Tài liệu LUẬN VĂN: Một số giải pháp tăng cường xuất khẩu các mặt hàng rau quả Việt nam sang thị trường Mỹ của Tổng công ty XNK rau quả Việt nam - Pdf 10


z

LUẬN VĂN:

Một số giải pháp tăng cường xuất khẩu
các mặt hàng rau quả Việt nam sang
thị trường Mỹ của Tổng công ty XNK
rau quả Việt nam



phong phú đa dạng, phức tạp và có tính cụ thể về thời gian, địa điểm. Vì vậy phân tích
thực tế để thấy được sự khái quát sâu sắc và củng cố lí luận đã học và từ đó ứng dụng
lí luận vào trường hợp tình huống cụ thể.
Hoạt động xuất khẩu tuy là một đề tài truyền thống và đã được nhiều người quan
tâm nghiên cứu song nó có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp đặc biệt
trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Nội dung chính của đề tài em trình bày gồm ba
chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu
Chương II: Thực trạng xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt Nam sang
thị trường Mỹ.
Chương III: phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu rau quả sang thị
trường Mỹ
Để hoàn thành đề tài này em đã nỗ lực cố gắng học hỏi kinh nghiệm trong thực tế
cùng với việc sử dụng kiến thức đã học. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em trên giảng đường, sự giúp đỡ hướng dẫn
nhiệt tình của cô giao TS Nguyễn Thị Xuân Hương và các bác, các cô, các chú đang
công tác tại Tổng công ty xuất nhập khẩu rau quả Việt nam.

Thứ ba: nâng cao được lợi nhuận công ty.

Thứ tư: giảm được rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu.
Khi một thị chưa bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch các quy định về tiêu
chuẩn kỹ thuật, trên thị trường còn ít đối thủ cạnh tranh hay năng lực kinh doanh quốc
tế chưa đủ để thực hiện các hình thức cao hơn thì hình thức xuất khẩu thường được lựa
chọn. Bởi vì, so với đầu tư thì xuất khẩu đòi hỏi một lượng vốn ít hơn, rủi ro thấp hơn
và đặc biệt thu được hiệu quả trong một thời gian ngắn.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá của Việt Nam.
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động xuất khẩu đóng một vai trò quan
trọng và không thể thiếu được trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Hoạt động xuất khẩu không chỉ phản ánh một hình thức của mối quan hệ xã hội và sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất kinh doanh với nhau mà nó
là một mắt xích trong tổng thể các mối quan hệ xã hội tức là nó có mối quan hệ biện
chứng với rất nhiều mối quan hệ khác. Tuy nhiên vai trò của hoạt động xuất khẩu là
không thể phủ nhận được nó biểu hiện qua những điểm sau.
2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu
để khắc phục tình trạng nghèo và cậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá đất
nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có một số vốn lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như đầu tư
nước ngoài, vay, viện trợ, thu từ hoạt động dịch vụ, du lịch thu ngoại tệ, xuất khẩu lao
động Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ tuy quan trọng
nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Như vậy,

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước.

- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trường thế giới.
2.3-Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết sản
xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập
không thấp. Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu
phục vụ đời sốngvà đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của người
dân.
2.4 -Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn
nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể hoạt động xuất khẩu có
sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này
phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy
quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh
tế đối ngoại nêu trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.

II. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá bao gồm nhiều công đoạn khác nhau từ khâu

trường, tập quán tiêu dùng, giá cả, các sản phẩm cạnh tranh cùng loại và kênh tiêu
thụ
2. Lập phương án kinh doanh.
Trên cơ sở kết quả thu được trong quá trìnhnghiên cứu tiếp cận thị trường kết
hợp với khả năng của doanh nghiệp, nguồn vốn của doanh nghiệp mà từ đó doanh
nghiệp lập phương án kinh doanh.
Nội dung của phương án kinh doanh phải thể hiện được như sau:
- Đánh giá tổng quát tình hình thị trường và đối tác, phân tích những khó
khăn, thuận lợi trong kinh doanh.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh trên
cơ sở phân tích tình hình thực tế
- Đề ra những mục tiêu cụ thể: khối lượng bán hàng, giá cả, xâm nhập thị
trường nào
- Đề ra những biện pháp nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra như:
Đầu tư vào sản xuất, kí kết hợp đồng kinh tế, đẩy mạnh quảng cáo, lập chi
nhánh ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới tiêu thụ
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua việc tính toán các chỉ tiêu
như tỷ xuất ngoại tệ, thời gian hoà vốn, điểm hoà vốn

