TIỂU LUẬN:
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
Thời cơ và thách thức
Lời giới thiệu Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới ở
mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qua lại với nhau.
Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế của thời đại và khó
tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tuy có phải
trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi nước,
mỗi quốc gia.
Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã đưa ra văn
kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai mặt đó có
duy. V.I. Lênin nhấn mạnh thêm: Phép biện chứng là học thuyết sâu sắc nhất,
không phiến diện về sự phát triển.
1.2. Nội dung của phép biện chứng duy vật
1.2.1. Hai nguyên lý cơ bản:
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
- Nguyên lý về sự phát triển
1.2.2. Các cặp phạm trù cơ bản:
- Cái riêng - cái chung
- Bản chất - hiện tượng
- Tất nhiên - ngẫu nhiên
- Nội dung - hình thức
- Nguyên nhân - kết quả
- Khả năng - hiện tượng
1.2.3. Ba quy luật cơ bản:
- Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
- Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
- Quy luật phủ định của phủ định.
2. Một trong hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Trên cơ sở kế thừa các giá trị về tư tưởng biện chứng trong kho tàng lý luận
của nhân loại, đồng thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự
nhiên thế kỷ XIX (khoa học về các quá trình, về nguồn gốc, về mối liên hệ và sự
phát triển) phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến của các sự vật và hiện tượng trong thế giới, coi đây là đặc trưng cơ bản của
phép biện chứng duy vật.
2.1. Khái niệm:
- Liên hệ: Là sự quy định lẫn nhau , tác động lẫn nhau giữa các yếu tố trong
vật. Cùng là một sự vật nhưng ở trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau sẽ có
những tính chất khác nhau.
Yêu cầu:
Khi nghiên cứu xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ
thể, trong không gian thời gian xác định mà nó đang tồn tại vận động và phát triển
đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều kiện hoàn cảnh của môi
trường đối với sự tồn tại của sự vật, đối với tính chất của sự vật và đối với xu
hướng vận động và phát triển của nó.
- Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong thực tiễn cần phải tính đến điều
kiện cụ thể của nơi vận dụng tránh bệnh giáo điều dập khuôn, máy móc, chung
chung.
3. Tại sao phải vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến vào phân
tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
quốc tế.
Sau khi nghiên cứu kỹ phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biên ta
dễ ràng nhận ra rằng sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau
chuyển hoá lẫn nhau hay nói cách khác mọi sự vật hiện tượng tồn tại phải có mối
liên hệ với các sự vật hiện tượng khác chứ không thể tồn tại một cách tách biệt độc
lập. Sở dĩ các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau là vì chúng là biểu hiện
của vật chất vận động. Có nguồn gốc chung từ vật động mà khi sự vận động có
nghĩa là có mối liên hệ và các mối liên hệ của sự vật là cái khát quan vốn có của
sự vật. Chính vì vậy khi xem xét việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta
không thể tách rời khỏi việc hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại. Hơn nữa theo
quan điểm toàn diện khi xem xét một sự việc hiện tượng mà cụ thể ở đây việc xây
dựng độc lập tự chủ chúng ta phải xem xét nó trong tính toàn vẹn của nhiều mối
liên hệ khác nhau, nhiều mặt khác nhau mà cụ thể đây là ảnh hưởng của việc xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại. Có như
Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “toàn cầu hóa” nền kinh tế, mở cửa hội
nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén, không
thức thời, thậm chí là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Thế giới bây giờ là một thị trường
thống nhất, cần thứ gỡ thỡ mua, thiếu tiền thỡ đi vay, sao lại chủ trương xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ (?!)
