Một số biện pháp nhằm phát triển hoạt động cho thuê tại công ty cho thuê tài chính Vietinbank - Pdf 10


Phần mở đầu
Sự nghiệp đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trờng của Việt Nam đã và đang đợc xúc tiến rất mạnh mẽ. Quá trình tái cấu
trúc nền kinh tế đơc tiến hành đồng thời với quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa.
áp lực đòi hỏi phải có sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao phát sinh từ nhiều phía:
nguy cơ tụt hậu, tỷ lệ gia tăng dân số cao, nạn thất nghiệp trầm trọngĐể tránh khỏi
nguy cơ tụt hậu phải tạo ra những bớc chuyển mạnh mẽ về năng suất chất lợng, hiệu
quả trong sản xuất để trong khoảng thời gian từ 15 đến 20 năm biến nền kinh tế nớc ta
thành một nền kinh tế có trình độ công nghiệp có trình độ hiện đại trung bình so với
thế giới. Đồng thời nâng cao mức sống của nhân dân, tạo đà cho những bớc phát triển
bền vững tiếp theo.
Xuất phát từ chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và những năm kế
tiếp, với trọng tâm thực hiện chơng trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nền kinh tế
nhu cầu vốn đầu t cho toàn bộ xã hội vào khoảng trên 50 tỷ USD. Riêng nhu cầu vốn
phục vụ cho mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa cũng là một thách thức to lớn
đối với Việt Nam chúng ta. Hơn nữa trong tiến trình đó yêu cầu phải làm nhiều việc
trong nhiều lĩnh vực. Mỗi hoạt động Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa có những đặc
điểm tính chất khác nhau đòi hỏi phải tìm những nguồn vốn thích ứng với từnh hoạt
động này. Điều đó đòi hỏi dù trên phạm vi kinh tế vĩ mô hay trên trên phạm vi vi mô
của từng doanh nghiệp, những tế bào của nền kinh tế, đều phải đợc nghiên cứu khả thi
tỷ mỷ, dới hình thức một dự án đầu t đợc tuyền chọn nghiêm túc. Nh vậy các giải pháp
tạo vốn đầu t phải nằm ngay trong các dự án đầu t có hớng đích Công nghiệp hoá -
Hiện đại hóa.
Trong số các dự án đầu t này có những dự án đổi mới kỹ thuật công nghệ. Tuy
nhiên đầu t đổi mới kỹ thuật công nghệ bằng máy móc thiết bị hiện đại là một bài toán
mà không phải doanh nghiệp nào cũng giải đợc, số doanh ngiệp có đáp án thành công
càng hiếm hoi. Loại dự án này thờng đòi hỏi vốn lớn thuộc loại đầu t trung dài hạn có
nhiều rủi ro. Do đó muốn tìm vốn tài trợ cho loại dự án đầu t này phải chứng minh tính
khả thi cao, tỷ lệ sinh lời hấp dẫn và đợc thẩm định là khả thi. Nếu hội đủ những điều
kiện này, dự án đầu t đổi mới kỹ thuật công nghệ có thể tìm đợc sự tài trợ bằng cách