3. Tạo nguồn hàng xuất khẩu
Có nhiều cách tạo nguồn hàng xuất khẩu và do vậy có nhiều cách để phân loại
nguồn hàng, có thể phân loại nguồn hàng như sau:
3.1 Phân loại theo đơn vị giao hàng
Các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu có thể mua, huy động từ:
- Các xí nghiệp công nghiệp trung ương và địa phương
- Các xí nghiệp nông, lâm nghiệp trung ương và địa phương
- Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp

- Thu mua tự do từ những ngưòi sản xuất nhỏ
- Thu mua từ các đơn vị thành viên của doanh nghiệp (với các doanh
nghiệp là các Tổng công ty)
- Sử dụng hệ thống đại lý, các doanh nghiệp khác và tư nhân để thu mua
4. Lựa chọn đối tác giao dịch
Trong hoạt động xuất khẩu, việc lựa chọn đối tác giao dịch phù hợp sẽ tránh
cho doanh nghiệp phiền toái hoặc thiệt hại có thể gặp trong quá trình kinh doanh trên
thị trường, đồng thời có điều kiện thực hiện thành công kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp. Việc lựa chọn đối tác giao dịch phải dựa trên những tiêu chuẩn sau:
- Tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh,
khả năng tiêu thụ thường xuyên.
- Có khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Thái độ và quan điểm kinh doanh cụ thể như: Có thiện chí trong quan hệ
làm ăn với doanh nghiệp, có độ tin cậy cao.
- Có uy tín trên thị trường
Khi lựa chọn đối tác kinh doanh, các doanh nghiệp phải thận trọng tìm hiểu
đối tác về tất cả các mặt mạnh yếu của họ. Các doanh nghiệp có thể lựa chọn đối tác
trên cơ sở bạn hàng sẵn có hoặc có thể thông qua các công ty môi giới, tư vấn, cơ sở
giao dịch hoặc phòng thương mại và công nghiệp các nước có quan hệ. Tuy có nhiều

cách lựa chọn đối tác giao dịch nhưng tốt nhất khi lựa chọn đối tác giao dịch nên chọn
đối tác trực tiếp, tránh lựa chọn những đối tác gián tiếp, trung gian, trừ trường hợp
doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường mới mà doanh nghiệp chưa có kinh
nghiệm hay chưa thực sự hiểu biết nhiều về thị trường đó.
Việc lựa chọn đối tác giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện cần thiết để
thực hiện thắng lợi các hợp đồng thương mại quốc tế, chọn được đối tác làm ăn thích
hợp, ổn định và sẽ là bạn hàng trung thành, quan hệ làm ăn lâu dài.

giao dịch bằng thư tín phải đảm bảo những yêu cầu: lịch sự, chính xác, khẩn trương và
kiên nhẫn.
5.2. Giao dịch, đàm phán qua điện thoại
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch nhanh chóng
khẩn trương trong việc tiến hành giao dịchvào đúng thời cơ cần thiết. Nhưng chi phí
cho tiền cước điện thoại giữa các nước khá cao do vậy các cuộc trao đổi bằng điện
thoại thường bị hạn chế về mặt thời gian, các bên tham gia không thể trình bày chi tiết
các vấn đề qua điện thoại, mặt khác trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng do
vậy không có cơ sở pháp lý cho việc xác định vấn đề trao đổi nên no chỉ được dùng
trong trường hợp cần thiết, khẩn trương, sợ lỡ thời cơ hoặc trong điều kiện mọi thoả
thuận cần thiết đã xong rồi, chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết Khi sử dụng điện
thoại, cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu một cách
trính xác. Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán
thoả thuận.
5.3. giao dịch, đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp
Việc gặp gỡ trực tiếp gữa hai bên trao đổi về mọi điều kiện giao dịch, về mọi
vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán, là hình thức đàm
phán đặc biệt quan trọng. Hình thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi
vấn đề giữa hai bên và đôi khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tínhay điện
thoại quá lâu mà không có hiệu quả. Nhiều khi đàm phán qua thư từ kéo dài nhiều
thánh mới đi đến ký kết hợp đồng. Trong khi đó, đàm phán tực tiếp chỉ có 2, 3 ngày là
đã có kết quả. Hiềnh htức đàm phán này thường được dùng khi hai bên có nhiều điều
kiện phải giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau, khi đàm phán về những hợp đồng lơn,
những hợp đồng có tính chất phức tạp
Việc hai bên mau bán trực tiếp gặp nhau tạo điều kiện cho việc hiểu biết nhau
tốt hơn và duy trì quan hệ tốt lâu dài với nhau. Tuy nhiên đây là hình thức khó khăn
nhất trong các hình thức đàm phá. Đàm phá trực tiếp đòi hỏi người đàm phán phải

đồng đó.

