Lời mở đầu
Cùng với công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Ngành xây
dựng cơ bản ở nớc ta đang thu hút một khối lợng vốn đầu t lớn, là ngành mũi
nhọn của nền kinh tế quốc dân, tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội,
góp phần đa đất nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Để đảm bảo vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu t xây dựng cơ
bản, các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc hớng vào việc quản lý chặt chẽ
nguồn vốn đầu t nhất là đối với do ngân sách nhà nớc cấp. Điều đó đặt ra một
vấn đề cho các doanh nghiệp hoạt động xây lắp là muốn đứng vững trong cơ
chế thị trờng, kinh doanh có lãi thì con đờng tất yếu và cơ bản nhất là phấn đấu
hạ giá thành sản xuất sản phẩm.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề đó qua thời gian nghiên cứu lý
luận và tìm hiểu thực tế tại Công ty cơ khí, xây dựng và lắp máy điện nớc, thấy
có nhiều vấn đề trong lĩnh vực xây lắp của Công ty cần quan tâm, em mạnh dạn
chọn đề tài:
Những phơng hớng và biện pháp quản lý chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp ở Công ty cơ khí, xây dựng và lắp máy điện nớc.
Chuyên đề gồm 3 chơng:
Chơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi phí kinh
doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Chơng II: Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm ở Công ty cơ khí, xây dựng và lắp máy điện nớc.
Chơng III: Một số biện pháp nhằm tăng cờng quản lý chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm xây lắp của Công ty cơ khí, xây dựng và lắp
máy điện nớc.
1
Chơng I
Những vấn đề Lý luận cơ bản về quản lý chi phí
sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp
sản xuất ra. Để tiêu thụ đợc sản phẩm thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những
chi phí nhất định nh chi phí về bao gói sản phẩm, vận chuyển, bảo quản sản
phẩm. Ngoài ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho ngời tiêu dùng, cũng nh h-
ớng dẫn tiêu dùng, điều tra, khảo sát thị trờng để có những quyết định đối với
việc sản xuất thì doanh nghiệp còn quảng cáo, giới thiệu sản phẩm hay bảo
hành sản phẩm. Tất cả những chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm hay
bảo hành sản phẩm gọi là chi phí tiêu thụ hay còn gọi là chi phí lu thông sản
phẩm.
Ngoài chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong kinh doanh, doanh
nghiệp còn phải nộp những khoản tiền thuế gián thu cho nhà nớc theo luật thuế
đã quy định nh thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập
khẩu.v.v. Đối với doanh nghiệp những khoản tiền thuế phải nộp trên là những chi
phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kinh doanh vì thế nó mang tính chất các
khoản chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Nh vậy, từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm
và các khoản tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một thời kì nhất định.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp sản xuất,
trớc hết phải xác định hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp
mình, lựa chọn việc sản xuất kinh doanh những loại sản phẩm nhất định thuộc
phạm vi ngành nghề sản xuất nhất định của xã hội. Mỗi ngành sản xuất vật chất
của xã hội nh công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng v.v... có những đặc điểm
kinh tế kỹ thuật riêng. Những đặc điểm đó sẽ ảnh hởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất ấy.
3
1.2-/ Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp;
1.2.1. Khái niệm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định. Giá
và điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp nh: Chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định
phục vụ bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp; tiền lơng và các khoản
trích nộp theo quy định của bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp; chi phí
dịch vụ mua ngoài; chi phí khác bằng tiền phát sinh ở doanh nghiệp nh chi phí
về tiếp tân khánh tiết, giao dịch, chi phí các khoản trợ cấp thôi việc cho ngời lao
động...
1.3-/ Sự cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá
thành sản phẩm .
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có mối quan hệ mật
thiết với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh - chi phí kinh doanh
Do vậy đối với nhà quản trị phải đi vào quản lý chi phí trong quá trình
kinh doanh , thờng xuyên kiểm tra giám sát chặt chẽ chi phí sản xuất kinh
doanh để đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả, bởi vì nếu mỗi đồng chi phí
không hợp lý đều làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp việc hạ giá thành có ý nghĩa rất lớn, thể hiện:
- Hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố tạo điều kiện cho
doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm. Khi thị trờng có sự cạnh
tranh, hàng hoá đa dạng, phong phú, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất
lợng sản phẩm và phải tìm các biện pháp giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm.
