diễn ra là có hiệu quả? muốn kiểm
tra tính hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được
hiệu quả kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận
của nó.
Có thể nói rằng mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm
trù hiệu quả kinh doanh phản ảnh mặt chất lượng của hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp song lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan
niệm về hiệu quả kinh doanh. Chúng ta hãy bắt đầu bằng các khái niệm
khác nhau về hiệu quả kinh tế. Có quan điểm cho rằng " hiệu quả sản
xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà
không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác. Một nền khinh tế
có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản suất của nó ". thực chất quan
điểm này đã dề cập đến khía cạnh phân bổ hiệu quả các nguồn lực của
nền sản xuất xã hội. Trên giác độ này rõ ràng phân bổ các nguồn lực trên
đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả và
rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết thì đây là mức hiệu quả cao nhất

hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt
rõ ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả. kết quả là phạm trù
phản ảnh những cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một
khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu
của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoăch đơn
vị giá trị. Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tuỳ thuộc vào đặc
trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ,
kg, m, m
3
, lít, ... Các đơn vị có thể là đồng, triệu đồng , ngoại tệ ,...Kết
quả cũng có thể phản ảnh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn
tòan định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản
phẩm,...Cần chú ý rằng không phải chỉ kết quả định tính mà kết quả đinh
lượng của một thời kỳ kinh doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi
nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản
phẩm dở dang, bán thanh phẩm ....Hơn nữa, hầu như quá trình sản xuất
lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản suất xong ở một
thời kỳ nào đó cũng chưa thể khẳng định được liệu sản phẩm đó có tiêu
thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về ,...
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ảnh trình độ lợi dụng các
nguồn lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng
các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý
rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ảnh bằng tỷ số
tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực. Tránh nhầm lẫn giữa
phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết
quả và hao phí nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số
tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào
đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh và không
bao giờ phản ảnh được trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết

những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh
doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc
điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.
2.1. Hiệu qủa cá biệt và hiệu quả kinh tế quôc dân
Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của
từng doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và
chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh
tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm
thăng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu
được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài
nguyên đã hao phí.
Trong việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh của từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt được hiệu quả của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân; mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ
thuộc vào mức hiệu quả cá biệt. Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của
mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp. Đồng thời xã hội thông qua
hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến
hiệu quả cá biệt. Một cơ chế quản lý đúng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nâng cao hiệu quả cá biệt, ngược lại một chính sách lạc hậu, sai lầm
lại trở thành lực cản kìm hãm nâng cao hiệu quả cá biệt.
2.2. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
Thứ nhất , hiệu quả kinh doanh tổng hợp . Hiệu quả kinh doanh tổng
hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của
toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị bộ
phận của doanh nghiệp ) trong một thời kỳ xác định
Thứ hai , hiệu quả kinh doanh bộ phận .Hiệu quả kinh doanh bộ phận là
hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động ( sử dụng vốn , lao
động, máy móc thiết bị ,nguyên vật liệu ,...) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu
quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ảnh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động

DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạp trù khan hiếm: càng ngày người
ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất
phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi các nguồn lực sản
xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng
và tăng không có giới hạn. Điều này phản ảnh quy luật khan hiếm. Quy luận
khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn vầ trả lời chính xác ba
câu hỏi :sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? vì thị
trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại
sản phẩm (dich vụ ) với số lượng và chất lượng phù hợp. Mọi doanh nghiệp
trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội
để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thi trường - tức kinh doanh
không có hiệu quả, lãnh phí nguồn lực xã hội - sẽ không có khả năng tồn tại.
Mặt khác, mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường mở
cửa và ngày càng hội nhập phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh
.muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo và duy trì các
lợi thế cạnh tranh :chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ cung
ứng .Để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các
nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Chỉ trên cơ
sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới có khả
năng đạt được điều này .
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là tối đa hoá lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến
hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ )cung
cấp cho thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản
xuất xã hội nhất định. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiêm các nguồn lực
này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được lợi nhuận bấy nhiêu. Hiệu quả
kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao
trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản

chính do con người. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh
nghiệp thực hiện kinh doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng
tạo thì nhân tố con người được đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát
triển. Kết hợp với hệ thống tư liệu sản xuất con người đã hình thành lên
quá trình sản xuất. Sự hoàn thiện của nhân tố con người sẽ từng bước
hoàn thiện quá trình sản xuất và xác lập hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài sự phân công lao động sẽ lại là
một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh, khắc phục điều này chính là
nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của của các cấp
lãnh đạo xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải
thực hiện một hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức,
quản lý có hiệu quả là yếu tố quyết định sự thành công của doanh
nghiệp. Sự kết hợp yếu tố sản xuất không phải là tự phát như quá trình tự
nhiên mà là kết quả của hoạt động có tổ chức, có kế hoạch, có điều khiển
của con người, vì vậy hình thành bộ máy tổ chức có hiệu quả là một đòi
hỏi để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu sản xuất phù
hợp và thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một cơ cấu
hợp hợp lý còn góp phần xác định chiến lược kinh doanh thông qua
cơ chế ra quyết định và ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu và
chiến lược đó.
Cơ cấu tổ chức phù hợp góp phần phát triển nguồn nhân lực. Xác
định rõ thực lực của từng cá nhân cụ thể, đặt họ đúng vị trí trong doanh
nghiệp sẽ là cách thúc đẩy hiệu quả và phát huy nhân tố con người. Đồng
thời nó tạo động lực cho các cá nhân phát triển, nâng cao trình độ khả
năng của mình.
1.2. Vốn kinh doanh
Ngày nay, nói đến kinh doanh thì nhân tố đầu tiên được quan tâm
chính là vốn, đây là yếu tố nền tảng cho một hoạt động kinh doanh bắt

hoá lợi ích trên cơ sở số vốn hiện có.
1.3. Nghệ thuật kinh doanh và xử lý thông tin
Nghệ thuật kinh doanh là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phương
pháp, các tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm được tích luỹ trong
quá trình kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
Nghệ thuật kinh doanh là đảm bảo cho doanh nghiệp luôn tồn tại và
phát triển. Đó là việc sử dụng các tiềm năng của bản thân doanh nghiệp
cũng như của người khác, các cơ hội các phương pháp thủ đoạn kinh
doanh có thể để: bỏ ra chi phí ít, thụ lại được nhiều, che dấu những
nhược điểm của doanh nghiệp, giữ bí mật kinh doanh và khai thác được
những điểm mạnh, điểm yếu của người khác, giải quyết nhanh ý đồ của
doanh nghiệp mà không lôi kéo các đối thủ mới vào cuộc. Bảo đảm cho
doanh nghiệp phát triển lâu dài.
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật
đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó công nghệ thông
tin đóng vai trò quan trọng .thông tin được coi là hàng hoá
Trong kinh doanh nếu biết mình, biết người và nhất là hiểu rõ các
đói thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm được các
thông tin cần thiết và biết xử lý, xử dụng nó kịp thời là một điều kiện rất
quan trọng dể ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả cao
Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng nhu cầu thông
tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho quá trình
thu thập, xử lý ,lưu trữ vã xử lý thông tin. Do nhu cầu thông tin ngày càng
lớn nên nhiệm vụ này cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị
hiện nay. Phù hợp với xu thế phát triển hệ thống thông tin nội bộ pâhỉ là
hệ thống thông tin nối mạng cục bộ trong nước và quốc tế.
1.4. Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay mỗi doanh nghiệp cần
phải mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình, vì mạng lưới kinh doanh

