Phần mở đầu
Sự nghiệp đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
sang cơ chế thị trờng của Việt Nam đã và đang đợc xúc tiến rất mạnh mẽ. Quá
trình tái cấu trúc nền kinh tế đơc tiến hành đồng thời với quá trình Công nghiệp
hoá - Hiện đại hóa. áp lực đòi hỏi phải có sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao
phát sinh từ nhiều phía : nguy cơ tụt hậu, tỷ lệ gia tăng dân số cao, nạn thất
nghiệp trầm trọngĐể tránh khỏi nguy cơ tụt hậu phải tạo ra những bớc
chuyển mạnh mẽ về năng suất chất lợng, hiệu quả trong sản xuất để trong
khoảng thời gian từ 15 đến 20 năm biến nền kinh tế nớc ta thành một nền kinh
tế có trình độ công nghiệp có trình độ hiện đại trung bình so với thế giới. Đồng
thời nâng cao mức sống của nhân dân, tạo đà cho những bớc phát triển bền vững
tiếp theo.
Xuất phát từ chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và những năm
kế tiếp, với trọng tâm thực hiện chơng trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nền
kinh tế nhu cầu vốn đầu t cho toàn bộ xã hội vào khoảng trên 50 tỷ USD. Riêng
nhu cầu vốn phục vụ cho mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa cũng là một
thách thức to lớn đối với Việt Nam chúng ta. Hơn nữa trong tiến trình đó yêu
cầu phải làm nhiều việc trong nhiều lĩnh vực. Mỗi hoạt động Công nghiệp hoá -
Hiện đại hóa có những đặc điểm tính chất khác nhau đòi hỏi phải tìm những
nguồn vốn thích ứng với từnh hoạt động này. Điều đó đòi hỏi dù trên phạm vi
kinh tế vĩ mô hay trên trên phạm vi vi mô của từng doanh nghiệp, những tế bào
của nền kinh tế, đều phải đợc nghiên cứu khả thi tỷ mỷ, dới hình thức một dự án
đầu t đợc tuyền chọn nghiêm túc. Nh vậy các giải pháp tạo vốn đầu t phải nằm
ngay trong các dự án đầu t có hớng đích Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa.
Trong số các dự án đầu t này có những dự án đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Tuy nhiên đầu t đổi mới kỹ thuật công nghệ bằng máy móc thiết bị hiện đại là
một bài toán mà không phải doanh nghiệp nào cũng giải đợc, số doanh ngiệp có
đáp án thành công càng hiếm hoi. Loại dự án này thờng đòi hỏi vốn lớn thuộc
loại đầu t trung dài hạn có nhiều rủi ro. Do đó muốn tìm vốn tài trợ cho loại dự
án đầu t này phải chứng minh tính khả thi cao, tỷ lệ sinh lời hấp dẫn và đợc
đa khoảng 70% - 80% giá trị. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể thơng lợng với
công ty cho thuê tài chính để áp dụng phơng thức bán và tái thuê. Theo đó
doanh nghiệp có thể bán một phần tài sản của mình cho công ty cho thuê tài
chính, đồng thời ký hợp đồng thuê lại tài sản đó. Nhờ vậy mà doanh nghiệp có
thể thu hồi một số vốn tiền tệ để đầu t vào việc khác mà vẫn tiếp tục đơc sử
dụng tài sản, không bị gián đoạn các hoạt động sản xuất kinh doanh.