Nói như vậy mới nghe qua thỡ thấy cú vẻ cú lý, nhưng nếu suy ngẫm kỹ thỡ
thấy khụng cú cơ sở khoa học, vỡ nú quỏ ư giản đơn và phiến diện. Chúng ta biết
rằng, độc lập tự chủ là một xu thế phát triển của thế giới. Trong điều kiện “toàn
cầu hóa”, liên doanh, liên kết rất đa dạng và phức tạp như hiện nay lại càng phải
giữ vững tính độc lập tự chủ.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm,
đường lối chính trị độc lập tự chủ mà cũn là đũi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm
độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu quả
cho chính ngay nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Khi đó cú
độc lập tự chủ về chớnh trị thỡ nội dung cơ bản của độc lập tự chủ của một quốc
gia là có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ hay không. Đây là kinh nghiệm
của nước ta và cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Vả chăng, nước ta phát triển kinh tế để đi lên chủ nghĩa xó hội, bối cảnh quốc tế cú
nhiều diễn biến phức tạp, cỏc lực lượng chống đối chủ nghĩa xó hội thường xuyên
tỡm cỏch ngăn cản và chống phá sự nghiệp xây dựng chế độ xó hội chủ nghĩa ở
nước ta. Nếu không xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ thỡ dễ bị lệ thuộc, bị
cỏc thế lực xấu, thự địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo, hoặc khống chế, ép
buộc chúng ta thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xó hội.
Núi cỏch khỏc, cú xõy dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thỡ mới tạo được cơ
sở kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Độc lập tự
chủ về kinh tế là nền tảng vật chất để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ bền vững về
chính trị. Không thể có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh tế. Độc
tế, củng cố quốc phũng - an ninh.
1.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay
Trước hết phải kể đến mức tăng trởng cao.
Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) trong thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình quân
hàng năm là 7,4%, theo đó tổng giá trị GDP đạt gấp đôi năm 1990, GDP theo đầu
ngời tăng 1,8 lần.
Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Giá
trị sản lợng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6%. Trong đó nông nghiệp
tăng 5,4%, thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%.
Nổi bật nhất là sản 1ợng lơng thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu tấn. Sản
lợng lơng thực năm 2000 đạt 34 triệu tấn, đa mức lơng thực bình quân đầu ngời từ
294,9 kg năm 1990 lên trên 436 kg năm 2000. Việt Nam từ nớc nhập khẩu lơng
thực hàng năm, trở thành nớc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới.
Sản lợng của một số cây công nghiệp trong thời kỳ 1999-2000 đã tăng khá
cao: cà phê tăng 4,7 lần, cao su 4,5 lần, chè tăng 2 lần, mía tăng 3 lần, bông tăng
9,7 lần.
Sản lợng thuỷ sản tăng bình quân trong 10 năm là 8,85%: Giá trị sản lợng
công nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua là khoảng 12,8 – 13%/năm
Công nghiệp chế biến đã có tốc dộ tăng trởng khá và đã chiếm tới 60,6% giá
trị toàn ngành công nghiệp năm 1999.
Dầu khí có tốc độ tăng trởng cao nhất trong toàn ngành công nghiệp. Sản l-
ợng dầu thô năm 2000 đã tăng gấp 6 lần so với năm 1990.
Sản lợng điện phát ra năm 2000 so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, sản lợng
thép cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần, phân hoá học 4,2 lần, giầy dép da 14,9
lần, giầy vải 4,9 lần, bột giặt 4,6 lần, đờng 3,6 lần, bia 7,3 lần
Giá trị sản phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng trung bình hàng năm là 20%.
Các ngành dịch vụ đã tăng trởng nổi bật trong các ngành thơng mại, du lịch,
bu chính viễn thông.
điểm - Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng -
Quảng Ngãi, đồng thời đã dành sự quan tâm cần thiết tới những miền núi, vùng xa,
vùng sâu, những xã nghèo.
Cơ cấu vốn đầu t phát triển đã chuyển từ u tiên phát triển công nghiệp nặng
sang u tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kết cấu hạ
tầng, các ngành xuất khẩu, các lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội.
