Ứng dụng thanh toán điện tử tại vietinbank đống đa - Pdf 10

Lời mở đầu
Việt Nam bớc vào thời kì đổi mới,thời kì hội nhập quốc tế và khu vực nên đòi
hỏi nền kinh tế không ngừng đầu t đổi mới cơ sở vật chất kĩ thuật,trình độ nhằm
nâng cao chất lợng sản phẩm,dịch vụ để đủ sức cạnh tranh trong thị trờng nội địa
cũng nh thị trờng quốc tế.
Chỉ thị 58/CT-TW của bộ chính trị cũng đã nêu rõ: công nghệ thông tin là
một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển,cùng với 1 số ngành
công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế,văn hoá,xã hội của
thế giới hiện đại.
Theo tinh thần của chỉ thị và cũng là yêu cầu của công cuộc đổi mới hoạt
động ngân hàng để các ngân hàng Việt Nam hoà nhập với các ngân hàng trên thế
giới,ngành ngân hàng đã thực hiện chiến lợc ứng dụng công nghệ thông tin vào
hoạt động kinh doanh của mình .TTLH là lĩnh vực rất đợc quan tâm bởi nó đóng
một vai trò quan trọng trong nghiệp vụ thanh toán của mỗi ngân hàng .Để thay thế
cho phơng thức TTLH cũ lạc hậu trớc đây,các ngân hàng hiện đang áp dụng TTĐT
- một phơng thức TTLH mới,u việt hơn hẳn phơng thức cũ. Chuyển tiền nhanh
chóng thuận tiện,độ chính xác cao,thủ tuc đơn giản,thanh toán chuyển tiền đợc
hoàn tất trong một ngày làm việc,vốn đợc luân chuyển nhanh,tài khoản sử dụng
không phức tạp,gọn,quy trình thanh toán đơn giản... TTĐT đã đáp ứng đợc tất cả
những yêu cầu đó.Để hiểu rõ hơn về vấn đề này,em đã chọn đề tài về TTĐT cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Thời gian khảo sát thực tế tại NHCT Đống Đa đã giúp em hiểu hơn về lí luận
đồng thời còn cho em thấy đợc thực trạng của việc ứng dụng TTĐT vào hoạt động
kinh doanh tại NHCT Đống Đa nói riêng cũng nh của các ngân hàng Việt Nam nói
chung.Nhìn chung công tác TTĐT trong lĩnh vực ngân hàng ở nớc ta còn những
hạn chế nhất định,còn những vớng mắc cha đợc tháo gỡ,kết quả đạt đợc còn khiêm
tốn cha nh mong muốn...
1
Với trình độ còn hạn chế,thời gian khảo sát thực tế cha nhiều nên bài viết của
em không tránh khỏi nhữnh khiếm khuyết.Em rất mong đơc sự quan tâm của thầy
cô giáo ở Học viện Ngân hàng,ban lãnh đạo phòng kế toán NHCT Đống Đa,các

hởng.Việc chi trả hộ hoặc thu hộ tiền nh vậy mang tính chất là một loại dịch vụ,ng-
ời ta gọi là dịch vụ thanh toán.
Việc thực hiện dịch vụ thanh toán của ngân hàng có thể sử dụng tiền mặt hoặc
không sử dụng tiền mặt Trong đó thanh toán không sử dụng tiền mặt thực chất là
3
nghiệp vụ chi trả đợc thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản trong hệ thống
tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không sử dụng đến tiền mặt.Trong nền kinh tế thị
trờng, thanh toán qua ngân hàng chủ yếu là thanh toán không dùng tiền mặt. Hình
thức thanh toán này một mặt tạo điều kiện cho các ngân hàng thực hiện đợc các
dịch vụ trả tiền với khối lợng lớn một cách nhanh chóng và chính xác, mặt khác
tạo điều kiện cho việc tập trung đợc lợng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế làm nguồn
vốn tín dụng ngắn hạn.