2
Xét từ góc độ ở cấp vĩ mô của toàn nền kinh tế, phơng thức tín dụng thuê
mua cũng là một phơng thức huy động vốn nớc ngoài tài trợ trung dài hạn cho
các doanh nghiệp trong nớc. Nhu cầu trang bị Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa
các nghành kinh tế không nhất thiết chỉ có con đờng mời gọi vốn FDI, đầu t hợp
tác liên doanh. Ngoài ra theo qui định của IMF ( Quỹ tiền tệ quốc tế) thì các
khoản nợ do thuê mua máy móc thiết bị ở nớc ngoài không tính vào tổng số nợ
nớc ngoài của nớc đó. Do đó Leasing cũng sẽ có ý nghĩa đối với Việt Nam
chúng ta đang trong giai đoạn vận động và tiếp nhận nguồn vốn ODA dới
những điều kiên khống chế hạn mức nợ nớc ngoài từ các định chế tài chính
quốc tế đa ra. Hiện nay số nợ nớc ngoài của Việt Nam cha phải lên tới con số
quá lớn nhng có thể nói cũng không phải là nhỏ.
Chính từ những lợi ích to lớn của tín dụng thuê mua, một kênh dẫn vốn
quan trọng tới các doanh nghiêp, một trong những nhân tố đẩy nhanh trình độ
phát triển công nghệ đã khiến nó trở thành một đề tài đợc tìm hiểu và nghiên
cứu nhằm ứng dụng vào nớc ta trong những năm gần đây. Với Việt Nam trong
công cuộc đầu t Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nền kinh tế thì nhu cầu vốn
đầu t là rất lớn. Tuy nhiên trong thời gian qua vốn đầu t để đổi mới máy móc
thiết bị còn bị hạn chế bởi cơ chế đầu t còn nhiều bất cập. Nhằm khắc phục thực
trạng này việc đa ra một cơ chế đầu t hợp lý là điều cấp thiết. Chính vì vậy sự ra
đời của một số công ty cho thuê tài chính ở Việt nam là một giải pháp hữu hiệu.
Một trong số các công ty đó là Công ty cho thuê tài chính Ngân Hàng
Công Thơng Việt Nam
Tiện ích của nghiệp vụ cho thuê tài chính mang lại không phải là nhỏ. Nó là
Cho thuê tài sản là một công cụ tài chính đã đợc sáng tạo từ rất sớm trong
lịch sử văn minh nhân loại. Theo các th tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản
đa xuất hiện từ năm 2800 trớc CN tại thành phố của ngời Sumerian của ngời
UR. Các thầy tu giữ vai trò ngời cho thuê, ngời thuê là những nông dân tự do.
Tài sản đợc đem ra giao dịch thờng là công cụ sản xuất nông nghiệp. Vào
khoảng năm 1700 trớc CN, vau Babilon là Hamnurabi đã ban hnàh nhiều văn
bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đa những qui định về hoạt
động cho thuê tài sản. trong các nền văn minh cổ đại khác nh Hy Lạp, Lã Mã
hay Ai Cập cũng xuất hiện các hình thức cho thuê để tài trợ cho việc sử dụng
đất đai, gia súc, công cụ sản xuất. Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề giao dịch
thuê mua ngày nay gặp phải đã đợc giải quyết từ nhiều thế kỷ trớc. Tuy nhiên
các giao dịch thuê mua thời cổ đại thuộc hình thức thuê mua kiểu truyền thống
(Traditional Lease). Phơng thức giao dịch của hình thức này tơng tự nh hình
thức thuê vận hành ngầy nay và trong lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của nó đã
không có sự thay đổi lớn nào về tính chất giao dịch.
Đầu thế kỷ 19, hoạt động thuê mau đã có sự gia tăng đáng kể về số lợng và
chủng loại thiết bị, tài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ này, giao
dịch thuê mau đã có những bớc phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa Kỳ. Nguyên
nhân của sự phát triển này là do hoạt động thuê mua đã có những thay đổi về
tính chất của gia dịch. Đó là sự xuất hiên của nghiệp vụ chi thuê tài chính
(Finace Leasing). Nó xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ, do công ty t bản Unitel State
Leasing Corporation sáng tạo ra. Sau đó nghiệp vụ Leasing phát triển sang Châu
Âu và đã đợc ghi vào luật thuê mau của Pháp, năm 1960 với tên gọi Crédit
Bail. Cũng năm 1960 hợp đồng thuê mau đầu tiên đã đợc thảo ra ở Anh.