- Điều khoản về bao bì: các bên thoả thuận với nhau về các vấn đề như
chất liệu, chất lượng, phương thức cung cấp và giá bao bì.
- Điều kiện cơ sở giao hàng: điều khoản này có ảnh hưởng giá cả. Điều
kiện giao hàng phải ánh mối quan hệ giữa giá hàng hoá và địa điểm giao hàng.
Cơ sở của điều kiện giao hàng là sự phân trách nhiệm giữa hai bên mua và bán
về giao nhận hàng như thuê phương tiện vận tải bốc dỡ hàng, bẩo hiểm, hải
quan, nộp thuế xuất nhập khẩu.
- Điều khoản về giao hàng: đó là việc quy định thời hạn, địa điểm, phương
thức và việc thông báo giao hàng.
- Điều khoản về thanh toán: quy định rõ đồng tiền thanh toán, thời hạn và
phương thức trả tiền.
- Điều khoản về khiếu nại: quy cách thời hạn, thể thức khiếu nại.
- Điều khảo bảo hành: hợp đồng quy định phạm vi bảo đảm, trách nhiệm
của người bán trong thời gian bảo hành.
- Điều khoản bất khả kháng.
- Điều khoản giải quyết tranh chấp.

6. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng xuất khẩu đã ký kết, đơn vị kinh doanh nhập khẩu với tư
cách là một bên ký kết phải thực hiện hợp đồng đó. Đây là công việc rất là phức tạp.
Nó đòi hỏi phải tuân theo luật quốc giá và quốc tế, đồng thời đảm bảo quyền lợi quốc
gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị về mặt kinh doanh, trong quá trình thực
hiện các khâu công việc để thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu
phải cố gắng tiết kiệm chi phí, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp
vụ giao dịch.

trong hợp đồng. Lựa chọn bao bì cho hàng hoá vật tư phải tính đến các nhân tố như:
điều kiện khí hậu, điều kiện vận tải, điều kiện về pháp luật, thuế quan và điều kiện chi
phí vận chuyển.
Bao vì đóng gói vật tư hàng hoá phải đáp ứng được các nhu cầu đặt ra là an
toàn,tẻ tiền, thẩm mỹ.

- Kẻ ký mã hiệu hàng hoá:
- Ký mã hiệu quả hàng hoá có vai trò rất quan trọng cho việc đảm bảo
thuận lợi cho công tác giao nhận và hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật bảo quản, vận
chuyển, bốc dỡ hàng hoá. Chính vì vậy việc kẻ ký mã hiệu cho hàng hoá phải rõ ràng,
viết bằng mực không phai màu, ghi đúng địa chỉ, ghi đủ và cả ký hiệu cần thiết (hàng
tránh ẩm, hàng tránh lạnh, dễ vỡ ) tóm lại theo 4 nguyên tắc: dễ viết, dễ làm, dễ thấy,
dễ kiểm tra.
Ký mã hiệu phải làm bằng sơn hoặc mực không phai nhạt, không làm ảnh
hưỏng đến chất lượng mùi vị hàng hoá vật tư.
6.2. Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu.
+ Đối với hàng xuất khẩu:
Trước khi giao hàng người giao hàng có nghĩa vụ phải kiểm tra về phẩm chất,
số lượng, trọng lượng, bao bì tức là kiểm nghiệm hoặc nếu hàng hoá xuất khẩu là động
vật, thực vật phải kiểm tra về khả năng lây lan bệnh tật.
- Kiểm nghiệm ở cấp cơ sở: do tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm
(KCS) tiến hành. Tuy nhiên thủ trưởng đơn vị vẫn là người chịu trách nhiệm
chính về phẩm chất hàng hoá.
- Đối với động thực vật phải qua kiểm dịch ở cấp cơ sở, phòng bảo vệ
thực vật, (huyện, quận, nông trường) tiến hành kiểm dịch động thực vật.
- Kiểm tra ở cấp cửa khẩu: bước này do chi nhánh hoặc các trung tâm
thuộc các cơ quan trung ương tiến hành, thông thường chậm nhất là 7 ngày

chuyển đến cho người vận tải.
Nếu hàng không đủ một container chủ hàng phải giao cho người gom
hàng hoặc người kinh doanh vận tải đa phương thức ( MTO ) tại ga container.
Cơ sở pháp lý để điều tiết mối quan hệ giữa chủ hàng xuất khẩu với
hãng tàu là hợp đồng vạn tải ký kết giữa các bên. Nếu chủ hàng xuất khẩu uỷ
thác việc thuê tàu lưu cước cho một công ty hàng hải ( công ty đại lý biển
VOSA ) thì cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa các bên uỷ thác thuê tàu,
nhận uỷ thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác thuê tàu.