2.Tổ chức thanh toán vốn giữa các ngân hàng.
2.1.Sự cần thiết và ý nghĩa của thanh toán vốn giữa các ngân hàng .
2.1.1 Sự cần thiết của thanh toán vốn giữa các ngân hàng .
- Đối với các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống:
+ Trong thanh toán không dùng tiền mặt đợc chia thành thanh toán cùng ngân
hàng và thanh toán khác ngân hàng .Thanh toán cùng ngân hàng thì không liên
quan đến thanh toán vốn giữa các ngân hàng còn trờng hợp thanh toán khác ngân
hàng nhng trong cùng hệ thống thì phải có sự chuyển vốn từ ngân hàng phục vụ
ngời mua sang ngân hàng phục vụ ngời bán.Nền kinh tế càng phát triển thì việc
trao đổi hàng hoá không bó hẹp ở một địa phơng mà đợc mở rộng ra khắp các miền
của đất nớc nên việc thanh toán tiền hàng hoá,dịch vụ giữa ngời mua và ngời bán
qua hai ngân hàng khác nhau trở nên cần thiết.
+ Trong nền kinh tế ,việc chuyển cấp vốn,cấp kinh phí,chuyển tiền thực hiện nghĩa
vụ ngân sách...diễn ra thờng xuyên,liên tục.Điều đó đòi hỏi phải có nghiệp vụ
chuyển tiền từ ngân hàng này đến ngân hàng kia để đáp ứng yêu cầu của việc
chuyển vốn trong nền kinh tế.
+ Trong phạm vi nội bộ của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng có nghiệp vụ
điều chuyển vốn,cấp vốn,chuyển nhợng tài sản,nộp khấu hao lên cấp trên,chuyển

khác,giảm chi phí kiểm đếm giao nhận tiền.
+ Góp phần tiết kiệm lợng tiền mặt trong lu thông từ đó có tác động tới lợng tiền
cung ứng trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
5
Để làm tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng thì đòi hỏi ngân hàng phải
cải tiến thể lệ,chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp với yêu cầu của
việc trao đổi thanh toán tiền hàng hóa , dịch vụ của toàn xã hội.Tăng cờng trang
thiết bị,kĩ thuật phục vụ thanh toán nhanh chóng , chính xác,cải tiến việc điều hành
và quản lí vốn trong ngân hàng .Chính vì vậy mà làm cho hoạt động ngân hàng
phát triển phong phú về trình độ và cơ sở vật chất kĩ thuật.
2.2Các phơng thức thanh toán
Phơng thức thanh toán phản ánh mối quan hệ thanh toán giữa hai đơn vị ngân
hàng với nhau.Căn cứ vào việc các ngân hàng tham gia thanh toán vốn là cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống có các phơng thức thanh toán sau:
-Để thanh toán trong cùng hệ thống ngân hàng có các phơng thức :
+ thanh toán liên hàng
+ thanh toán bù trừ
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại chi nhánh ngân hàng khác trong cùng hệ
thống
+ thanh toán ủy nhiệm thu hộ,chi hộ.
Để thanh toán khác hệ thống ngân hàng có các phơng thức sau:
+ thanh toán bù trừ
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại NHNN
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng khác hệ thống
+ thanh toán ủy nhiệm thu hộ,chi hộ.
ở Việt Nam,tổ chức hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng gắn liền với việc
hoàn thiện mô hình tổ chức của các hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các thời kì
-Thời kì năm 1989:Thời kì này ngân hàng Việt Nam tổ chức thành ngân hàng 1
cấp(không tách biệt NHNN và các TCTD nên hệ thống thanh toán vốn giữa các chi
nhánh ngân hàng cũng chỉ cùng 1 hệ thống. Phơng thức thanh toán vốn giữa các

+Thanh toán bù trừ(TTBT) : Thanh toán bù trừ là phơng thức thanh toán vốn
giữa 2 ngân hàng đợc thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu,phải trả để thanh
toán số chênh lệch (kết quả bù trừ) TTBT đợc áp dụng giữa các ngân hàng khác hệ
thống với nhau hoặc giữa các đơn vị ngân hàng cùng 1 hệ thống ngân hàng .Trong
TTBT phải có một ngân hàng chủ trì (ngân hàng chủ trì có thể là NHNN hoặc một
ngân hàng thơng mại nào đó),các ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tại ngân
hàng chủ trì và ngân hàng thành viên có sự thoả thuận với nhau,có sự cam kết về
các điều kiện thanh toán Tuỳ thuộc vào phơng pháp trao đổi chứng từ,chuyển số
liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy)và TTBT điện tử.
+Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN: Theo phơng thức này,việc thanh
toán giữa các ngân hàng với nhau đợc thực hiện từng lần theo số tiền ghi trên bảng
kê các chứng từ thanh toán.Ngân hàng bên trả tiền lập bảng kê kèm chứng từ gốc
cho từng ngân hàng,gửi đến NHNN nơi mở tài khoản,yêu cầu NHNN trích tài
khoản tiền gửi để trả cho ngân hàng thụ hởng.Phơng thức này thờng áp dụng đối
với những chuyển tiền nhanhvới số tiền lớn và trong việc điều chuyển vốn của các
ngân hàng thơng mại.
+Thanh toán theo phơng thức uỷ nhiệm lẫn nhau giữa hai ngân hàng: Phơng
thức thanh toán này đợc áp dụng giữa các ngân hàng cùng hoặc khác hệ thốngvà
giữa 2 ngân hàng đã có sự thoả thuận và cam kết với nhau rằng ngân hàng này sẽ
thực hiện thu hộ hoặc chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán
của khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng kia.Việc thu hộ ,chi hộ giữa hai
ngân hàng chỉ đợc tiến hành trong phạm vi những khoản thanh toán đã thoả thuận
và quy định trong hợp đồng.Mỗi khi phát sinh những khoản thu hộ,chi hộ ngân
hàng nơi phát sinh phải gứi các chứng từ thanh toán cho NH có quan hệ để hạch
toán sổ sách.Kết thúc từng định kì thanh toán,các ngân hàng phải đối chiếu số liệu
với nhau,quyết toán số tiền đã thu hộ,chi hộ và thanh toán cho nhau số chênh lệch
phải thu,phải trả.
+Mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau để thanh toán:Phơng thức thanh toán này đợc
sử dụng cho các ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống để thanh toán cho nhau với
8

toán liên hàng truyền thống đợc thực hiện trong suốt một thời gian dài từ năm 1976
đến năm 1992 và đã góp phần đáng kể trong việc thực hiện chức năng trung tâm
thanh toán của ngân hàng .Hình thức thanh toán này phù hợp với mô hình tổ chức
hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng nh trình độ công nghệ lúc bấy giờ. Tuy nhiên
do hạn chế của hình thức thanh toán này là chứng từ thì luân chuyển chậm,hay bị
thất lạc,thanh toán không dùng tiền mặt diễn ra chậm trễ,vốn nằm trong thanh toán
lớn gây lãng phí cho ngân hàng và cho xã hội,tốc độ luân chuyển vốn chậm không
tạo đà thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển nên nó đã dần đợc thay thế bằng hình
thức thanh toán tiến bộ hơn.Hiện nay thanh toán liên hàng truyền thống chỉ còn là
cơ sở lí luận cho việc thực hiện các hình thức thanh toán liên hàng sau này.