Việc hạ giá thành sẽ tạo đợc lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, doanh
nghiệp có thể giảm bớt giá bán để đẩy nhanh việc tiêu thụ sản phẩm, thu hồi
vốn nhanh.
5
- Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Do giá cả
đợc hình thành từ quan hệ cung cầu trên thị trờng, nếu giá thành hạ so với giá
trên thị trờng, doanh nghiệp sẽ thu đợc lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng
cao. Nếu giá thành càng thấp, doanh nghiệp sẽ có lợi là có thể hạ đợc giá bán để
có thể tiêu thụ khối lợng sản phẩm nhiều hơn và sẽ thu đợc lợi nhuận lớn hơn.
thành sản phẩm :
Nh trên đã nêu việc giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm đối với một
doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Vì thế, bộ phận tài chính doanh nghiệp
cần phát huy vai trò của mình, tăng cờng kiểm tra quá trình thực hiện chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Việc kiểm tra đó có thể thực
hiện theo nội dung chủ yếu sau đây:
a. Kiểm tra tài chính đối với khoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu:
Thông thờng chi phí nguyên nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy việc phấn đấu
giảm thấp chi phí nguyên nhiên vật liệu có ý nghiã rất lớn đối với việc hạ giá
thành sản phẩm.
Chi phí về nguyên vật liệu trong giá thành một loại sản phẩm chủ yếu phụ
thuộc vào hai yếu tố: Lợng nguyên vật liệu tiêu hao và giá nguyên vật liệu. Nh-
ng cũng cần thấy rằng chi phí nguyên vật không chỉ phụ thuộc vào khâu sản
xuất mà nó còn liên quan đến các khâu khác nh khâu mua, vận chuyển, kiểm
nhận, bảo quản... Do vậy, việc kiểm tra chi phí vật t không chỉ thực hiện trong
khâu sản xuất mà cần phải kiểm tra cả ở khâu mua, khâu dự trữ có liên quan
đến hai yếu tố: lợng vật t tiêu hao và giá vật t.
Đối với yếu tố lợng vật t tiêu hao bộ phận tài chính cần tham gia xây dựng
định mức tiêu hao vật t cho một đơn vị sản phẩm. Định mức tiêu hao vật t là vấn
đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chi phí vật t của doanh nghiệp. Thông
qua tình hình xuất, nhập vật t thực hiện việc kiểm tra đối với các khâu mua sắm,
kiểm nhận vật t, bảo quản dự trữ, xuất vật t dùng vào sản xuất ... Nhằm ngăn
chặn tình trạng vật t bị mất mát h hỏng và kém phẩm chất. Cũng cần chú ý là
7
đối với việc sản xuất các sản phẩm có tính thời vụ, việc mua sắm, dự trữ vật t
không đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất sẽ có thể gây tổn thất lớn trong
sản xuất.
Đối với yếu tố vật t, bộ phận tài chính cần tham gia ý kiến ngay từ đầu vào
việc lựa chọn nguồn vật t, địa điểm giao hàng, thời hạn cung cấp, phơng tiện
ơng.
Thông qua việc thanh toán chi trả tiền lơng, bộ máy tài chính doanh
nghiệp cần kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lơng và kế hoạch
sản xuất. Trong đó cần chú trọng xem xét tình hình thực hiện định mức lao
động, mối quan hệ giữa tốc độ tăng tiền lơng bình quân và tốc độ tăng năng suất
lao động, về nguyên tắc tốc độ tăng năng suất liền lơng phải chậm hơn tốc độ
tăng năng xuất lao động. Đồng thời cũng cần phải xem xét tác động của hình
thức trả lơng đến việc nâng cao năng xuất lao động, giảm tỷ lệ phế phẩm, tìm ra
những hình thức trả lơng có hiệu quả cao.
Bộ phận tài chính cũng cần phối hợp với các bộ phận tiền lơng và các bộ
phận khác của doanh nghiệp định kỳ tiến hành phân tích đánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch lao động tiền lơng để phát hiện những tình trạng bất hợp lý, rút ra
những kinh ngiệm tốt trong việc quản lý lao động tiền lơng.
c. Kiểm tra tài chính đối với những khoản chi có tính chất tổng hợp nh
chi phí phân xởng (chi phí sản xuất chung), chi phí quản lý xí nghiệp (chi phí
gián tiếp)
Việc kiểm tra tài chính đối với những khoản chi phí đợc thực hiện trong
quá trình lập và chấp hành các dự toán chi phí này.