6.4. Mua bảo hiểm
Nhà kinh doanh xuất khẩu buộc phải mua bảo hiểm cho hàng hoá trong các
trường hợp sau:
- Khi hợp đồng mua bán ngoại thương quy định người bán hoặc người mua
bảo hiểm.
- Khi nhà xuất khẩu xuất thoa điều kiện CIF, CIP
- Để ký các hợp đồng bảo hiểm cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm. Hiện
nay trên thế giới người ta áp dụng rộng rãi điều khoản bảo hiểm Luân Đôn (
áp dụng từ ngày 1/1/1982 ), bao gồm điều khoản:
+ Điều kiện A
+ Điều kiện B
+ Điều kiện C
+ Điều kiện boả hiểm trong chiến tranh
+ Điều kiện bảo hiểm đình công
Lựa chọn điều kiện bảo hiểm thường dựa trên các căn cứ sau:
- Tính chất hàng hoá
- Điều khoản của hợp đồng
- Tình trạng của bao bì và phương thức xếp hàng

- Đổi lấy vận đơn hoàn hảo ( B/L )
6.7. Làm thủ tục thanh toán
Nếu hợp đồng thanh toán bằng L/C thì người xuất khẩu, phải đôn đốc người
nhập khẩu mở L/C đúng hạn. Sau khi nhận được L/C thì phải tiến hành kiểm tra:
- Ngân hàng mở L/C là ngân hàng nào
- Số tiền L/C có đủ không
- Thời hạn hiệu lực của L/C
- Những yêu cầu về chứng từ của L/C

Việc kiểm tra này để xem xét khả năng thuận tiện và an toàn trong việc thu
tiền hang xuất khẩu bằng L/C đó
Nếu L/C đó không đáp ứng được những yêu cầu đặt ra thì cần yêu cầu nhà
nhập khẩu sửa đổi lại rồi mới giao hàng.
6.8. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu chủ hàng xuất khẩu bị khiếu nại đòi
bồi thường. Cần có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong việc xem xét yêu cầu của
khách hàng. Việc giải quyết phải khẩn trương kịp thời và có tình lý.
Khiếu nại của khách hàng là có cơ sở, chủ hàng xuất khẩu có thể giải quyết
bằng một trong những phương pháp như:
- Giao hàng thiếu
- Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng
- Giảm giá hàng mà số tiền giảm giá được trang trải bằng hàng hoá giao vào
thời gian sau đó.
Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện nhau
taqị hội đồng trọng tài ( nếu có thoả thuận trọng tài ) hoặc tại toà án.

III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu.

Không phải quốc gia nào cũng có được điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hoạt
động sản xuất nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Với những quốc gia điều
kiện tự nhiên thuận lợi hơn đó sẽ là động lực không nhỏ cho sản xuất phát triển. Đặc
biệt là đối với các nước chậm phát triển, nó sẽ là bàn đạp cho phát triển kinh tế đất
nước.
2.2. Năng lực về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực.
Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược và thời
cơ xuất khẩu. Vốn, công nghệ và nguồn nhân lực là cơ sở hạ tầng đảm bảo cho sự phát
triển sản xuất và phát triển kinh tế đất nước.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của nhà nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trường đa dạng hoá các thành phần kinh t
tế và mở cửa ra bên ngoài tự do buôn bán, xuất khẩu trong khuôn khổ luật pháp cho
phép. Các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu sẽ phải đương đầu với các doanh nghiệp
nước ngoài với những sản phẩm chất lượng cao mà giá thành hạ. Chính điều này đã

buộc các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu phải nhạy bén, linh hoạt hơn, chú trọng
đầu tư vốn, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực lành nghề cho hoạt động xuất khẩu.
Vốn quyết định đến quá trình xuất khẩu và kết quả của hoạt động xuất khẩu.
Có vốn hoạt động xuất khẩu được mở rộng, các nguồn hàng cho xuất khẩu phong phú
hơn với chất lượng cao hơn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, thị
trường xuất khẩu sẽ được mở rộng sang các nước và khối nước có nhu cầu cao về hàng
xuất khẩu của chúng ta mà trước kia chúng ta không vào được.
Cuộc cách mạng khoa hoc công nghệ đã tác động tích cực đến các mặt của đời
sống kinh tế xã hội. Yếu tố công nghệ có tác động đến năng suất và chất lượng của
hàng xuất khẩu. Chính nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông các doanh
nghiệp ngoại thương có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng qua điện thoại, telex,
fax giảm bớt được chi phí đi lại.