Trong thời kỳ 1991-2000, vốn đầu t cho nông nghiệp và nông thôn tăng bình
quân hàng năm là 22,9%, vốn đầu t phát triển cho kết cấu hạ tầng giao thông vận
tải, thông tin liên lạc đã tăng bình quân hàng năm là 24,5%, vốn đầu t phát triển
cho các ngành công nghiệp tăng bình quân hàng lăm là 27,1%, vốn đầu t cho lĩnh
vực khoa học công nghệ giáo dục, đào tạo, y tế và văn hoá đã tăng bình quân hàng
năm là 23,6%.
Thứ ba, các vấn đề xã hội bức xúc đã có những chuyển biến tích cực.
Mức sống của dân c cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã đợc cải thiện
một bớc rõ rệt thể hiện trên các mặt: GDP theo đầu ngời: trong 10 năm qua đã tăng
1,8 lần thu nhập bình quân mỗi ngời 1 tháng đã tăng 3,2 lần. Số học sinh đi học
các cấp học khác nhau từ tiểu học đến đại học đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong
10 năm qua; chỉ số HDI đã đợc nâng lên từ thứ 122/174 nớc năm 1995 lên
110/174 nớc năm 1999.
Tỷ lệ tăng dân số năm 1988 là 2,28% đã giảm xuống còn 1,53% năm 2000;
năm 1998 Việt Nam đã đợc Liên hợp quốc tặng giải thởng về công tác dân số.
Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Năm 1990 tỷ
lệ trẻ dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng là hơn 50% tỷ lệ chết của trẻ em dới 1 tuổi là
46%, dới 5 tuổi là 69,5%, tuổi thọ trung bình là 64, chiều cao trung bình của thanh
niên là 1,6m. Đến năm 1998 các chỉ tiêu tơng ứng trên đây đã đợc cải thiện rõ rệt:
38,9%; 39%, 48,5%, 68 tuổi; 1,62m.
Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30,0% năm 1992 xuống còn 10,6% năm
cân thương mại và các chi phí khác về ngoại tệ.
Thứ ba là nợ quốc tế tăng gia với tốc độ nhanh hàng năm đưa đến tình hình
nợ đáo hạn và vốn lời phải trả mỗi năm mỗi tăng. Muốn trả nợ quốc tế, chỉ có 2
phương pháp: (a) xuất siêu để có dư cân thương mại để trả nợ, (b) hoặc vay nợ
mới để có ngoại tệ trả nợ cũ. Trong thập niên 90, chúng ta không có xuất siêu vậy
phải áp dụng biện pháp vay nợ mới trả nợ cũ, cả vốn lẫn lãi, khiến cho nợ quốc tế
tăng gia nhanh theo định luật lãi kép. Nợ quốc tế, nếu ước hơn 15 tỷ USD thì bằng
đến khoảng 50% GDP của nước ta, ước khoảng 30 tỷ USD.
Nợ quốc tế tăng, đến một mức nào đó, có thể dẫn đến tình hình khủng hoảng
tài chính - tiền tệ như đã xảy ra tại Thái Lan. Khi ấy, cơ quan tiền tệ quốc tế đã đề
nghị với Thái Lan những biện pháp "trọn gói" trong đó có nhiều biện pháp mà
Thái Lan cho rằng vi phạm nền độc lập tự chủ kinh tế quốc gia, nhưng sau đó
chính phủ Thái Lan đã buộc phải nhận. Tình hình nợ quốc tế của nước ta so với
Thái Lan ít hơn nhiều, nhưng bài học Thái Lan cho thấy là nợ quốc tế tăng có thể
đưa đến việc ngân hàng trung ương không còn khả năng thanh toán quốc tế, đặc
biệt là các trang trải nhập khẩu thông thường và lúc bấy giờ sẽ xảy ra khủng hoảng
tài chính, tiền tệ.
Thứ tư: hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ kỹ thuật, khoa học, vốn
quốc tế. Tuy nhiên các công ty nước ngoài chỉ đầu tư ở Việt Nam nếu họ có lợi.
Như vậy, chúng ta ở trong thế yếu, chỉ có khả năng hạn chế họ bớt lợi mà thôi,
nhưng nếu đầu tư mà chỉ thu được lợi ít, họ sẽ ngưng hay giới hạn lượng đầu tư.