Từ khi xuất hiện hình thức cho thuê tài chính, các hoạt động giao dịch thuê
mua đã có những bớc phát triển hết sức mạnh mẽ cả về chủng loại tài sản, thiết
bị và khối lợng giao dịch. Trong giao dịch chi thuê mua ngày nay, các công ty
chi thuê tài chính (Leasing) có thể thuê những nhà máy hoàn chỉnh theo phơng
thức chìa khoá trao tay. Đồng thời về mặt chủng loại, hoạt động thuê mau bao
gồm từ các thiết bị, dụng cụ văn phòng cho tới những toà nhà lớn. Chỉ tính riêng
theo nhiều các khác nhau. Điều này dễ dẫn đến khó khăn cho những ngời muốn
tìm hiểu về loại hình nghiệp vụ mới này. Mặt khác, ở đây đối tợng các công ty
cho thuê lại là tài sản.
6
Nếu dịch là cho thuê theo phơng thức thuê mua thì khá chuẩn về mặt bản
chất của nghiệp vụ. Nghĩa là, việc cho thuê tài sản đồng thời bên thuê có thể
mua lại tài sản theo một giá đã thoả thuận nếu bên thuê trả đủ tiền thuê và tuân
thủ các điều kiện của hợp đồng.
Nh vậy, nếu dùng chính xác thì nên gọi finance lease hay leasing là cho
thuê theo phơng thức thuê mua hay thuê mua.(cho thuê theo phơng thức thuê
mua khi đứng trên giác độ bên cho thuê, còn thuê mua trên giác dộ bên thuê).
Tuy nhiên vấn đề thuật ngữ không đóng vai trò quá quan trọng mà ở đây là cần
hiểu đúng và chính xác vấn đề, trong bài sẽ tiếp tục sử dụng thuật ngữ cho thuê
tài chính theo nh các văn bản chính thức và đang đợc sử dụng phổ biến hiện
nay.
Khái niệm cho thuê tài chính cũng không đợc định nghĩa chuẩn. Thuê tài
chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn không thể huỷ
ngang. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng mua tài sản, thiết bị mà ngời
thuê cần và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện thuê tài sản đó với nhà cung cấp
hoặc ngời cho thuê cung cấp tài sản của họ cho thuê. Tuỳ theo qui định của từng
quốc gia, đợc coi là thuê tài chính khi thời hạn thuê thờng chiếm phần lớn đời
sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các toàn bộ các khoản
tiền cho thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu
hợp đồng. Mỗi nớc trên thế giới định nghĩa khác nhau về cho thuê tài chính do
luật pháp của nớc đó chi phối, đặc biệt là luật thuế.
Theo Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính Phủ Quy chế tạm thời
về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính qui định Cho thuê
tài chính là hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc
thiết bị và các động sản khắc. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị và
động sản theo yêu cầu của bên thuê còn bên thuê thanh toán tiền thuê trong suốt
+ Quyền sở hữu tài sản đợc chuyển giao khi hợp đồng hết hạn
+ Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua.
+ Thời giá của tổng các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc bằng giá trị của tài
sản.
+ Hiện giá của các khoản tiền thuê gần bằng hoặc lớn hơn giá trị thị tr-
ờng của tài sản.
8
Thứ hai: theo Hiệp định thống nhất luật dân sự về tín dụng thuê mua
quốc tế do Hiệp hội tín dụng thuê mua quốc tế thoả thuận thì giao dịch thuê
mua gồm những đặc điểm sau :
+ Ngời thuê chỉ rõ thiết bị và lựa chọn nhà cung cấp không phụ thuộc vào
những kỹ năng và ý kiến của ngời cho thuê.
+ Thiết bị đợc đề cập trong thoả thuận thuê mua do ngời cho thuê mua
theo thoả thuận giữa ngời cho thuê và ngời thuê, trong tình trạng mà ngời
thuê biết rõ nhà cung cấp.