Phơng pháp chủ yếu kiểm tra lập các dự toán chi phí trên là căn cứ vào
nội dung các khoản chi phí và các tiêu chuẩn định mức để xem xét tính chất
hợp lý của các khoản chi phí trong dự toán, phát hiện những điểm bất hợp lý
trong dự toán.
Phơng pháp chủ yếu kiểm tra quá trình thực hiện các dự toán chi phí trên
là căn cứ nội dung các khoản chi phí và các dự toán đã đợc lập thông qua việc
thanh toán thực hiện chi phí, tình hình thực tế thực hiện dự toán và tính chất
hiệu quả của các khoản chi phí bỏ ra, kết hợp với tình hình thực hiện kế hoạch
9
sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xem xét phân tích
để phát hiện loại trừ những chi phí bất hợp lý ngăn chặn tình trạng chi phí quá
mức cần thiết, chi phí kém hiệu quả.
- Tốc độ phát triển kỹ thuật và mức độ áp dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật chậm hơn ngành khác.
-Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp có thể là các hạng
mục công trình, đơn đặt hàng giai đoạn công việc hoàn thành. Vì thế phải lập
dự toán tính giá thành theo từng đối tợng hạch toán.
2.2-/ Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp:
Cũng nh các khác tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trờng
nhằm mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Muốn đạt đợc mục tiêu đó các doanh
nghiệp xây lắp phải bỏ ra những chi phí nhất định nh: chi phí sản xuất, chi phí
tiêu thụ sản phẩm . Trong hoạt động kinh doanh xây lắp, chi phí sản xuất là
toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình
sản xuất và cấu thành giá thánh xây lắp (với khối lợng xây lắp đã hoàn thành).
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi
chi phí trên đều biểu hiện bằng tiền trong đó chi phí về tiền công, tiền trích bảo
hiểm xã hội bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn...là biểu hiện bằng tiền của hao
phí lao động sống. Còn những chi phí khấu hao tài sản cố định, nguyên liệu vật
liệu là biểu hiện bằng tiền của lao động vật hoá.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phát sinh thờng
xuyên trong suốt quá trình sản xuất nhng để phục vụ cho quản lý và tập theo
từng thời kì hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kì báo cáo Trong đó
chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kì mới tính vào chi
phí sản xuất trong kì. Trong đơn vị xây lắp chi phí sản xuất gồm nhiều loại có
tính chất và công dụng kinh tế khác nhau, yêu cầu quản lí đối với từng loại cũng
khác nhau, việc quản lí chi phí sản xuất không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi
phí sản xuất mà phải theo dõi, dựa vào số liệu của từng loại chi phí.
2.3-/ Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
11
Do đặc điểm của chi phí sản xuất là phát sinh hàng ngày gắn liền với từng vị
trí sản xuất, từng sản phẩm và loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp
tính toán chi phí sản xuất cần đợc tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất ra
nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tơng tự
nh chi phí trực tiếp nhng những chi phí này phát sinh ở bộ phận quản lý đội,
phân xởng sản xuất của đơn vị xây lắp, vì vậy phải tiến hành phân bổ cho các
đối tợng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phơng pháp tập hợp và
phân bổ chi phí cho các đối tợng một cách hợp lý. Mỗi loại chi phí trên có tác
dụng khác nhau đến khối lợng và chất lợng công trình nên việc định bỏ hai loại
chi phí này có ý nghiã thực tiễn cho việc đánh giá tính hợp lý của chi phí và tìm
biện pháp không ngừng giảm chi phí gián tiếp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu t của doanh nghiệp. Nó cung cấp thông tin cho việc quản trị doanh nghiệp,
việc đa ra quyết định đầu t vốn vào bộ phận nào là hợp lý.
c. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục:
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng kinh tế của
chi phí trong sản xuất, toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp đợc chia
thành các khoản mục sau đây:
- Chi phí về nguyên vật liệu
- Chi phí về nhân công
- Chi phí về sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
Theo cách phân loại này, mỗi loại chi phí thể hiện điều kiện khác nhau của
chi phí sản xuất, thể hiện nơi phát sinh chi phí, đối tợng gánh chịu chi phí.
Đồng thời cách phân loại này tạo điều kiện để xác định mức độ ảnh hởng của
các nhân tố khác nhau và giá thành sản phẩm phục vụ cho công tác kế hoạch
hoá và tính giá thành sản phẩm.