doanh nghiệp có thể thu hồi một số vốn tiền tệ để đầu t vào việc khác mà vẫn tiếp tục
đơc sử dụng tài sản, không bị gián đoạn các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Xét từ góc độ ở cấp vĩ mô của toàn nền kinh tế, phơng thức tín dụng thuê mua
cũng là một phơng thức huy động vốn nớc ngoài tài trợ trung dài hạn cho các doanh
nghiệp trong nớc. Nhu cầu trang bị Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa các nghành kinh tế
không nhất thiết chỉ có con đờng mời gọi vốn FDI, đầu t hợp tác liên doanh. Ngoài ra
theo qui định của IMF ( Quỹ tiền tệ quốc tế) thì các khoản nợ do thuê mua máy móc
thiết bị ở nớc ngoài không tính vào tổng số nợ nớc ngoài của nớc đó. Do đó Leasing
cũng sẽ có ý nghĩa đối với Việt Nam chúng ta đang trong giai đoạn vận động và tiếp
nhận nguồn vốn ODA dới những điều kiên khống chế hạn mức nợ nớc ngoài từ các
định chế tài chính quốc tế đa ra. Hiện nay số nợ nớc ngoài của Việt Nam cha phải lên
tới con số quá lớn nhng có thể nói cũng không phải là nhỏ.
Chính từ những lợi ích to lớn của tín dụng thuê mua, một kênh dẫn vốn quan trọng
tới các doanh nghiêp, một trong những nhân tố đẩy nhanh trình độ phát triển công
nghệ đã khiến nó trở thành một đề tài đợc tìm hiểu và nghiên cứu nhằm ứng dụng vào
nớc ta trong những năm gần đây. Với Việt Nam trong công cuộc đầu t Công nghiệp
hoá - Hiện đại hóa nền kinh tế thì nhu cầu vốn đầu t là rất lớn. Tuy nhiên trong thời
gian qua vốn đầu t để đổi mới máy móc thiết bị còn bị hạn chế bởi cơ chế đầu t còn
nhiều bất cập. Nhằm khắc phục thực trạng này việc đa ra một cơ chế đầu t hợp lý là
điều cấp thiết. Chính vì vậy sự ra đời của một số công ty cho thuê tài chính ở Việt nam
là một giải pháp hữu hiệu. Một trong số các công ty đó là Công ty cho thuê tài
chính Ngân Hàng Công Th ơng Việt Nam
Tiện ích của nghiệp vụ cho thuê tài chính mang lại không phải là nhỏ. Nó là một
lối thoát cho cơn khát vốn gay gắt đang trói tay các doanh nghiệp. Nhu cầu đầu t máy
móc thiết bị mới không ngừng tăng qua các năm không chỉ vì hiện trạng của các doanh
nghiệp hiện tại mà còn vì con số ngày càng tăng các doanh nghiệp mới đợc thành lập.
Với một thị trờng đầu ra nh vậy, đáng ra trong thời gian qua cho thuê tài chính có thể
tìm đợc những cơ hội phát triển nhẩy vọt. Song những gì đang diễn ra không mang lại
cho các công ty cho thuê tài chính nói chung và của Ngân Hàng Công Thơng nói riêng
một thị trờng phát triển nh mong muốn. Trớc tình hình thuê và cho thuê hiện nay, phải

hình thức tài trợ vốn cho kinh doanh khá phổ biến trên thế giới. Sự phát triển về qui mô tài trợ
cũng diễn ra rất nhanh chóng và ngành cho thuê đã chiếm một phần rất quan trọng trong thụ
trờng máy móc thiết bị và thị trờng vốn của nền kinh tế thế giới. Song song với sự phát triển
về chiều rộng, sự phát triển về chiều sâu cũng diễn ra rất sôi động ngành cho thuê thế giới đã
tạo ra nhiều phơng thức tài trợ khác nhau. Những kiểu tài trợ này đan xen tạo ra những biến
thể rất phong phú và đa dạng. Với mục đích nhận diện các phơng thức của cho thuê tài sản ch-
ơng I sẽ phân tích vào 2 loại hình thông dụng là thuê vận hành và thuê tài chính. Thuê vận
hành là hình thức cho thuê có từ lâu đời và không phức tạp nhiều nên phần phân tích sẽ chủ
yếu tập trung vào cho thuê tài chính, một hình thức mới với Việt Nam, đang có những bớc
phát triển nhảy vọt.
1.Sơ lợc lịch sử tổ chức hoạt động cho thuê tài sản trên thế giới
Cho thuê tài sản là một công cụ tài chính đã đợc sáng tạo từ rất sớm trong lịch sử
văn minh nhân loại. Theo các th tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản đa xuất hiện từ
năm 2800 trớc CN tại thành phố của ngời Sumerian của ngời UR. Các thầy tu giữ vai
trò ngời cho thuê, ngời thuê là những nông dân tự do. Tài sản đợc đem ra giao dịch th-
ờng là công cụ sản xuất nông nghiệp. Vào khoảng năm 1700 trớc CN, vau Babilon là
Hamnurabi đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó
có đa những qui định về hoạt động cho thuê tài sản. trong các nền văn minh cổ đại
khác nh Hy Lạp, Lã Mã hay Ai Cập cũng xuất hiện các hình thức cho thuê để tài trợ
cho việc sử dụng đất đai, gia súc, công cụ sản xuất. Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề
giao dịch thuê mua ngày nay gặp phải đã đợc giải quyết từ nhiều thế kỷ trớc. Tuy
nhiên các giao dịch thuê mua thời cổ đại thuộc hình thức thuê mua kiểu truyền thống
(Traditional Lease). Phơng thức giao dịch của hình thức này tơng tự nh hình thức thuê
vận hành ngầy nay và trong lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của nó đã không có sự thay
đổi lớn nào về tính chất giao dịch.
Đầu thế kỷ 19, hoạt động thuê mau đã có sự gia tăng đáng kể về số lợng và chủng
loại thiết bị, tài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ này, giao dịch thuê mau
đã có những bớc phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa Kỳ. Nguyên nhân của sự phát
triển này là do hoạt động thuê mua đã có những thay đổi về tính chất của gia dịch. Đó
là sự xuất hiên của nghiệp vụ chi thuê tài chính (Finace Leasing). Nó xuất hiện đầu