2.2Liên hàng có ứng dụng máy vi tính
ở hình thức liên hàng này,các kĩ thuật nghiệp vụ đều đợc thực hiện trên cơ sở
nghiệp vụ thanh toán liên hàng truyền thống . Cụ thể là : Trên cơ sở chứng từ thanh
toán của khách hàng hay của nội bộ ngân hàng ,bộ phận thanh toán liên hàng lập
giấy báo liên hàng.Khi thanh toán liên hàng qua mạng máy vi tính,giấy báo liên
hàng đợc lập 1 liên thay vì 3 liên nh trớc .Trên cơ sở giấy báo liên hàng đợc lập bộ
phận điện toán chuyển hoá giấy báo liên hàng,chứng từ gốc thành chứng từ thanh
toán điện tử rồi chuyển cho trung tâm thanh toán.Trung tâm thanh toán sẽ chuyển
tiếp cho ngân hàng nhận chuyển tiền.Tại ngân hàng nhận,khi nhận đợc chứng từ
thanh toán điện tử thì chuyển hoá thành các giấy báo liên hàng đến,các chứng từ
gốc để làm chứng từ thanh toán cho khách hàng đồng thời lu vào hồ sơ kế toán.Nh
vậy là ngân hàng chuyển tiền thay vì chuyển trực tiếp 1 liên giấy báo liên hàng cho
ngân hàng nhận chuyển tiền mà chuyển gián tiếp qua trung tâm thanh toán bằng
chơng trình qua máy vi tính,và không phải gửi liên 2 giấy báo kèm sổ đối chiếu
liên hàng về trung tâm.Ngân hàng nhận chuyển tiền không phải kiểm soát mẫu
dấu chữ kí trong thanh toán liên hàng của ngân hàng chuyển tiền bới các giấy báo
10
đợc chuyển hoá có khoá bảo mật riêng.Trung tâm thanh toán trớc đây phải lập sổ
đối chiếu liên hàng cho từng ngân hàng nhận có liên quan thì nay việc đối chiếu
liên hàng đợc lập trên cơ sở máy vi tính và truyền qua mạng tới các ngân hàng

Thanh toán điện tử là phơng thức thanh toán vốn giữa các chi nhánh ngân
hàng trong cùng hệ thống thông qua mạng máy tính. Nó đợc phát sinh trên cơ sở
thanh toán không dùng tiền mặt,thanh toán công nợ,thanh toán cấp vốn và điều hoà
vốn trong từng hệ thống ngân hàng .
Theo quy chế của NHCTVN TTĐT đợc hiểu là việc chuyển tiền và hoàn tất
một lệnh thanh toán thông qua mạng máy tính giứa các chi nhánh trong nội bộ
NHCTVN.TTĐT có thể là chuyển có hoặc chuyển nợ đã đợc uỷ quyền.Phơng thức
TTĐT của NHCTVN là sự kế thừa và thay thế phơng thức TTLH truyền thống,liên
hàng qua mạng máy vi tính bằng 1 chơng trình thanh toán mới nhờ việc áp dụng
những thành tụ của công nghệ thông tin.TTĐT tại NHCTVN là chơng trình hạch
toán quản lí điều hành vốn tập trung trong hệ thống NHCTVN, giúp NHCTVN
điều hành vốn một cách linh hoạt,việc thanh toán giữa các ngân hàng diễn ra
nhanh chóng thuận tiện.Đồng thời cũng giúp nâng cao vị thế của hệ thống
NHCTVN trong hệ thống các ngân hàng thơng mại VN.
2.Những quy định chung về TTĐT.
Mọi khách hàng giao dịch với ngân hàng đợc tham gia hệ thống TTĐT theo
cơ chế thanh toán qua ngân hàng ban hành theo quy định số 22/QĐNH1 của thống
đốc NHNN.
Khi có nhu cầu thanh toán trong hệ thống ngân hàng ,khách hàng(ngời phát
lệnh thanh toán)phải lậpvà nộp chứng từ vào chi nhánh của ngân hàng phục vụ
mình (ngân hàng gửi lệnh)theo đúng quy định của ngân hàng .Các nghiệp vụ phát
sinh trong TTĐT đợc hoàn tất trong một ngày làm việc.Trờng hợp khách hàng yêu
cầu chi nhánh ngân hàng phục vụ chuyển nhanh thì hoàn tất từ 1 đến 3 giờ.
12
Các trởng phòng kế toán chi nhánh ngân hàng chịu trách nhiệm về kiểm soát
tính hợp lệ,hợp pháp các chứng từ thanh toán,về quy trình chuyển tiền đi và đến
cũng nh hạch toán vào các TK thích hợp.
Trung tâm điện toán ngân hàng chịu trách nhiệm về đảm bảo kĩ thuật của các
thông tin trên đờng truyền từ thông tin thanh toán đến các chi nhánh ngân hàng
.Căn cứ vaò chức năng nhiệm vụ đã đợc giao,cá nhân tham gia thanh toán chấp

NHCTVN
3.2 Chứng từ điện tử.
Trong thanh toán liên hàng truyền thống chứng từ sử dụng hoàn toàn là bằng
giấy.Đó là các loại giấy báo liên hàng dùng làm lệnh thanh toán vốn trong nội bộ
ngân hàng ,các chứng từ gốc dùng làm căn cứ thanh toán vốn của khách hàng hoặc
nội bộ ngân hàng .Và chứng từ đợc luân chuyển bằng th hoặc bằng điện qua cơ
quan bu điện.Còn trong TTĐT điện tử thay thế cho các chứng từ giấy là các chứng
từ điện tử.
3.2.1 Khái niệm
Chứng từ điện tử là hình thức của lệnh thanh toán đợc sử dụng trong
TTĐT,thay thế cho chứng từ bằng giấy,đợc truyền đi giữa các ngân hàng qua mạng
vi tính.Chứng từ điện tử đợc tạo trên hệ thống máy vi tính thông qua việc chuyển
hoá chứng từ giấy thành chứng từ điện tử.Khi chuyển hoá phải đảm bảo đúng mẫu
đã đợc cài đặt trong máy,đầy đủ các yếu tố của chứng từ điện tử và chính xác với
số liệu gốc.Chơng trình thanh toán điện tử đã cài đặt sẵn các mẫu chứng từ nh
:Giấy nộp tiền,NPTT(cá nhân);uỷ nhiệm chi doanh nghiệp;séc chuyển khoản...
Chứng từ điện tử đợc chuyển hoá thành chứng từ giấy để vừa làm căn cứ để
hạch toán tài khoản điêù chuyển vốn vừa làm chứng từ cho khách hàng.
3.2.2 Nội dung chứng từ điện tử:
14
Theo điều 4 quy định 308-QĐ/NH2 ngày 16-09-1997,chứng từ điện tử có các
yếu tố sau:
1.Tên gọi của chứng từ (vd:UNC,UNT...).
2.Số kí hiệu chứng từ và kí hiệu loại nghiệp vụ.
3.Ngày,tháng,năm lập chứng từ điện tử,ngày giá trị của chứng từ điện tử.
4.Tên,địa chỉ ,số hiệu tài khoản của đơn vị cá nhân chuyển tiền.
5.Tên,địa chỉ ,số hiệu tài khoản của đơn vị cá nhân thụ hởng.
6.Tên,địa chỉ,mã ngân hàng thanh toán.
7.Tên,địa chỉ,mã ngân hàng phục vụ bên thụ hởng.
8.Nội dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

2.Thanh toán viên nhận chứng từ của khách hàng nộp vào phải tiến hành kiểm soát
tính hợp lệ,hợp pháp của chứng từ,kiểm tra trên số d tài khoản của khách hàng.Nếu
đủ điều kiện thanh toán viên sẽ xử lí:lập chứng từ TTĐT đối với các giao dịch tức
thời và đủ điều kiện kĩ thuật hoặc kí tên trên chứng từ rồi chuyển sang bộ phận
TTĐT chuyên trách.
3.Bộ phận TTĐT có trách nhiệm:
- Kiểm tra lại các yếu tố của chứng từ và chữ kí của thanh toán viên.
16
Khách
hàng
Thanh
toán viên
Thanh toán
điện tử
trởng phòng kế
toán
- Tiến hành chuyển hóa chứng từ giấy thành chứng từ điện tử cùng thể thức thanh
toán(UNC, séc bảo chi của doanh nghiệp hoặc cá nhân).Mỗi chứng từ thanh toán
đợc chuyển hóa thành 1 lệnh chứng từ điện tử.
- Sau khi lập xong chứng từ bằng máy thì tiến hành in chứng từ chuyển tiền , kí tên
kèm theo chứng từ gốc chuyển cho trởng phòng kế toán(hoặc ngời đợc ủy quyền).
4.Trởng phòng kế toán(hoặc ngời đợc ủy quyền) có trách nhiệm :
- Kiểm soát tính hợp pháp,hợp lệ của chứng từ gốc;sự khớp đúng giữa chứng từ gốc
với chứng từ in ra và chứng từ trên máy tính.
- Nếu hợp pháp ,hợp lệ và khớp đúng thì tính kí hiệu mật bằng máy;ghi kí hiệu mật
và kí tên vào chứng từ lu trữ trớc khi quyết định chuyển đi.
- Chứng từ gốc và chứng từ TTĐT đợc giao lại cho thanh toán viên để hạch toán và
lu trữ.
Tại ngân hàng nhận lệnh (NHB):


Mọi nghiệp vụ phát sinh từ NHA và kết thúc tại NHB đều đợc hạch toán tập
trung tại TTTT.Do vậy TTTT phải mở đầy đủ các TK điều chuyển vốn cho từng chi
nhánh,TK của chi nhánh nào sẽ mang số hiệu của chi nhánh đó.Đối với các khoản
điều chuyển vốn TTTT sẽ có hạn mức và thời hạn cho từng loại vốn của mỗi chi
nhánh NHCT.
Khi nhận đợc điện từ NHA tại TTTT có chơng trình tự động tiến hành kiểm
soát tính hợp lệ của bức điện,kiểm tra chữ kí điện tử của trởng phòng kế toán,kiểm
tra hạn mức thấu chi của NHA:
- Những bức điện không hợp lệ sẽ bị hủy tại TTTT và thông báo lại cho NHA.
- Những bức điện quá hạn mức thấu chi đợc xếp vào hàng đợi chờ xử lí theo chế
độ.
- Đối với những bức điện đã đảm bảo đủ điều kiện,chơng trình sẽ tự động phân loại
các chuyển tiền theo các nội dung:
+ Tính chất nợ hay có: Trong đó các chuyển tiền có đợc chuyển đi ngay,các
chuyển tiền nợ TTTT kiểm soát theo quy chế nếu không đúng sẽ bị trả lại.
18
+ Yêu cầu thanh toán tức thời:Các chuyển tiền nhanh đợc hạch toán và chuyển tiền
đi tức thời.Các chuyển tiền bình thờng dợc chuyển đi theo chu kì tự động(2-3 lần
trong 1 ngày).
+ Giá trị thanh toán lớn-nhỏ:Các chuyển tiền có số tiền lớn đợc kiểm soát chặt chẽ
hơn trớc khi chuyển đi ngân hàng nhận.
+ Phạm vi thanh toán trong hệ thống-ngoài hệ thống:Các chuyển tiền trong hệ
thống sau khi qua các khâu kiểm soát đợc hạch toán tự động chuyển sang vùng tự
động chuyển đi.Các chuyển tiền ra ngoài hệ thống đợc chuyển sang vùng riêng để
1 bộ phận giải mã phục hồi chứng từ đa đi thanh toán bù trừ với các TCTD và
NHNN TW.
+ Đối tợng khách hàng là doanh nghiệp-cá nhân:Các chuyển tiền của doanh nghiệp
đợc u tiên hơn các chuyển tiền cá nhân.
Mọi khoản chuyển tiền đều hạch toán tự động qua TTTT.