Ngoài ra, trong các doanh nghiệp xây lắp còn phát sinh các khoản mục chi
phí kinh doanh phụ, các chi phí thuộc quỹ Công ty và các nguồn chi phí khác.
13
Các chi phí sản xuất phụ trợ sản xuất xây lắp chính sẽ đợc tập hợp, sau đó phân
bổ cho các dối tợng sản xuất chính theo tiêu thức phù hợp.
2.4.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
a. Căn cứ vào cơ sở số liệu để tính gía thành thì giá thành sản phẩm xây
lắp đợc chia ra thành: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực
tế.
1. Giá thành dự toán(Zdt): là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành
một khối lợng xây lắp. Giá thành dự toán đợc xác định trên cơ sở các định mức
theo thiết kế đợc duyệt và khung giá theo quy định đơn giá xây dựng cơ bản áp
dụng vào từng vùng lãnh thổ, từng địa phơng do cấp có thẩm quyền ban hành.
2. Giá thành kế hoạch(Zkh): là giá thành đợc xây dựng từ những điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp trên cơ sở phấn đấu hạ giá thành so với dự toán
bằng các biện pháp tăng cờng quản lý kỹ thuật, vật t, thi công, các định mức và
đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp
Zkh = Zdt - Mức hạ giá dự toán
Với doanh nghiệp không có giá thành dự toán thì giá thành kế hoạch đợc
xác định khi bớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế năm trớc và các
định mức kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chi phí gắn liền
với chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo một danh mục thống nhất theo
từng ngành sản xuất lập ra trên cơ sở hao phí lao động, hao phí vật chất và giá
cả kế hoạch. Do vậy, bên cạnh giá thành kế hoạch còn có giá thành định mức đ-
ợc xây dựng trên cơ sở mức hiện hành cho từng giai đoạn của từng thời
kỳ(tháng, quý, năm ...) .
3. Giá thành thực tế (Ztt) : Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn
thành, bàn giao khối lợng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu.
Giá thành này bao gồm: các chi phí theo định mức, vợt định mức, không
định mức, vợt định mức, không định mức( thiệt hại trong sản xuất nh thiệt hại
về ngừng sản xuất và thiệt hại phá đi làm lại, lãng phí lao động vật t trong
quá trình thi công... ).
15
Giá thành thực tế là các khoản chi thực tế theo khoản mục quy định
thống nhất cho phép tính vào gía thành. Nó đợc vào cuối thời kỳ kinh doanh.
Giá hợp đồng công tác xây lắp là loại giá thành dự toán ghi trong hợp
đồng kí kết giữa chủ đầu t và doanh nghiệp xây lắp sau khi thoả thuận giao
thầu. Đó cũng chính là giá thành của đơn vị xây lắp thắng thầu và đợc chủ đầu
t thoả thuận ký hợp đồng giao thầu. Về nguyên tắc giá thành hợp đồng chỉ đợc
nhỏ hơn hoặc bằng giá thành đấu thầu công tác xây lắp.
Việc áp dụng hai loại giá thành sản phẩm xây lắp trên là yếu tố quan
trọng của việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong xây dựng. Nó sử dụng
quan hệ tiền - hàng tạo ra sự mềm dẻo nhất định trong quan hệ giữa chủ đầu t và
doanh nghiệp xây lắp trong việc chủ động định giá sản phẩm của mình cũng nh
chủ động trong kinh doanh, thích hợp với cơ chế thị trờng cạnh tranh lành
mạnh.
2.5-/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí biều hiện mặt
hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai
mặt thống nhất của một quá trình sản xuất. Giá thành và chi phí sản xuất sản
phẩm xây lắp đều bao gồm chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà
doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra trong quá trình tạo ra sản phẩm. Tuy nhiên do bộ
phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành và chi phí sản
xuất khác nhau về lợng. Cách xác định:
Tổng Chi phí Chi phí SX Chi phí
giá thành = SXDD + phát sinh - SXDD
sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Nh vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong
thời kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chi ra gắn
liền với việc sản xuất và hoàn thành một khối lợng công việc xây lắp nhất định
17
®îc nghiÖm thu, bµn giao, thanh to¸n. Gi¸ thµnh s¶n phÈm kh«ng bao gåm chi
phÝ cho khèi lîng dë dang cuèi kú, nh÷ng chi phÝ kh«ng liªn quan ®Õn ho¹t
®éng s¶n xuÊt, nh÷ng chi phÝ chi ra nhng chê ph©n bæ cho kú sau. Nhng nã l¹i