Lessor) chuyển giao tài sản cho ngời thuê ( ngời sử dụng tài sản - The Lessee) độc
quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. đổi lại ngời thuê phải trả một số
tiền cho chủ tài sản tơng ứng với quyền sử dụng.
Ngày nay cho thuê tài có những phơng thức rất đa dạng. Nhiều phơng thức cho
thuê có những mối liên hệ rất phức tạp đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian công sức và
trình độ chuyên môn cao để nghiên cứu phân tích chúng. Những hình thức nh vậy rất
hiếm khi xảy ra, do đó trong những phần sau chỉ tập trung phân tích vào 2 loại hình
thông dụng, mang tính phổ biến trong sản xuất kinh doanh.
Các phơng thức này bao gồm:
- Thuê vận hành hay thuê truyền thống hoặc thuê dịch vụ ( Operating Lease or
Traditional Lease or Service Lease ).
- Thuê tài chính hay thuê mua thuần hoặc thuê t bản ( Finance Lease or Net
Lease or Capital Lease ).
3. Thuê vận hành ( Operating Lease )

3.a Định nghĩa về cho thuê vận hành
Cho thuê vận hành không phải là phơng thức tài trợ mua sắm máy móc thiết bị.
Ngời đi thuê ký hợp đồng sử dụng các thiết bị có sẵn của Công ty cho thuê nh máy
bay, phơng tiện vận tải, máy móc trong thi công cơ giới và cũng có thể là máy móc
thiết bị dùng trong công nghiệp... chi phí mua thiết bị đợc thu hồi qua các lần thuê và
thanh lý thiết bị.
Thuê vận hành đã có lịch sử rất lâu đời nên còn đợc gọi là cho thuê truyền thống
(Traditional Lease). Trong nền sản xuất nông nghiệp, các loại tài thờng đợc sử dụng
trong cho thuê vận hành bao gồm: ruộng đất, công cụ lao động, nhà cửa, gia súc kéo...
Ngày nay các loại tài sản đợc sử dụng rất đa dạng: các loại máy móc công nghiệp,
thiết bị văn phòng, các bất động sản...
Hình thức thuê vận hành có thể coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản
không đợc ghi chép vào sổ sách kế toán của ngời thuê mà phần tiền trả theo thoả thuận
8
đợc ghi nh mọi khoản chi phí bình thờng khác. Trong hợp đồng này không dự kiến

đó họ có thể điều chuyển các loại máy móc thiết bị đến những nơi khách hàng có nhu
9
Ngời cho thuê
Quyền sở hữu tài sản và dịch vụ
Trả tiền thuê
Ngời thuê
cầu phù hợp hoặc cải tiến gia tăng thêm chức năng cho tài sản để phù hợp với trình độ
công nghệ đơng thời. Bởi vậy họ có thể khắc phục đợc yếu tố lạc hậu công nghệ của
thiết bị.
- Ngời cho thuê còn phải đảm nhiệm các nghĩa vụ nh bảo hiểm, đóng thuế tài
sản, cung cấp tài sản thay thế cho các tài sản thur bị hỏng.
4. Thuê tài chính ( Finance Lease)

4.a Định nghĩa về Finance Lease
Điều đầu tiên cần đợc xem xét là thuật ngữ Finance Lease. Thực chất nên gọi ph-
ơng thức finance lease là tài trợ thuê mua, tín dụng thuê mua, thuê mua thuần hay cho
thuê tài chính.
Về cơ bản, vấn đề đang đề cập ở đây đợc du nhập từ nớc ngoài, từ tiếng Anh
là finance lease (một số tài liệu gọi là Net lease, Capital lease) hay tiếng Pháp là crédit-
bail. Chính từ những chữ tiếng Anh:fiance là tài chính hay tài trợ còn lease là thuê nên
các nhà dịch thuật đã đa ra nhiều tên gọi nh: Cho thuê tài chính, leasing, tài trợ thuê
mua, cho thuê vốn...Trong tiếng Pháp crédit là tín dụng còn bail có nghĩa là thuê nên có
thể dịch là tín dụng thuê mua
Khi dịch từ tiếng nớc ngoài thì thuật ngữ không cần bám sát từ mà cần đảm bảo
khái quát đợc bản chất của sự vật hiện tợng mà thuật ngữ đang mô tả.
Nếu gọi là cho thuê tài chính theo các văn bản chính thức qui định thì liệu phải
hiểu tài chính ở đây là gì, ngay cả khái niệm về tài chính cũng đợc hiểu theo nhiều các
khác nhau. Điều này dễ dẫn đến khó khăn cho những ngời muốn tìm hiểu về loại hình
nghiệp vụ mới này. Mặt khác, ở đây đối tợng các công ty cho thuê lại là tài sản.
Nếu dịch là cho thuê theo phơng thức thuê mua thì khá chuẩn về mặt bản chất của