hành chính rườm rà, mất nhiều thời gian có thể làm mất đi nhiều cơ hội xuất khẩu.
Nhà nước cần điều chỉnh chính sách xuất khẩu theo hướng có lợi hơn nữa cho các
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, đặc biệt sớm ban hành các văn bản hướng dẫn rõ
ràng, cụ thể đồng nhất và thống nhất với các nghị định có liên quan.
Tuy nhiên, Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp nhằm khuyến khích
xuất khẩu, như: cho phép một số doanh nghiệp được xuất khẩu trực tiếp, giảm thuế
xuất khẩu gạo xuống 0%. Đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động xuất khẩu.
4. Yếu tố văn hoá xã hội
Môi trường văn hoá xã hội được cọi là:” một tổ hợp phức tạp bao gồm nhiều
yếu tố, tín ngưỡng, luật pháp, nghệ thuật, luân lý và tất cả những thói quen khác mà
con người đã thu nhận được”. Vùng ảnh hưởng của nền văn hoá có thể trải qua nhiều
nước hoặc nhiều vùng. Đây là điều mà các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu cần phải
chú ý. Chẳng hạn, những người dân ấn độ không bao giờ ăn thịt bò, những người theo
đạo Hồi không được ăn mặc hở hang các doanh nghiệp cần phải biết những nét đặc
trưng của từng dân tốc để có chiến lược xuất khẩu phù hợp. Bên cạnh đó, dân số, xu
hướng vận động của dân số, thu nhập của khách hàng là các yếu tố quyết định đến chất
lượng và cơ cấu hàng xuất khẩu. Vì vậy, khi nghiên cứu thị trường trước hết phải
nghiên cứu các tham số của môi trường này bao gồm: dân số, xu hướng biến động của
dân số, thu nhập, chủng tộc, tôn giáo, nền văn hoá Chương II: Thực trạng xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt Nam sang thị
trường Mỹ.
I. Giới thiệu chung về tổng công ty rau quả Việt Nam.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Từ năm 1988 trở về trước, việc sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu rau quả
đã được hình thành và phát triển theo 3 khối: Sản xuất rau quả ( do Công ty rau quả

chính sách mới của nhà nước ra đời và tiếp tục được hoàn thiện. Nền kinh tế của đất
nước bắt đầu tăng trưởng từ Nông nghiệp, Công nghiệp đến kinh xuất nhập khẩu và
đầu tư phát triển. Những thành tựu về kinh tế xã hội của đất nước đạt được đã tạo cơ
hội cho Tổng công ty thêm môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và
đầu tư phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ Tổng công ty phải chịu nhiều khó
khăn do chương trình hợp tác rau quả Việt –Xô không còn nữa, tình hình biến động về
trính trị, kinh tế ở Liên Xô và Đông Âu nên thị trường bị thu hẹp, nền kinh tế chuyển
từ bao cấp sang cơ chế thị trường.
1.3. Thời kỳ 1996 đến nay.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng những năm qua tổng công ty vẫn liên
tục hoạt động có hiệu quả. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng, nếu
năm 1996 đạt trên 36 triệu USD thì năm 2000 đạt trên 43 triệu USD. Tổng doanh thu
cũng không ngừng gia tăng, 1996 đạt trên 510 tỷ VND thì 2000 đạt 719 tỷ VND. Lãi
ròng năm 1996 mới có 2,4 tỷ VND thì đến năm 2000 đã là 10,7 tỷ.
2. Chức năng và nhiệm vụ của tỏng công ty rau quả Việt Nam.
2.1. Chức năng.
Quản lý sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên, các nguồn khác. Đầu tư, liên doanh
liên kết, góp vốn cổ phần, chuyển nhượng thay thế, cho thuê, thế chấp cầm cố tài sản.
Tổ chức quản lý kinh doanh:
+ Tổ chức bộ máy kinh doanh phù hợp, đổi mới trang thiết bị, đặt chi nhánh,
văn phòng đại diện của Tổng công ty trong và ngoài nước.
+ Mở rộng kinh doanh, lựa chọn thị trường, thống nhất thị trường giữa các đơn
vị thành viên được xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của nhà nước.
+ Quyết định khung giá, xây dựng và áp dụng các định mức lao động mới và
các đối tác kinh doanh nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status