* Nhầm lẫn và điều chỉnh

gửi lệnh chuyển đến
+Nếu đã hạch toán vào TK của khách hàng thì khi nhận đợc chuyển tiền thừa của
ngân hàng gửi lệnh ,ngân hàng nhận lệnh hạch toán ngợc lại.Nhng nếu khách hàng
đã sử dụng hết tiền trên TK,ngân hàng nhận lệnh hạch toán vào tài khoản điều
chuyển vốn chờ thanh toán. Tất toán TK điều chuyển vốn chờ thanh toán khi
khách hàng đem nộp tiền vào tài khoản để thanh toán.Hoặc nếu sau khi đã tìm mọi
biện pháp mà vẫn không thu hồi đợc hoặc thu cha đủ thì ngân hàng nhận lập biên
bản ghi đầy đủ quá trình xử lí thu hồi tại chi nhánh có xác nhận của chính quyền
địa phơng và các cơ quan pháp luật,chuyển trả lại ngân hàng gửi .
* Quyết toán thanh toán
-Quyết toán thanh toán cuối ngày
+Tại NHA:
20
Hàng ngày NHA phải chấm dứt chuyển tiền đi đúng 15h30.
Từ 15h30 đến 16h30 NHA đối chiếu tập tin chuyển đi trong ngày với TTTT.
Từ 16h30 đến 17h00 NHA hạch toán nội bảng ,lập các báo biểu thống
kê,báo cáo ngày theo mẫu biểu đã lập sẵn trong chơng trình.
Từ 17h00 đến 18h00 NHA chuyển tập tin hạch toán nội dung bảng các
chuyển tiền đi,các báo biểu thống kê,báo cáo ngày...về TTTT (Nhng cha đợc lu trữ
chờ TTTT thông báo đã điều chỉnh đúng mới đợc lu trữ).
+Tại NHB:
NHB nhận bảng kê cuối cùng vào 16h00(có thể muộn hơn do sự cố TTTT sẽ
thông báo cho ngân hàng có nhận chuyển tiền muộn).Sau khi nhận lệnh chuyển
tiền cuối cùng,ngân hàng thực hiện ngay việc đối chiếu nhanh với TTTT tập tin
nhận đến trong ngày.
Từ 16h00 đến 17h00 NHB hạch toán nội bảng ,lập các báo biểu thống kê.
Từ 17h00 đến 18h00 NHB hạch toán chuyển tiền đến trong ngày về
TTTT(nhng cha đợc lu trữ chờ TTTT thông báo đã điều chỉnh đúng mới đợc lu
trữ).
+Tại TTTT:

thanh toán đến trong ngày và cho lệnh khoá sổ ,ngân hàng nhận mới đợc khoá sổ
đồng thời tiến hành tập tin đối chiếu đến trong ngày,doanh số đến trong
tháng,doanh số đến trong năm với TTTT.
22
Chơng II công tác thanh toán điện tử
tại Ngân hàng công thơng đống đa
I.Vài nét về Ngân hàng Công Thơng Đống Đa.
1.Lịch sử hình thành và phát triển.
Tiền thân NHCT Đống Đa là phòng thơng nghiệp của khu Đống Đa, đợc
thành lập năm 1955.Đến năm 1957 từ địa chỉ 173 phố Khâm Thiên phòng chuyển
sang số 237 và đổi thành chi điếm NHNN khu Đống Đa.Năm 1960 chi điếm
chuyển về đóng tại tầng 1 khu tập thể 4 tầng (ngay cạnh nơi NHCT Đống Đa đóng
hiện nay).Năm 1987 thì đợc đổi thành chi nhánh NHNN quận Đống Đa và 2 năm
sau đợc bầu là trởng chi nhánh NHNN trên địa bàn Hà Nội.
Vào thời điểm này,hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự thay đổi lớn.Hệ thống
ngân hàng 1 cấp trớc đó đợc tách ra làm 2 hệ thống ngân hàng là hệ thống NHNN
và hệ thống NHTM để làm những chức năng,nhiệm vụ riêng biệt là quản lí và kinh
doanh. NHCT Việt Nam là một trong bốn hệ thống NHTM quốc doanh lớn nhất tại
Việt Nam theo quyết định số 53/HĐBT ngày 26-03-1988.Và ngày 29/3/1993 theo
quyết định số 93/LHCT/TCCB của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam,NHCT Đống
Đa mới đợc chính thức là 1 thành viên của hệ thống NHCT Việt Nam và ngày
24/7/1993 ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động theo giấy phép kinh doanh số
108565 của trọng tài kinh tế Hà Nội .Hiện nay trụ sở chính của NHCT Đống Đa
đang đóng tại số 187 phố Tây Sơn.
Bớc đầu hoạt động của chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn bởi trớc đây đang
còn là đơn vị hạch toán trực thuộc NHNN chịu sự chỉ đạo trực tiếp của NHNN
TW.Mọi hoạt động đều mang tính bao cấp,có kinh doanh nhng thờng bị thua
lỗ.Trong thời kì mở cửa của nền kinh tế,NHCT Đống Đa phải tìm mọi cách để tiép
cận với thị trờng.Một phần nhờ vào lợi thế về địa bàn là nơi có mật độ dân c đông
đúc,có nhiều khu công nghiệp lớn đa dạng,tập trung nhiều nhà máy sản xuất công

+ Kế toán thanh toán:Bộ phận này đợc chia thành 4 bộ phận nhỏ là bộ phận
TTBT,bộ phận TTĐT,quầy séc bảo chi,thanh toán bằng ủy nhiệm thu,uỷ nhiệm
chi.Theo đó,các thanh toán viên thì có nhiệm vụ giao dịch với khách hàng,quản lí
tiền gửi,tiền vay của khách hàng.Các cán bộ TTBT,TTĐT thực hiện các công việc
thuộc về nghiệp vụ của mình.
+ Kế toán nội bộ có nhiệm vụ là quản lí vốn của ngân hàng ,hạch toán tài vụ,quản
lí và hạch toán toàn bộ những chi tiêu nội bộ của ngân hàng .
+ Kế toán tiết kiệm: Phòng nguồn vốn sau khi huy động thì chuyển tất cả các
chứng từ về bộ phận kế toán tiết kiệm.
+ Bộ phận kiểm soát kiểm tra,kiểm soát về tính hợp lệ của chứng từ.Việc kiểm soát
đợc thực hiện bằng tay,sau đó phân ra chứng từ tơng ứng với mỗi bộ phận
+ Bộ phận báo biểu có nhiệm vụ làm số liệu tập hợp toàn chi nhánh.
+ Bộ phận báo giấy tờ in
Tổng số cán bộ nhân viên của phòng kế toán hiện nay là 50 ngời.
- Phòng kinh doanh đối ngoại có nhiệm vụ quản lí các khoản tiền vay ngoại tệ
gồm tiền gửi,tiền vay,LC,chuyển ngoại tệ ra nớc ngoài và các dịch vụ khác về
ngoại hối nh mua ngoại tệ,quản lí tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ của các
doanh nghiệp,cá nhân...Quân số cán bộ trong phòng là 15 ngời.
- Phòng điện toán có nhiệm vụ tập hợp toàn bộ các phát sinh của ngân hàng từ
phòng kế toán chuyển sang để xử lí bằng máy tính,cuối ngày lên bảng cân đối
hàng ngày,hàng tháng,hàng quý,hàng năm.Phòng điện toán đợc nối mạng với
phòng kinh doanh ngoại hối và phòng kế toán của ngân hàng.Quân số cán bộ
trong phòng là 10 ngời.
- Phòng kho quỹ làm nhiệm vụ thu chi tiền tệ (là tiền mặt VNĐ và ngoại tệ)
trong các trờng hợp sau:
+ Phòng nguồn vốn khi thu đợc tiền gửi của dân c đa về phòng kho quỹ.
+ Thu tiền của khách hàng gửi về ngân hàng .
25

Trích đoạn Tình hình sử dụng vốn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status