Công ty
cho thuê tài chính
Hợp đồng mua bán Hợp đồng cho thuê
Thanh toán
Thanh toán
tiền thuê

Thoả thuận về lựa chọn máy móc, thiết bị
Nhà cung cấp Bên thuê
Máy móc thiết bị Giao hàng, lắp đặt và bảo dỡng

Nh vậy cho thuê tài chính là một biện pháp tài chính thay thế việc vay vốn ngân
hàng để tài trợ việc mua sắm thiết bị. Tuy nhiên giữa đi thuê tài chính và vay vốn ngân
hàng có những điểm giống và khác nhau. Thông qua bảng dới đây sẽ giúp chúng ta
phân biệt đợc 2 loại hình này.
11

Tiêu thức Thuê tài chính
Vay vốn trung dài hạn của
Ngân Hàng
Hình thức tài trợ Bằng hiện vật Bằng tiền
Đối tợng Các loại động sản Động sản và bất động sản
Quyền sở hữu
Do bên cho thuê chiếm giữ cho
đến khi quyền mua của bên
thuê đơc thực hiện
Bên đi vay chiếm giữ
ngay từ đầu

4.b Đặc điểm của Finance Lease

thuê.
+ Hợp đồng thuê cho phép ngời đi thuê đợc quyền chọn mua tài sản thuê với giá
thấp hơn ở một thời điểm nào đó hay đến khi chấm dứt thời hạn thuê.
+ Thời hạn thuê phải bằng 75% hoặc cao hơn đời sống hoạt động ớc tính của tài
sản thuê
+ Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% so với giá trị tài sản
thuê.
Nhìn chung trong luật của nhiều quốc gia thì tuỳ vào tình hình cụ thể mà những
nhà làm chính sách có một số thay đổi liên quan đến đặc điểm của tín dụng thuê mua.
Trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại của ISAC, mỗi quôc gia đều có những qui định cụ
thể trong luật thuê mua của họ dựa trên những điều kiện cụ thể của mỗi nớc. Những qui
định này có những khác biệt nhất định, song về cơ bản chúng không mâu thuẫn và tuỳ
theo mức độ những qui định này có thể chi tiết, cụ thể hơn. Chẳng hạn nh quyền chon
mua tài sản thuê khi kết thúc hợp đồng ở Anh, Nhật, Hàn quốc, Thái Lan, Pakistan là
không bắt buộc trong khi đó ở các quốc gia khác nh Mỹ, anh Nhật và Việt nam là bắt
buộc, nhng một số quốc gia khác thì bị cấm nh Malaysia, Singapore, ấn Độ. Thời hạn
thuê tính theo đời sống hữu dụng của tài sản thuê thì ở Anh là phần lớn, ở Mỹ là 75 %
tối đa không quá 30 năm, ở Nhật đối với loại tài sản < 10 năm thì tối đa là 70%, còn với
tài sản >10 năm là 60% và không quá 120%, với Hàn Quốc tài sản nhỏ hơn 5 năm là
70% còn lại là 60%, ở nớc ta qui định chung là lớn hơn 75%. Hiện giá các khoản tiền
thuê tối tiểu so với giá trị hợp lý của tài sản thì ở Indonexia thì là trả đủ tiền thuê, Hàn
Quốc thì không qui định, với Việt Nam và đa số các nớc thì qui định 90%.
Tại Việt nam, Thể lệ tín dụng thuê mua đã quy định 3 tiêu chuẩn làm cơ sở phân
biệt thuê mua tại điều 7 và Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban hành theo
quyết dịnh số 1025 TC/CĐKT ngày 14/12/1995 của Bộ trởng bộ Tài chính cũng quy
định 4 tiêu chuẩn để phân biệt thuê mua với các hình thức thuê khác.
Cụ thể nh sau:
Theo thể lệ tín dụng thuê mua, một giao dịch tín dụng thuê mua phải đáp ứng ít
nhất một trong những yêu cầu sau:
13



Ngời thuê sử dụng hầu hết thời gian hữu dụng của tài sản ( thờng chiếm
60%-70% )


Ngời thuê sở hữu tài sản thuê trong suốt thời hạn thuê. Phần lớn các chi phí bảo
trì, bảo hiểm, rủi ro thuế và các lợi ích phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản đợc
chuyển từ ngời cho thuê sang ngời thuê.