+ Những khoản tiền thuê phải trả theo thoả thuận của thuê mua đợc tính
theo phơng thức trả dần hay trả ngay một phần đáng kể chi phí mua thiết bị.
Thứ ba: theo tiêu chuẩn của Uỷ ban kế toán Hoa Kỳ thì giao dịch thuê
mua là giao dịch thoả mãn những điều kiện :
+ Quyền sở hữu tài sản đợc chuyển giao cho ngời đi thuê khi chấm dứt
hợp đồng thuê.
+ Hợp đồng thuê cho phép ngời đi thuê đợc quyền chọn mua tài sản thuê
với giá thấp hơn ở một thời điểm nào đó hay đến khi chấm dứt thời hạn thuê.
+ Thời hạn thuê phải bằng 75% hoặc cao hơn đời sống hoạt động ớc tính
của tài sản thuê
+ Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% so với giá
trị tài sản thuê.
Nhìn chung trong luật của nhiều quốc gia thì tuỳ vào tình hình cụ thể mà
những nhà làm chính sách có một số thay đổi liên quan đến đặc điểm của tín
dụng thuê mua. Trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại của ISAC, mỗi quôc gia đều
+ Tổng số tiền thuê do bên thuê thanh toán cho tổ chức tín dụng trong
thời hạn thuê ít nhất phải tơng đơng với giá trị thị trờng của tài sản thuê vào
thời điểm ký hợp đồng.
Hiện nay, Thể lệ tín dụng thuê mua đã đợc thay thế bằng Quy chế đợc ban
hành kèm theo Nghị định 64CP về hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
Những đặc điểm trong quy chế này đa ra hoàn toàn trùng hợp với quy định của
Bộ tài chính :
Quy chế chỉ ra: Nghiệp vụ cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong 4
điều kiện sau:
+ Khi kết thúc thời hạn thuê hợp đồng, bên thuê đợc chuyển quyền sở hữu
tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của 2 bên
10
+ Nội dung hợp đồng thuê có quy định khi kết thức thời hạn thuê, bên thuê
đợc quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa hoặc thấp hơn giá trị
thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại.
+ Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phảI bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê.
+ Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy đinh tại hợp đồng thuê, ít nhất
phải tơng đơng với giá tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng.
Qua các đặc điểm trên, nhìn chung tuy có một số điểm khác nhau nhng đặc
điểm chung về cho thuê tài chính đều quan tâm đến những điểm chính sau :
Đối tợng cho thuê là những động sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Nh vậy hàng hoá sử dụng cho tiêu dùng cá nhân không đợc áp dụng ở đây.
Ngời thuê có quyền lựa chọn tài sản thuê.
Ngời thuê sử dụng hầu hết thời gian hữu dụng của tài sản ( thờng
Hình thức tài trợ Bằng hiện vật Bằng tiền
Đối tợng Các loại động sản Động sản và bất động sản
Quyền sở hữu
Do bên cho thuê chiếm giữ cho
đến khi quyền mua của bên
thuê đơc thực hiện
Bên đi vay chiếm giữ
ngay từ đầu
b. Thuê vận hành
Thuê vận hành đã có lịch sử rất lâu đời nên còn đợc gọi là tuê mua kiểu
truyền thống (Traditional Lease). Hình thức thuê vận hành có thể coi là một loại
hợp đồng để chấp hành, tài sản không đợc ghi chép vào sổ sách kế toán của ng-
ời thuê mà phần tiền trả theo thoả thuận đợc ghi nh mọi khoản chi phí bình th-
ờng khác. Trong hợp đồng này không dự kiến chuyển giao quyền sở hữu thiết bị
khi hết hạn thuê.
Sự phân loại giữa thuê vận hành và thuê tài chính dựa trên hai căn cứ cơ
bản là:
- Những rủi ro và những biện pháp đảm bảo cho giá trị còn lại của tài sản
thuê do bên nào thực hiện.
- Quyền sử dụng và hởng toàn bộ các lợi ích kinh tế do tài sản thuê mang
lại có đợc chuyển giao cho ngời thuê hay không.
Dựa trên những tiêu chuẩn này, uỷ ban Tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC)
đã đề ra 4 tiêu chuẩn làm cơ sở chung để phân loại và nhận diện các loại hợp
đồng cho thuê tài sản thuộc phơng thức nào
12
Ngời cho thuê
Giá trị hiện tại của các khoản tiền Có
thuê tối thiểu lớn hơn hay tơng
đơng với giá trị tài sản.
Thuê vận hành Thuê tài chính
Cũng có thể so sánh giữa thuê tài chính và thuê vận hành nh sau
Stt Tiêu thức Thuê vận hành Thuê tài chính
1 Quyền sở hữu Tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng
2 Thời hạn thuê Rất ngắn so với đời sống
hữu ích của tài sản
Thờng dài hơn một nửa cho tới
bằng đời sống hữu ích của tài sản
3 Quyền huỷ
hợp đồng
Đợc quyền huỷ ngang
hợp đồng
Không đợc quyền huỷ ngang
Hợp đồng
4 Rủi ro Ngời cho thuê chịu mọi rủi
ro thiệt hại
Ngời thuê chịu mọi rủi ro thiệt
hại
5 Chi phí Ngời cho thuê chịu mọi
chi phí vận hành, bảo trì,
dịch vụ, phí bảo hiểm
Ngời thuê chịu mọi chi phí vận
hành, bảo trì, bảo hiểm
6 Ưu đãi về thuế Ngời cho thuê hởng và khấu trừ vào tiền thuê
7 Bồi thờng Tiền bồi thờng bảo Hiểm ngời cho thuê hởng
8 Cung ứng tài
chỉ hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính nh mọi ngòi thờng hiểu mà nó
còn hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác. Từ những lý luận chung này sẽ đợc
xem xét hoạt động của công ty cho thuê tài chính để từ đó tìm ra những mặt hạn
chế.
1. Các loại công ty cho thuê tài chính.
Tuỳ theo pháp luật của từng nớc qui định, nên mỗi nớc có những định
nghĩa khác nhau về công ty Cho thuê tài chính. Nhng nhìn chung có thể đa ra
một định nghĩa tổng quát nh sau: Công ty Leasing thờng là một định chế tào
chính, và các Ngân hàng, các tập đoàn công nghiệp có thể tham gia kinh doanh
nh một chức năng hoạt động của các tổ chức này. Một cách tổng quát Công ty
Leasing hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cho thuê
Tại các nớc phát triển nhìn chung công ty Leasing có thể chia làm 3 loại:
Công ty cho thuê tài chính độc lập ( Independent Leasing Company ):
Loại hình công ty này thờng đợc hình thành từ các chuyên gia tài chính có đầy
đủ kiến thức kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu dự án, đánh
giá giá trị tài sản... Các công ty này thờng có một mạng lới kinh doanh rất rộng
15
rãi và có khả năng sửa chữa, cải tiến các loại thiết bị máy móc. Do đó họ có thể
điều chuyển các loại máy móc thiết bị đến những nơi khách hàng có nhu cầu
hoặc cải tiến gia tăng thêm chức năng cho tài sản để phù hợp với trình độ công
nghệ đơng thời. ở nhiều nớc các công ty cho thuê tài chính độc lập thờng tập
trung cho thuê một số loại tài sản nhất định hay tập trung vào một số ngành
công nghiệp nhất định ( giao thông, nông nghiệp...)
Công ty cho thuê tài chính phụ thuộc (Captive Leasing Company): loại
hình công ty này thờng là các công ty con của các tập đoàn công nghiệp lớn.
Các công ty này chủ yếu cho thuê các tài sản do công ty mẹ sản xuất.
ữ Công ty cho thuê thuộc sở hữu ngân hàng (Bank-related Leasing
Company): Loại hình công ty này xuất hiện muộn hơn 2 loại hình công ty cho
thuê ở trên và cách thức kinh doanh của loại hình công ty này cũng có rất nhiều
khác biệt với các loại hình công ty cho thuê khác. Các công ty cho thuê thuộc
trung hạn và ngắn hạn. Do đặc điểm của nghiệp vụ cho thuê tài chính là việc tài
trợ tín dụng trung, dài hạn nên nguồn vốn của công ty chủ yếu cũng là nguồn
trung, dài hạn. Chúng có thể gồm các nguồn sau :
- Vốn tự có :
Khi công ty cho thuê tài chính thành lập bao giờ chủ sở hữu cũng phải đầu
t một số vốn nhất định. Số vốn này có tổng giá trị tối thiểu phải bằng với vốn
pháp định.Tuỳ thuộc loại hình sở hữu mà vốn tự có của công ty có các hình thức
khác nhau. Một bộ phận khác cũng rất quan trọng thuộc vốn tự có là lợi nhuận
để lại sau khi công ty đã hoạt động đợc một thời gian. Nhiều quan điểm cho
rằng sử dụng vốn tự có không phải tốn chi phí. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lý
thuyết thì chi phí vốn của vốn tự có chính là chi phí cơ hội (khái niệm chi phí
vốn sẽ đợc làm rõ trong các phần sau.). ở đây, tỷ suất lợi nhuận mà chủ sở hữu
mong muốn trên phần lợi nhuận để lại mình bỏ ra là chi phí của nó hoặc là tỷ
suất lợi nhuận mà ngời chủ sở hữu mong đợi kiếm đợc từ khoản đầu t có mức
rủi ro tơng đơng.
- Phát hành trái phiếu (trong nớc hoặc nớc ngoài):
Trái phiếu là tên chung của các giấy vay nợ trung và dài hạn. Tuỳ theo luật
pháp và tập quán từng nớc các công tycó thể phát hành trai phiếu với các kỳ hạn
khác nhau. Ví dụ, các công ty Hoa Kỳ thờng phát hành trái phiếu với kỳ hạn
phổ biến là 5 năm và 1 năm. Một trong những vấn đề cần xem xét trớc khi phát
hành là lựa chọn loại trái phiếu nao phù hợp nhất với điều kiện của công ty và
tình hình của thị trờng tài chính. Một số loại trái phiếu thờng đợc lu hành nh:
Trái phiếu có lãi suất cố định và trái phiếu có lãi suất thả nổi.
- Phát hành cổ phiếu :
17
Thông thờng, ngời ta chia cổ phiếu thành hai loại cổ phiếu thờng và cổ phiếu u
tiên. Tuy nhiên có thể khái quát cổ phiếu là loại giấy tờ có giá chứng nhận quyền sở
hữu đối với các tài sản của công ty phát hành cổ phiếu. Công ty cho thuê có thể phát
hành cổ phiếu để duy trì tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn (giữ vững khả năng thanh toán,
củng cố uy tín tài chính), hoặc để mở rộng quy mô.
khi thị trờng chứng khoán cha phát triển.
Nh vậy, về cơ bản một công ty cho thuê tài chính có thể huy động từ khá
nhiều nguồn vốn khác nhau. Nói chung, công ty bắt đầu phải sử dụng những
nguồn tài trợ có chi phí thấp nhất, nhng khi đã hết các nguồn tài trợ có chi phí
thấp, công ty sẽ phải trông chờ vào các nguồn nguồn vốn có chi phí cao hơn.
Vậy chi phí vốn là gì ?
Có thể hiểu khái quát rằng chi phí của một loại vốn cụ thể nào đó là chi phí
trả cho nguồn vốn huy động, nó đợc tính bằng số lợi nhuận cần phải đạt đợc
trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho chủ
sở hữu của công ty. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải là tìm một các riêng rẽ
các nguồn vốn có chi phí rẻ mà phải xây dựng đợc một cơ cấu vốn sao cho chi
phí trung bình của vốn làm tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.( Chi phí trung bình
của vốn chính là chi phí bình quân gia quyền hay chi phí trung bình trọng số của vốn
đầu t)
3.b Sử dụng vốn của công ty cho thuê tài chính
Công ty cho thuê tài chính tuy kinh doanh trong một nghành hẹp, thờng
chỉ đợc huy động vốn chủ yếu để cho thuê tài sản nhng dới những hình thức
khác nhau. Mỗi hình thức này lại tạo ra các lĩnh vực hoạt động phong phú.
Nghiệp vụ chủ yếu là cho thuê tài chính. Nói cách khác, công ty cam kết
mua máy móc thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền
sở hữu đối với tài sản thuê. Công ty chuyển quyền sử dụng cho bên thuê và thu
tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đợc hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời
hạn thuê, bên thuê đợc chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản
đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Giống với ngân hàng càng phát triển ở trình độ cao thì càng có nhiều hình
thức cho vay, công ty cho thuê tài chính cũng có thể cung cấp cho khách hàng
nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể ở đây chính là các loại cho thuê tài chính nh:
cho thuê trực tiếp, cho thuê đòn bảy, cho thuê bắc cầu, cho thuê liên kết, cho
thuê trả góp, mua rồi cho thuê lại... Tuy nhiên bên cạnh lĩnh vực hoạt động chủ
yếu là cho thuê tài chính các công ty cho thuê tài chính còn hoạt động trên một
- Nhà cung ứng
- Đàm phán với ngời thuê về loại thiết bị, các thông số kỹ thuật, giá cả
- Cung cấp bảo hành và dịch vụ cho ngời thuê
- Giao thiết bị trực tiếp cho ngời thuê trong tình trạng hoạt động tốt
- Thực hiện hợp đồng mua với ngời cho thuê
20
Hợp đồng bán và tái thuê
Bán và tái thuê là một thoả thuận tài trợ chính mà ngời thuê bán lại tài sản
của chính họ cho ngời cho thuê và đồng thời một hợp đồng cho thuê tài chính đ-
ợc soạn thảo với nội dung Công ty cho thuê tài chính ( ngời cho thuê ) đồng ý
cho bên thuê thuê lại tài sản mà chính họ vừa bán.
Thoả thuận mua bán
Công ty cho thuê tài sản Chủ sở hữu
Tài chính ban đầu
Quyền sở hữu pháp lý
Ngời mua Trả tiền mua tài sản Ngời bán Ngời cho thuê Hợp đồng thuê tài sản Ngời thuê
Trả tiền thuê tài sản
Đặc trng của hợp đồng cho thuê này là : Ngời thuê giữ lại quyền sử dụng
thiết bị trong khi chuyển giao quyền sở hữu. Theo thoả thuận bán và cho thuê
lại thì ngời sử dụng thiết bị sẽ bán thiết bị cho công ty cho thuê tài chính và ng-
ời sử dụng thiết bị trớc đó đã có quyền sở hữu hợp pháp thiết bi và thiết bị còn
thời gian khả dụng hợp lý. Công ty cho thuê thoả thuận mua thiết bị và cho ngời
sử dụng thuê lại, lúc đó ngời sử dụng trở thành ngời thuê thiết bị nh trong trờng
hợp thoả thuận 3 bên, ngời thuê có đầy đủ các nghĩa vụ thực hiệ hợp đồng về
bảo dỡng và làm dịch vụ đối với thiết bị để đảm bảo rằng thiết bị đợc giữ trong
nghệ mới để chế tạo máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mua lại
những cũ đã lạc hậuvề mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc mới, hiện
đại do họ chế tảo ra.
Hợp đồng cho thuê liên kết
Là loại hợp dồng gồm nhiều bên tài trợ cho một ngời thuê. Sự liên kết này có thể
xảy ra theo chièu ngang hoặc chiều dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản hay khả
năng tài chính của nhà tài trợ. Trong trờng hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định chế
tài chính hay các nhà chế tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho ngời thuê tạo thành sự
liên kết theo chiều ngang. Còn đối với trờng hợp các định chế tài chính hay các nhà
chế tạo lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ (dealers) thực hiện giao dịch tài trợ cho
khách hàng thì hình thành sự liên kết theo chiều dọc
22
Các định chế tài chính Quyền sở hữu tài sản
Các nhà chế tạo Tiền thuê Ngời thuê
Chi nhánh Các mối quan hệ nh
thoả thuận 3 bên
Hợp đồng cho thuê bắc cầu
Đây là một hình thức đặc biệt của thuê mua thuần chỉ mới đợc phổ biến
trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty cho thuê tài chính có
những hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng.
Theo thể thức thuê mua này, ngời cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê
từ một hay nhiều ngời cho vay nào đó. Theo luật pháp của một số quốc gia
khoản tiền vay này không đợc vợt quá 80% tổng giá trị của tài sản tài trợ. Vật
thế chấp cho khoản vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền
thuê mà ngời thuê sẽ trả trong tơng lai. Ngời chovay đợc hoàn trả tiền đã cho
vay từ các khoản tiền thuê, thờng do ngời thuê trực tiếp trả theo yêu cầu của ng-
ời cho thuê. Sau khi trả hết món nợ vay, những khoản tiền còn lại sẽ đợc trả cho
ngời chi thuê.
sản đã thuê hay vì một lý do nào đó (mà hợp đồng này là loại thoả thuận không
thể huỷ ngang) nên họ phải tìm ngời thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng. Bởi
nến không cho thuê tiếp đợc thì dù không sử dụng tài sản thì họ vẫn tiếp tục
phải trả tiền thuê.
Ngời Quyền sử dụng Ngời Quyền sử dụng Ngời
tài sản thuê tài sản
thuê
cho thứ
thứ
nhất hai
thuê Tiền thuê Tiền thuê
4.b Cho thuê vận hành (Operating Lease)
24
Cho thuê vận hành không phải là phơng thức tài trợ mua sắm máy móc
thiết bị. Ngời đi thuê ký hợp đồng sử dụng các thiết bị có sẵn của Công ty cho
thuê nh máy bay, phơng tiện vận tải, máy móc trong thi công cơ giới và cũng có
thể là máy móc thiết bị dùng trong công nghiệp chi phí mua thiết bị đợc thu
hồi qua các lần cho thuê và thanh lý thiết bị.
Thuê vận hành thờng với thời gian ngắn hơn nhiều so với tuổi thọ của thiết
bị và hai bên có thể thoả thuận để huỷ bỏ. Cho thuê vận hành thờng hạn chế
trong các loại thiết bị có thời gian sử dụng lâu dài hoặc có thi trờng thiết bị cũ
năng động. Ngời cho thuê vận hành thờng hiểu biết thiết bị cho thuê. Do vậy áp
dụng cho thuê vận hành thờng là các nhà sản xuất, họ là những ngời bảo dỡng
và chịu mọi rủi ro về hao mòn thiết bị. Vân hành thiết bị trong thời gian cho
thuê có thể là nhà cho thuê.
Các công ty cho thuê tài chính nớc ngoài đã áp dụng cho thuê vận hành ở
Việt Nam từ lâu, các thiết bị lớn, có giá trị nh máy bay, tàu thuỷ ở Việt Nam
hầu nh phải đi thuê vận hành từ nớc ngoài, trong mấy năm trở lại đây hình thức
này phát triển mạnh mẽ. Một số công ty chuyên cung cấp máy móc thiết bị đặc