Kinh nghiệm chó thấy, trong thập niên 90, những thiết bị được đầu tư ở Việt Nam,
thường là những thiết bị cũ, thị phần các doanh nghiệp Việt Nam giảm nhanh
trong khi thị phần các công ty có vốn nước ngoài tăng nhanh, nhiều công ty phía
Việt Nam có phần hùn khoảng 30% nhờ phần đóng góp mặt bằng, nhà đất đã
chuyển thành công ty có vốn nước ngoài 100%do nhiều lý do, trong số có lý do
phía nước ngoài đề nghị tăng vốn nhưng bên Việt Nam không có khả năng đáp
khủng hoảng kinh tế - tài chính nổ ra năm 1997 ; vị trí các nước và các khu vực
thay đổi theo hướng : kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều
năm và đến 2002 bắt đầu suy giảm ; kinh tế Tây Âu hiện không cũn phỏt triển
nhanh như các thập kỷ trước ; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lối ra ; các nước
thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu rơi vào tỡnh trạng suy thoỏi trầm trọng và
kộo dài ; vài năm gần đây đó tăng trưởng tương đối khá ; trong khi đó kinh tế
Trung Quốc phát triển "ngoạn mục" ; Đông Á và Đông - Nam Á phát triển nhanh
vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước, vừa qua đó rơi vào suy thoái và
nay đang hồi phục ; Nam Á và nhất là châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tỡnh trạng trỡ
trệ kộo dài ; kinh tế Mỹ La-tinh cú khỏ hơn song cũng không ổn định.
"Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng cao,
tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trỡnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xó hội". Dưới tác động của
những chiều hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi về chất, các ngành
công nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao, nhất là
công nghệ thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm thay đổi sâu sắc cơ
cấu sản xuất, tiêu dùng, trao đổi cũng như phương thức làm ăn và cả sinh hoạt,
giao lưu.
2.2.2. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển ngày càng nhanh
Vũng đàm phán U-ru-goay kết thúc, Hiệp định Ma-ra-két được ký kết, Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời từ 01- 01-1995 thu hút tới 136 và nay là
144 quốc gia và lónh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buụn bỏn quốc tế, theo
hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế, mở cửa thị trường hàng
hóa, đầu tư, dịch vụ Bên cạnh sự ra đời của WTO, xuất hiện rất nhiều tổ chức
tiểu vùng, khu vực, liên khu vực như các tam, tứ giác phát triển, các khu vực mậu
dịch tự do (AFTA, NAFTA), những tổ chức liên kết toàn châu lục (EU) hoặc giữa
các châu lục (APEC).
ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trỡnh phỏt triển đất nước nói
chung và quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế núi riờng.
2.3. Những kết quả đạt được khi Việt Nam tham gia quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế
Quỏ trỡnh hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thời
gian qua đó mang lại cho chỳng ta những kết quả quan trọng :
2.3.1. Chúng ta đó làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập nước ta
của các thế lực thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường
và thương trường thế giới.
2.3.2. Không những chúng ta đó khắc phục được tỡnh trạng khủng hoảng thị
trường do Liên Xô và hệ thống xó hội chủ nghĩa thế giới tan ró gõy nờn, mà cũn
mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu.
Trong quỏ trỡnh hội nhập, chỳng ta đó nhanh chúng mở rộng xuất nhập
khẩu, thỳc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc làm, tăng thu ngân
sách. Nếu năm 1990 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ USD và nhập khẩu
2,752 tỷ USD thỡ năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đó đạt 15,1 tỷ USD (nếu tính cả
dịch vụ thỡ đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bỡnh trên 20% mỗi năm, có năm tăng
30% ; riêng năm 2001 do ảnh hưởng của tỡnh hỡnh kinh tế khú khăn trên thế giới
và ở khu vực và giá cả các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giảm mạnh, nên xuất khẩu
chỉ tăng gần 5%.