Hợp đồng cho thuê tài chính là một loại hợp đồng không đợc huỷ ngang.
14


Kết thúc hợp đồng thuê bên thuê có quyền mua lại tài sản thuê với giá tợng trng
đã đợc dự liệu trớc trong hợp đồng hoặc bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu hay ng-
ời thuê cũng có thể tiếp tục thuê tài sản hay làm đại lý bán tài sản đó tuỳ theo sự uỷ
quyền của ngời cho thuê.

5. Phân biệt cho thuê tài chính với cho thuê vận hành
Khi nói đến đặc điểm của một sự vật hiện tợng, ngoài việc nêu đợc bản chất thì
còn phải chỉ ra đợc sự khác biệt của sự vật hiện tợng đó với các sự vật hiện tợng gần t-
ơng đồng khác. Đối với cho thuê tài chính thì phải phân biệt đợc với hoạt động cho
thuê vận hành.
Sự phân loại giữa thuê vận hành và thuê tài chính dựa trên hai căn cứ cơ bản là:
- Những rủi ro và những biện pháp đảm bảo cho giá trị còn lại của tài sản thuê
do bên nào thực hiện.
- Quyền sử dụng và hởng toàn bộ các lợi ích kinh tế do tài sản thuê mang lại có
đợc chuyển giao cho ngời thuê hay không.

Giá trị hiện tại của các khoản tiền Có
thuê tối thiểu lớn hơn hay tơng
đơng với giá trị tài sản.
Thuê vận hành Thuê tài chính
Cũng có thể so sánh giữa thuê tài chính và thuê vận hành nh sau

Stt Tiêu thức Thuê vận hành Thuê tài chính
1 Quyền sở hữu Tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng
2 Thời hạn thuê Rất ngắn so với đời sống
hữu ích của tài sản
Thờng dài hơn một nửa cho tới
bằng đời sống hữu ích của tài sản
3 Quyền huỷ
Hợp đồng
Đợc quyền huỷ ngang
hợp đồng
Không đợc quyền huỷ ngang
Hợp đồng
4 Rủi ro Ngời cho thuê chịu mọi rủi
ro thiệt hại
Ngời thuê chịu mọi rủi ro thiệt
hại
5 Chi phí Ngời cho thuê chịu mọi
chi phí vận hành, bảo trì,
dịch vụ, phí bảo hiểm
Ngời thuê chịu mọi chi phí vận
hành, bảo trì, bảo hiểm
6 Ưu đãi về thuế Ngời cho thuê hởng và khấu trừ vào tiền thuê
7 Bồi thờng Tiền bồi thờng bảo Hiểm ngời cho thuê hởng
8 Cung ứng tài

xem xét đánh giá hoạt động cho thuê của công ty cho thuê tài chính.
1. Các loại công ty Leasing .
Tuỳ theo pháp luật của từng nớc qui định, nên mỗi nớc có những định nghĩa khác
nhau về công ty Cho thuê tài chính. Nhng nhìn chung có thể đa ra một định nghĩa tổng
quát nh sau: Công ty Leasing thờng là một định chế tào chính, và các Ngân hàng, các
tập đoàn công nghiệp có thể tham gia kinh doanh nh một chức năng hoạt động của các
tổ chức này. Một cách tổng quát Công ty Leasing hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cho
thuê
Tại các nớc phát triển nhìn chung công ty Leasing có thể chia làm 3 loại:
Công ty cho thuê tài chính độc lập ( Independent Leasing Company ): Loại hình
công ty này thờng đợc hình thành từ các chuyên gia tài chính có đầy đủ kiến thức kinh
nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu dự án, đánh giá giá trị tài sản... Các
công ty này thờng có một mạng lới kinh doanh rất rộng rãi và có khả năng sửa chữa, cải
tiến các loại thiết bị máy móc. Do đó họ có thể điều chuyển các loại máy móc thiết bị
đến những nơi khách hàng có nhu cầu hoặc cải tiến gia tăng thêm chức năng cho tài sản
để phù hợp với trình độ công nghệ đơng thời. ở nhiều nớc các công ty cho thuê tài
chính độc lập thờng tập trung cho thuê một số loại tài sản nhất định hay tập trung vào
một số ngành công nghiệp nhất định ( giao thông, nông nghiệp...)
Công ty cho thuê tài chính phụ thuộc (Captive Leasing Company): loại hình công
ty này thờng là các công ty con của các tập đoàn công nghiệp lớn. Các công ty này chủ
yếu cho thuê các tài sản do công ty mẹ sản xuất.
ữ Công ty cho thuê thuộc sở hữu ngân hàng (Bank-related Leasing Company): Loại
hình công ty này xuất hiện muộn hơn 2 loại hình công ty cho thuê ở trên và cách thức
17
kinh doanh của loại hình công ty này cũng có rất nhiều khác biệt với các loại hình công
ty cho thuê khác. Các công ty cho thuê thuộc sở hữu ngân hàng thờng cho thuê những
tài sản theo yêu cầu của khách hàng và với kinh nghiêm tài trợ, khả năng nguồn vốn
lớn... giúp cho các công ty này có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách hàng về các
loại tài sản có gía trị lớn, thời gian thuê kéo dài. tuy nhiên hoạt động của công ty này
cũng có nhiều điều bất lợi do thiếu các kiến thức chuyên môn về tài sản cho thuê.

số vốn nhất định. Số vốn này có tổng giá trị tối thiểu phải bằng với vốn pháp định.Tuỳ
thuộc loại hình sở hữu mà vốn tự có của công ty có các hình thức khác nhau. Một bộ
phận khác cũng rất quan trọng thuộc vốn tự có là lợi nhuận để lại sau khi công ty đã
hoạt động đợc một thời gian. Nhiều quan điểm cho rằng sử dụng vốn tự có không phải
tốn chi phí. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lý thuyết thì chi phí vốn của vốn tự có chính là
chi phí cơ hội (khái niệm chi phí vốn sẽ đợc làm rõ trong các phần sau.). ở đây, tỷ suất
lợi nhuận mà chủ sở hữu mong muốn trên phần lợi nhuận để lại mình bỏ ra là chi phí
của nó hoặc là tỷ suất lợi nhuận mà ngời chủ sở hữu mong đợi kiếm đợc từ khoản đầu t
có mức rủi ro tơng đơng.
- Phát hành trái phiếu (trong nớc hoặc nớc ngoài):
Trái phiếu là tên chung của các giấy vay nợ trung và dài hạn. Tuỳ theo luật pháp
và tập quán từng nớc các công tycó thể phát hành trai phiếu với các kỳ hạn khác nhau.
Ví dụ, các công ty Hoa Kỳ thờng phát hành trái phiếu với kỳ hạn phổ biến là 5 năm và
1 năm. Một trong những vấn đề cần xem xét trớc khi phát hành là lựa chọn loại trái
phiếu nao phù hợp nhất với điều kiện của công ty và tình hình của thị trờng tài chính.
Một số loại trái phiếu thờng đợc lu hành nh: Trái phiếu có lãi suất cố định và trái phiếu
có lãi suất thả nổi.
- Phát hành cổ phiếu:
Thông thờng, ngời ta chia cổ phiếu thành hai loại cổ phiếu thờng và cổ phiếu u tiên.
Tuy nhiên có thể khái quát cổ phiếu là loại giấy tờ có giá chứng nhận quyền sở hữu đối với
các tài sản của công ty phát hành cổ phiếu. Công ty cho thuê có thể phát hành cổ phiếu để
duy trì tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn (giữ vững khả năng thanh toán, củng cố uy tín tài chính),
hoặc để mở rộng quy mô.
- Vay nợ từ các tổ chức tín dụng khác (trong nớc hoặc nớc ngoài):
Khi đi vào hoạt động ổn định và xác lập đợc vị thế trên thị trờng, công ty
cho thuê tài chính có thể xin vay trung và dài hạn từ các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nớc để tìm kiếm mức lãi suất thấp. Số nợ này có thể đợc thế chấp bằng
quyền sở hữu các loại thiết bị đang tài trợ hoặc có sự bảo lãnh của các chủ sở hữu
công ty.. Kỳ hạn vay cũng là một vấn đề đợc đặc biệt lu ý đối với công ty.
- Nguồn vốn trả chậm tiền mua thiết bị.:

phải xây dựng đợc một cơ cấu vốn sao cho chi phí trung bình của vốn làm tối đa hoá
giá trị doanh nghiệp.( Chi phí trung bình của vốn chính là chi phí bình quân gia quyền hay
chi phí trung bình trọng số của vốn đầu t)
3.b Sử dụng vốn của công ty cho thuê tài chính
Công ty cho thuê tài chính tuy kinh doanh trong một nghành hẹp, thờng chỉ đợc
huy động vốn chủ yếu để cho thuê tài sản nhng dới những hình thức khác nhau. Mỗi
hình thức này lại tạo ra các lĩnh vực hoạt động phong phú.
Nghiệp vụ chủ yếu là cho thuê tài chính. Nói cách khác, công ty cam kết mua máy
móc thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài
20
sản thuê. Công ty chuyển quyền sử dụng cho bên thuê và thu tiền thuê trong suốt thời
hạn thuê đã đợc hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đợc chuyển
quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng thuê.
Giống với ngân hàng càng phát triển ở trình độ cao thì càng có nhiều hình thức cho
vay, công ty cho thuê tài chính cũng có thể cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức
khác nhau. Cụ thể ở đây chính là các loại cho thuê tài chính nh: cho thuê trực tiếp, cho
thuê đòn bảy, cho thuê bắc cầu, cho thuê liên kết, cho thuê trả góp, mua rồi cho thuê
lại... Tuy nhiên bên cạnh lĩnh vực hoạt động chủ yếu là cho thuê tài chính các công ty
cho thuê tài chính còn hoạt động trên một số lĩnh vực khác cũng liên quan đến thuê
mua hay cũng nhằm mục đích cho thuê. Vấn đề này sẽ đợc phân tích rõ ở phần dới đây.
4. Các lĩnh vực hoạt động của các công ty Leasing.
Trên thế giới công ty cho thuê tài chính có hoạt động khá đa dạng, sau đây là
một số lĩnh vực hoạt động chủ yếu:
4. a. Cho thuê tài chính (Finance Leasing)
Đây là thị trờng chủ yếu của các công ty cho thuê tài chính. Giao dịch cho thuê
tài chính thể hiện trên hợp đồng cho thuê. Thông thờng các công ty cho thuê tài chính
áp dụng một số hợp đồng cơ bản sau:
Hợp đồng cho thuê theo thoả thuận 3 bên:
Đa số hợp đồng cho thuê tài chính là loại hợp đồng theo thoả thuận 3 bên: bên

Công ty cho thuê tài sản Chủ sở hữu
Tài chính ban đầu
Quyền sở hữu pháp lý
Ngời mua Trả tiền mua tài sản Ngời bán Ngời cho thuê Hợp đồng thuê tài sản Ngời thuê

Trả tiền thuê tài sản
Đặc trng của hợp đồng cho thuê này là: Ngời thuê giữ lại quyền sử dụng thiết bị
trong khi chuyển giao quyền sở hữu. Theo thoả thuận bán và cho thuê lại thì ngời sử
dụng thiết bị sẽ bán thiết bị cho công ty cho thuê tài chính và ngời sử dụng thiết bị trớc
đó đã có quyền sở hữu hợp pháp thiết bi và thiết bị còn thời gian khả dụng hợp lý.
Công ty cho thuê thoả thuận mua thiết bị và cho ngời sử dụng thuê lại, lúc đó ngời sử
22
dụng trở thành ngời thuê thiết bị nh trong trờng hợp thoả thuận 3 bên, ngời thuê có đầy
đủ các nghĩa vụ thực hiệ hợp đồng về bảo dỡng và làm dịch vụ đối với thiết bị để đảm
bảo rằng thiết bị đợc giữ trong tình trạng hoạt động tốt.
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn hoạt động, họ không
muốn vay Ngân hàng hoặc không vay đợc nữa nhng họ vẫn muốn duy trì năng lực sản
xuất hiện có nên họ không muốn bán tài sản cố định, trong bối cảnh đó sử dụng hình
thức trên đáp ứng đợc yêu cầu của doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa có thêm vốn lu
động để kinh doanh,vừa có tài sản để sản xuất.
Hợp đồng tài trợ trực tiếp
Là loại hợp đồng mà ngời cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn tài trợ cho ngời
thuê. Ngời cho thuê là nhà sản xuất hoặc cũng có thể là nhà sản xuất hoặc cũng có thể
là Công ty cho thuê tài chính sử dụng tài sản của mình để tài trợ cho bên thuê.

Hợp đồng thuê
Ngời cho thuê Ngời thuê

Chi nhánh Các mối quan hệ nh
thoả thuận 3 bên
Hợp đồng cho thuê bắc cầu
Đây là một hình thức đặc biệt của thuê mua thuần chỉ mới đợc phổ biến trong
thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty cho thuê tài chính có những hạn
chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng.
Theo thể thức thuê mua này, ngời cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một
hay nhiều ngời cho vay nào đó. Theo luật pháp của một số quốc gia khoản tiền vay này
không đợc vợt quá 80% tổng giá trị của tài sản tài trợ. Vật thế chấp cho khoản vay này
là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà ngời thuê sẽ trả trong tơng
lai. Ngời chovay đợc hoàn trả tiền đã cho vay từ các khoản tiền thuê, thờng do ngời
thuê trực tiếp trả theo yêu cầu của ngời cho thuê. Sau khi trả hết món nợ vay, những
khoản tiền còn lại sẽ đợc trả cho ngời chi thuê.
Về phía ngời thuê, không có sự khác biệt trong mối quan hệ giao dịch với ngời
cho thuê so với các phơng thức khác. Hình thức này đem lại lợi nhuận và mở rộng khả
năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của công ty cho thuê tài chính.
Ngời Ngời
24
Ngời
Tiền trả nợ Tiền thuê
cho cho thuê
Tiền cho vay Tài sản
vay thuê

Hình thức này thờng đợc sử dụng trong những giao dịch giao dịch thuê mua đòi
hỏi một lợng vốn đầu t lớn, chẳng hạn thuê mua một máy bay thơng mại hay một tàu
chở hàng hoặc một tổ hợp chuyên ngành lớn
Hợp đồng cho thuê giáp lng
Là phơng thức tài trợ mà trong đó đợc sự thoả thuận của ngời cho thuê, ngời thuê
thứ nhất cho ngời thuê thứ hai thuê lại tài sản mà ngời thuê thứ nhất đã thuê từ ngời

ờng là các nhà sản xuất, họ là những ngời bảo dỡng và chịu mọi rủi ro về hao mòn
thiết bị. Vân hành thiết bị trong thời gian cho thuê có thể là nhà cho thuê.
Các công ty cho thuê tài chính nớc ngoài đã áp dụng cho thuê vận hành ở Việt
Nam từ lâu, các thiết bị lớn, có giá trị nh máy bay, tàu thuỷ ở Việt Nam hầu nh phải
đi thuê vận hành từ nớc ngoài, trong mấy năm trở lại đây hình thức này phát triển
mạnh mẽ. Một số công ty chuyên cung cấp máy móc thiết bị đặc biệt là thiết bị thi
công cơ giới áp dụng nhiều hình thức cho thuê vận hành vì thiết bị này có giá trị lớn
mà các doanh nghiệp có thể sử dụngthời gian ngắn: Các loại cẩu nâng có công suất
lớn, các máy nén cọc, các thiết bị thi công các toà nhà cao tầnghình thức này cũng
áp dụng với các phơng tiện giao thông bình thờng. Gần đây các nhà đầu t nớc ngoài
cũng đã áp dụng hình thức cho thuê vận hành đối với máy móc thiết bị dùng cho công
nghiệp, nh công ty dệt Việt Thắng, bắt đầu thực hiện vào năm 1994 với 4 nhà đầu t nớc
ngoài. Hai công ty của Nhật Bản và hai của Hàn Quốc đã thực hiện một hợp đồng với
90 chiếc máy chuyên dụng trị giá gần 5 triệu USD. Với phơng thức cho thuê: Nhà đầu
t nớc ngoài cho phía Việt nam thuê thiết bị hiện đại, tiền thuê máy đợc tính theo lợng
sản phẩm làm ra trên thiết bị đó. Phía nớc ngoài cùng hớng dẫn kỹ thuật cùng sáng tạo
mẫu mã và bao tiêu một phần sản phẩm tại thị trờng nớc ngoài. Phía Việt Nam tự quản
lý sản xuất. Theo đánh giá của công ty dệt Việt Thắng hình thức cho thuê máy móc
26
thiết bị là rất tốt đã làm phần lãi của công ty tăng thêm ngay năm đầu tiên đi vào sản
xuất là 430 triệu đồng và năm sau là trên nửa tỷ. Đây là một hình thức đầu t không cần
vốn giải quyết đơc vấn đề chuyển giao công nghệ, việc làm cho ngời lao động. Hình
thức này đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề thiết bị sản
xuất hiện đại cho các công ty ở Việt nam.
4.c Cho thuê trả góp ( Purchase Arrangement Lease ).
Trả góp là một hình thức tài trợ vốn thờng đơc áp dụng cho mua sắm đồ dùng gia
đình, đây cũng là một hình thức đơc các công ty cho thuê tài chính trên thế giới trong
đó có Việt Nam áp dụng.
Trong hầu hết mọi giao dịch, thuê mua trả góp là một hình thức tài trợ cho các
doanh nghiệp không có thế chấp. Khi một doanh nghiệp thuê mua tài sản theo hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status