tác động đến kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các nhân tố sau:
Cầu về hàng hoá
Cầu về hàng hoá là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người mua muốn
mua và sẵn sàng mua tại những mức giá cụ thể. Cầu là một bộ phận cấu
thành lên thị trường, nó là lượng hàng hoá tối đa mà doanh nghiệp có thể
tiêu thụ tại một thời điểm tại một mức giá nhất định. Khi cầu thị trường
về hàng hoá của doanh nghiệp tăng thì lượng tiêu thụ tăng lên, giá trị
được thực hiện nhiều hơn, quy mô sản xuất mở rộng và doanh nghiệp đạt
được lợi nhuận ngày một tăng. Chỉ có cầu thị trường thì hiệu quả kinh
doanh mới được thực hiện, thiếu cầu thị trường thì sản xuất sẽ luôn trong
tình trạng trì trệ, sản phẩm luôn tồn trong kho, giá trị không được thực
hiện điều này tất yếu là không có hiệu quả.
Vấn đề cầu thị trường luôn được các doanh nghiệp quan tâm.
Trước khi ra quyết định thực hiện một hoạt động kinh doanh cụ thể nào
thì công việc đầu tiên được các doanh nghiệp xem xét đó là cầu thị
trường và khả năng đưa sản phẩm của mình vào thị trường. Ngày nay
cầu thị trường đang trong tình trạng trì trệ, vấn đề kích cầu đang được
Nhà nước và chính phủ đạt lên hàng đầu để thúc đẩy phát triển kinh tế,
đây cũng là vấn đề gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Nghiên cứu cầu
thị trường đầy đủ sẽ là nhân tố góp phần thành công của doanh nghiệp.
Cung về hàng hoá
Cung thị trường về hàng hoá là lượng hàng hoá mà người bán muốn
bán và sẵn sàng bán tại những mức giá cụ thể.
Nhìn chung cung thị trường về hàng hoá tác động đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trên hai phương diện sau:
Cung thị trường về tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp thông qua hệ thống các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp cần.
Việc thị trường có đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu của doanh nghiệp sẽ
đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra đều đặn và liên tục, nếu không thì
dẫn đến tình trạng cạnh tranh trong việc thu mua yếu tố đầu vào.

chức lại bộ máy kinh doanh phù hợp.... để bù đằp những mất mát cho
công ty về giá cả, chiến lược, mẫu mã.
2.2. Tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân.
Đây là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nó quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng....
Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu để làm sao phù hợp với
sức mua, thói quen tiêu dùng ở mức giá cả chấp nhận được. Bởi những
yếu tố này tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất kinh doanh
cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3. Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Đây là giá trị vô hình của doanh nghiệp, nó tác động đến sự thành
bại trong nâng cao hiệu quả kinh doanh. sự tác động đó là phi lượng hoá
mà chúng ta không thể tính toán hay đo đạc bằng các phương pháp định
lượng. Quan hệ, uy tín của doanh nghiệp sẽ cho phép mở rộng các cơ hội
kinh doanh, mở rộng những đầu mối làm ăn và từ đó doanh nghiệp sẽ có
quyền lựa chọn những gì có lợi cho mình. Hơn thế nữa quan hệ và uy tín
sẽ cho phép doanh nghiệp có ưu thế trong việc tiêu thụ, vay vốn hay mua
chịu hàng hoá....
2.4. Kỹ thuật công nghệ.
Yếu tố kỹ thuật công nghệ làm cơ sở cho yếu tố kinh tế, là phương
cách để dẫn đến sự ra đời của sản phẩm mới, tác động vào mô hình tiêu
thụ và hệ thống bán hàng. Những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đã làm
thay đổi tận gốc hàng hoá và quy trình sản xuất, tác động sâu sắc đến hai
yếu tố cơ bản tạo lên khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị
trường, đó là chất lượng và giá bán sản phẩm.
Doanh nghiệp cần phải hiểu rõ những biến đổi đang diễn ra của yếu
tố khoa học kỹ thuật. Phân tích yếu tố khoa học kỹ thuật giúp doanh
nghiệp nhận thức được các thay đổi về mặt công nghệ và khả năng ứng
dụng của nó vào doanh nghiệp. Hướng nghiên cứu có thể bao gồm những
yếu tố sau:

nghiệp khai thác. Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất nằm trong khu
vực này mà có nhu cầu đến tài nguyên, nguyên vật liệu cũng có ảnh
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nhân tố vị trí địa lý: đây là nhân tố không chỉ tác động đến lợi thế
của doanh nghiệp mà còn tác động đến các mặt khác trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp như: Giao dịch vận chuyển, sản xuất....các
mặt này cũng tác động đến hiệu quả kinh doanh bởi sự tác động lên các
chi phí tương ứng.
VI. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH .
1. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh là giới hạn, là mốc xác định
danh giới có hay không có hiệu quả.như thế, trước hết càn xác định được
tiêu chuẩn hiệu quả cho mỗi chỉ tiêu đẻ phân biệt mức có hay không có hiệu
quả.
Sẽ không có tiêu chuẩn chung cho các công thức xác định khác nhau.
Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt
được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp
chỉ đạt được hiệu quả nếu giá trị đạt được ứng với một chỉ tiêu cụ thể xác
định không thấp hơn giá trị bình quân của ngành .
2. Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh.
Bảng 1: Một số ký hiệu:
TR : tổng doanh thu M : tổng vốn K.D MF : vốn cố định bình quân
TC : tổng chi phí AL : số lao động bq/năm D : khấu hao TSCĐ
Π : lợi nhuận
WL : tổng tiền lương V : nguyên giá TSCĐ bq
MV : vốn lưu động B.Q N : số vòng quay VLĐ B : tổng nợ phải trả
BS : tổng nợ ngắn hạn MM :vốn bằng tiền SQ : tồn kho
Q : sản lượng Z : giá thành Qu : sản lượng hỏng
Zu : chi phí S.P hỏng
BẢNG 2: HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH

M
Đầu tư một đồng vốn thì ta thu được
mấy đồng lãi
5. Doanh lợi doanh thu
thuần
Π
----------
TR
Khi thu được một đồng doanh thu
chứng ta sẽ lã được mấy đồng
II. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hoạt động sử dụng lao động
1. Năng suất lao động TR
----------
AL
Một lao động tạo ra mấy
đồng doanh thu
2. Kết quả sản xuất trên
một đồng chi phí tiền
lương
TR
WL
Bỏ ra một đồng tiền
lương thì thu được mấy
đồng doanh thu
3. Khả năng sáng tạo giá
trị của lao động
Π
AL
Số khoản tiền lãi mà một
công nhân đem lại cho

2. Số ngày luân chuyển
bình quân một vòng quay
365
----------
N
Cho biết thời gian để
luân chuyển hết một
vòng vốn lưu động là bao
nhiêu ngày
3. Số vòng quay vốn
lưu động
TR
----------
MV
Số lần quay vòng của
vốn lưu động trong thời
kỳ nghiên cứu
4. Hệ số đảm nhiệm của
vốn lưu động
MV
----------
TR
Để có một đồng doanh
thu thì vốn lưu động cần
là bao nhiêu
V. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính
1. Chỉ số mắc nợ
B
----------
M

----------
SQ
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
1. Tỷ lệ sai hỏng Cách 1: Thước đo hiện
vật
Qu *100
----------
Q
Cách 2: Thước đo giá trị
Zu * 100
----------
Z
Phản ánh khả năng sản
xuất của Công ty về độ
chính xác, trình độ tay
nghề của công nhân sản
xuất, và hiệu quả sản
xuất.
2. Tỷ lệ đạt chất lượng Q – Qu
----------*100
Q
Phản ánh sản phẩm đạt
chất lượng của công ty
3. Hệ số phân cấp bình
quân
Σ Q
i
*P
i
----------

các ngành kinh tế khác, giữa từng bộ phận với toàn bộ hệ thống, và đặc
biệt là đối với doanh nghiệp Nhà nước thì có mối quan hệ giữa hiệu quả
kinh doanh với việc thực hiện các nhiệm vụ khác ngoài kinh tế
Như vậy, với nỗ lực được tính từ giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ
thuật nào đó dự định áp dụng vào thực tiễn đều phải được đặt vào xem
xét toàn diện. Khi hiệu quả ấy không làm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu
quả chung thì nó mới được coi là thực sự có hiệu quả.
3.3 Về mặt định lượng.
Hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện trong mối tương quan giữa
thu và chi theo hướng tăng thu giảm chi. Điều đó có nghĩa là tiết kiệm đến
mức tối đa chi phí sản xuất kinh doanh mà thực chất là hao phí lao động
(lao động sống và lao động vật hoá) để tạo ra một đơn vị sản phẩm có ích
nhất.
3.4 Về mặt định tính.
Trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, khi đánh giá hiệu quả của
hoạt động ấy không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được mà
còn đánh giá chất lượng của kết quả ấy. Có như vậy thì hiệu quả hoạt
động kinh doanh mới được đánh giá một cách toàn diện.
Kết quả đạt được trong sản xuất mới đảm bảo được yêu cầu tiêu
dùng của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Nhưng kết quả tạo ra ở mức nào,
với giá trị nào, đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất lượng của
hoạt động tạo ra kết quả. Vì thế đánh giá hoạt động kinh doanh không
chỉ đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng của hoạt động tạo ra kết
quả đó, tức là đánh giá người sản xuất tạo ra kết quả bằng phương tiện
gì, bằng cách nào và chi phí bao nhiêu. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng của
con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của họ , do đó
vấn đề mà con người quan tâm là làm sao với khả năng hiện có tạo ra
được nhiều sản phẩm nhất. Đây là một nguyên nhân mà chúng ta phải
xem xét lựa chọn phương cách để đạt được kết quả lớn nhất. Điều này
cũng minh hoạ cho sự khác biệt giữ hai khái niệm hiệu quả và kết quả

kẹo, bột ớt, bột tỏi không cạnh tranh được trên thị trường. Tài sản cố định
của xí nghiệp lúc đó chủ yếu là nhà xưởng, bánh kẹo sản xuất thủ công, máy
móc cũ, đã nhiều lần chuyển mặt hàng khác nhưng đều không thành công.
Sản xuất đình đốn dẫn đến xí nghiệp thua lỗ, công nợ nhiều không có khả
năng thanh toán.
Trước tình hình đó, UBND tỉnh, ngành chủ quản đã có giải pháp thích
hợp là thay đổi cơ cấu tổ chức lãnh đạo xí nghiệp, cho chuyển hướng sản
xuất nếu có phương án sản xuất khả thi để xí nghiệp thoát khỏi bế tắc trong
sản xuất kinh doanh và công nhân có việc làm.
Do vậy, cuối năm 1990 qua đi khảo sát nghiên cứu tình hình sản xuất
công nghiệp ở một số tỉnh xung quanh với những doanh nghiệp có quy mô
gần giống như xí nghiệp của Hải Dương lúc đó như Thái Bình, Hà Tây, Hà
Bắc, Hải Phòng, Quảng Ninh. Công ty quyết định trình phương án chuyển
đổi sản xuất từ bánh kẹo, nghiền bột ớt, tỏi sáng sản xuất mặt hàng bia hơi
và đồ uống, vì trên địa bàn Hải Hưng lúc đó chưa có đơn vị nào (cả quốc
doanh và ngoài quốc doanh) đầu tư mặt hàng này. Nên ngày 5 tháng 3 năm
1991 theo quyết định số 354 QĐUB của UBND tỉnh Hải Dương về việc đổi
tên và điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp thành công ty Bia –
nước giải khát Hải Dương ngày nay, là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Công ty Bia – Nước giải khát Hải Dương có trụ sở tại phố Đền Thánh –
thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương.
- Điện thoại (0320) 852.319 – 853740
- Fax (0320) 859835
- Số tài khoản T10A – 000152 ngân hàng công thương tỉnh Hải
Dương.
Để giảm bớt rủi ro trong sản xuất kinh doanh, phương châm của công ty
về đầu tư mặt hàng mới là: đầu tư từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, vươn
lên chiếm lĩnh thị trường bằng uy tín và chất lượng sản phẩm.
Năm 1990 Công ty trình phương án sản xuất bia hơi với công suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status