2.3.3. Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), bổ
sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo được những
thành tựu kinh tế to lớn, quan trọng.
Tháng 12-1987, chúng ta đó ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ
đó đến nay đó thu hỳt được trên 42 tỷ USD vốn đầu tư, với trên 3 000 dự án, đó
thực hiện khoảng 21 tỷ USD trong số đó. Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
tạo có kiến thức quản lý đang hỡnh thành.
2.4. Những mặt yếu kém và tồn tại khi Việt Nam tham gia vào quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiờn, qua quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta cũng bộc lộ
nhiều mặt yếu kộm :
2.4.1. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đó được khẳng định trong nhiều
nghị quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đó được thực hiện
từng bước, nhưng nhận thức về nội dung, bước đi, lộ trỡnh hội nhập cũn giản đơn ;
các ngành, các cấp và khá đông cán bộ chưa nhận thức đầy đủ những thách thức
và cơ hội để từ đó có kế hoạch chủ động vươn lên vượt qua thách thức, nắm bắt
thời cơ để phát triển ; không ít chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới
cho phù hợp với yêu cầu hội nhập.
2.4.2. Công tác hội nhập kinh tế quốc tế mới được triển khai chủ yếu ở các
cơ quan Trung ương và một số thành phố lớn, sự tham gia của các ngành, các cấp,
của các doanh nghiệp cũn yếu và chưa đồng bộ. Vỡ vậy, chưa tạo được sức mạnh
tổng hợp cần thiết bảo đảm cho quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả
cao.
2.4.3. Chưa hỡnh thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập
kinh tế quốc tế, một lộ trỡnh hợp lý thực hiện cỏc cam kết quốc tế.
2.4.4. Nhiều doanh nghiệp cũn ớt hiểu biết về thị trường thế giới và luật pháp
quốc tế, năng lực quản lý kộm, trỡnh độ công nghệ cũn lạc hậu, hiệu quả sản xuất
kinh doanh và khả năng cạnh tranh cũn yếu, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao
cấp và bảo hộ của Nhà nước cũn nặng.
2.4.5. Môi trường kinh doanh ở nước ta tuy đó được cải thiện đáng kể song
chưa thật thông thoáng : hệ thống luật phỏp cũn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đủ rừ
ràng và nhất quỏn ; kết cấu hạ tầng phỏt triển chậm ; trong bộ mỏy hành chớnh
cũn nhiều biểu hiện của bệnh quan liờu và tệ tham nhũng, trỡnh độ nghiệp vụ yếu
tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế là mối quan hệ tương hỗ, có tính
biện chứng; hội nhập càng chất lượng thì độc lập tự chủ càng cao. Độc lập tự chủ
càng cao thì càng có điều kiện chủ động, tích cực hội nhập. Việc xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ hiện nay không hề mâu thuẫn với quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế.
Chương III
Những giải pháp và kiến nghị
1. Đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
1.1. Mục tiêu: phấn đấu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong phát
triển kinh tế thị trường và chủ động mở cửa hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế
thế giới; tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động qốc tế,
trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có
hiệu quả trên thương trường quốc tế.
1.2. Một số điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Một là, có đường lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội
theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm phát triển của thế giới rất phong
phú, có giá trị tham khảo đối với nớc ta, song không thể áp dụng máy móc, rập
khuôn, giáo điều mà cần tính tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và lợi ích của nớc ta.
Hơn nữa, nếu thiếu độc lập tự chủ về đờng lối hoặc để phụ thuộc vào sự áp đặt đ-
ờng lối và chính sách từ bên ngoài thì sẽ dẫn tới những tai hại khó lờng. Đây là
một bài học lớn mà chúng ta đã tổng kết và khẳng định.
Hai là, phải có thực lực kinh tế đủ mạnh, không chỉ có tiềm lực kinh tế,
khoa học và công nghệ, mà còn phải có cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh:
- Giá trị sản xuất trong nớc đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân và có mức tích lũy ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế. Trong những năm
chiến tranh trớc đây, cho đến hết thập kỷ 80 của thế kỷ trớc, nền kinh tế nớc ta cha
chủ vững chắc về kinh tế của nớc ta, còn ở giai đoạn khởi đầu.
- Có kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và một số ngành công nghiệp nặng
then chốt. Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất cơ bản của nền kinh tế và xã hội.
Chúng ta phải chăm lo xây dựng từng bớc cả kết cấu hạ tầng kinh tế (giao thông,
điện lực, bu chính viễn thông, thủy lợi, cấp - thoát nớc ) và kết cấu hạ tầng xã hội
(trờng học, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu khoa học, văn hóa, thông tin, thể dục thể
thao ) Yêu cầu về lĩnh vực này thật sự to lớn, dù là ở mức tối thiểu, để tạo điều
kiện tiền đề cho sự phát triển. Do đó, phải khẩn trơng xây dựng có hiệu agóp phần
đạt mục tiêu sớm vợt qua tình trạng kém phát triển.
Sức mạnh kinh tế của nớc ta chủ yếu và về lâu dài phải dựa vào sức mạnh
của nền công nghiệp. Trong nền công nghiệp này, cần thiết và có thể phát triển
một số ngành công nghiệp nặng có tính chất nền tảng để tạo sức mạnh công nghiệp
quốc gia. Phải có cơ sở công nghiệp then chốt để sản xuất t liệu sản xuất quan
trọng đáp ứng nhu cầu trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng.
Ba là, giữ vững ổn định kinh tế tài chính vĩ mô, bảo đảm an ninh lơng thực,
an toàn năng lợng, môi trờng
Về kinh tế - tài chính: trong quá trình phát triển, cần luôn luôn duy trì các
cân đối kinh tế - tài chính vĩ mô thông qua công tác kế hoạch hóa đúng đắn và điều
hành chặt chẽ, nhạy bén các hoạt động ở tầm vĩ mô và có tính chiến lợc, xây dựng
và vận hành một hệ thống tài chính - tiền tệ lành mạnh. Một vấn đề cần đặc biệt
coi trọng là phải có một lợng dự trữ ngoại tệ cần thiết để bảo đảm an toàn cho các
dịch vụ trả nợ đến hạn, dự phòng ứng phó với những thâm hụt về cán cân thanh
toán quốc tế và những biến động bất thờng của thị trờng tài chính, tiền tệ trong nớc
và ngoài nớc.
Về an ninh lơng thực quốc gia: nớc ta có dân số đông thứ hai khu vực
Đông - Nam á, thứ 13 trên thế giới, gần 80% số dân c sống ở nông thôn và chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp. Do đó vấn đề bảo đảm an ninh lơng thực trong cả
2.2. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trỡnh hội nhập.
2.2.1. Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là : "Chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xó hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ớch dõn tộc ; an ninh quốc gia, giữ gỡn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ
môi trường".
2.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dõn ; trong quỏ trỡnh
hội nhập cần phỏt huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của
toàn xó hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo.
2.2.3. Hội nhập kinh tế quốc tế là quỏ trỡnh vừa hợp tỏc, vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn
khéo và linh hoạt trong việc xử lý tớnh hai mặt của hội nhập tựy theo đối tượng,
vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể ; vừa phải đề phũng tư tưởng trỡ trệ, thụ
động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.
2.2.4. Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch
và lộ trỡnh hợp lý, vừa phự hợp với trỡnh độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng
các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia ; tranh thủ
những ưu đói dành cho cỏc nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế
chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường.
2.2.5. Kết hợp chặt chẽ quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế với yờu cầu giữ
vững an ninh, quốc phũng, thụng qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp
của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những
mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ "diễn biến hũa bỡnh" đối với nước
ta.
2.3. Một số nhiệm vụ cụ thể trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.3.1 - Tiến hành rộng rói cụng tỏc tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong
các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp