Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc đã đem lại những biến chuyển tích cực cho tất cả các thành phần kinh tế, nền
kinh tế này không những khuyến khích các thành phần kinh tế tăng trởng và phát
triển, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nớc, tạo công ăn việc làm, ... mà còn góp
phần đa nền kinh tế nớc ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Từ khi nớc
ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì các doanh nghiệp đã thực hiện hạch toán
kinh tế độc lập, do đó mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là bảo toàn và
phát triển vốn kinh doanh đồng thời có lợi nhuận. Với đặc điểm của nền kinh tế thị
trờng thì các doanh nghiệp muốn tìm đợc cho mình chỗ đứng vững chắc trên thị tr-
ờng thì phải luôn cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp khác. Lúc này, sản phẩm
với chất lợng tốt là chìa khoá cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, tăng nhanh
vòng quay vốn, đem lại nhiều lợi nhuận từ đó tích luỹ cho doanh nghiệp và nâng cao
đời sống cho cán bộ công nhân viên. Do đó, để có thể điều hành và chỉ đạo sản xuất
kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp bên cạnh việc tăng c-
ờng đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng
cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm thì công tác quản lý sản xuất, quản lý
kinh tế đảm bảo thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh là một yêu cầu cấp bách
không kém phần quan trọng. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tự nghiên cứu và
tìm cho mình con đờng đi để tồn tại và phát triển. Đứng trớc yêu cầu cấp bách đó,
mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn bất kỳ một phơng án kinh doanh nào cũng phải đặt
vấn đề hiệu quả lên hàng đầu, tức là đạt đợc lợi nhuận cao nhất. Đó là một yêu cầu
bức xúc đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào và để thực hiện đợc yêu cầu đó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý chặt chẽ việc sử dụng lao động, vật
t, tiền vốn tức là phải quản lý chặt chẽ các chi phí sản xuất từ đó tiết kiệm chi phí
sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
Nh vậy, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn giữ vai
trò quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Công tác
này cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất, giúp các nhà lãnh đạo có thể phân
tích đợc và ra các quyết định quản trị kịp thời.
1
1) Chi phí sản xuất
1.1) Khái niệm:
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là
các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hởng trực tiếp tới lợi
nhuận. Để quản lý đợc chi phí cần thiết phải làm rõ các cách phân loại chi phí khác
nhau trong kế toán quản trị, vì mỗi cách phân loại chi phí đều cung cấp những thông
tin ở những góc độ khác nhau cho các nhà quản trị ra các quyết định thích hợp.
Trong kế toán tài chính, chi phí đợc định nghĩa nh là một khoản hao phí bỏ ra để
thu đợc một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bản chất của chi phí phải mất đi để
đổi lấy một khoản thu về.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận
động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá
trình sản xuất là quá trình kết hợp giữa sức lao động với t liệu lao động và đối tợng
lao động để tạo ra sản phẩm.
Nh vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản
phẩm trong một kỳ nhất định. Còn chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất
định. Nói cách khác, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch giá trị của
các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá.
3
Chi phí sản xuất gồm 3 khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí của những loại nguyên vật liệu
cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thê xác định đợc một cách tách
biệt, rõ ràng và cụ thể cho từng sản phẩm.
Chi phí lao động trực tiếp: Là chi phí tiền lơng của những lao động trực tiếp
(chi cho sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ,...), chi cho quá trình
tiêu thụ và quản lý (chi cho bán hàng, quản lý doanh nghiệp,...).
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tổng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí
hoặc tiêu dùng cho quá trình sản xuất trong kỳ đó. Ngoài sự khác nhau về lợng, chi
phí và chi tiêu còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhng cha
đợc tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhâp kho cha đa vào sử dụng,...)
hay có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha chi tiêu (chi phí trích
trớc). Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức
dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật
hạch toán chúng.
1.2) Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dụng kinh tế khác
nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau.
Vì vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí
sản xuất cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Tuỳ vào mục đích và yêu cầu
quản lý mà chi phí sản xuất đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy
nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thờng đợc phân theo các tiêu thức sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng
nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc
phân theo nội dung và tính chất kinh tế. Theo cách phân loại này, những chi phí sản
xuất nào giống nhau về tính chất và nội dung kinh tế thì đợc xếp vào một yếu tố chi
phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu
và mục đích hoặc tác dụng của chi phí đó là gì. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi
5
là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ của
doanh nghiệp đợc chia thành các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ (không tính vào khoản mục này chi phí nguyên vật
liệu sử dụng vào mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất).
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp lơng và tiền
trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất (không tính vào khoản
mục này số tiền lơng, phụ cấp lơng và tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân
viên quản lý phân xởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp).
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xởng
(trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp), chi phí sản xuất
chung gồm có:
+Chi phí nhân viên phân xởng
+Chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng chung cho hoạt động sản xuất của
phân xởng.
+Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng tại phân xởng.
+Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung cho phân xởng.
+Chi phí bằng tiền khác phục vụ cho yêu cầu sản xuất chung ở phân xởng.
Ngoài ra, để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ thì theo quy định hiện
hành, giá thành sản phẩm bao gồm năm khoản mục :
- Ba khoản mục nêu trên: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
-Chi phí bán hàng: Là những chi phí mà doạnh nghiệp bỏ ra có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ nh chi phí nhân viên
bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo,...
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí phát sinh có liên quan
chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra đợc cho
bất kỳ hoạt động nào, bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và
chi phí chung khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng có tác dụng phục vụ cho
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính
trực tiếp cho từng đối tợng chịu phí.
8
- Chi phí gián tiếp: Là nhng chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất
nhiều loại sản phẩm, thực hiện nhiều lao vụ, dịch vụ và không thể ghi trực tiếp mà
phải phân bổ cho các đối tợng chịu phí theo tiêu thức phù hợp.
2) Giá thành sản phẩm:
2.1) Khái niệm:
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình tiêu tốn các chi phí
sản xuất. Kết thúc quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu đợc các sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành. Các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ này đợc sản xuất ra là để tiêu thụ
với mục đích thu đợc một khoản tiền mà sau khi bù đắp các chi phí sản xuất hình
thành nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đó doanh nghiệp vẫn có lãi.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng sản phẩm
hoặc đơn vị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành. Hay giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh
nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Nh vậy, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất. Nó còn là căn cứ để xác định mức bù đắp những gì mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và là căn cứ để xây
dựng, để đánh giá hiệu quả của các biện pháp kinh tế kỹ thuật doanh nghiệp áp dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp cũng đợc phản ánh qua chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
2.2) Phân loại giá thành sản phẩm :
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán hoá giá thành cũng
nguyên nhân vợt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế
hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
b) Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành sản phẩm đợc chia thành:
- Giá thành sản xuất (Giá thành công xởng):
10
Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất nh chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính
cho những sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm
đợc dùng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách
hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và
lãi gộp của doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ (Giá thành tiêu thụ):
Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng
thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hoàn
thành và đã đợc tiêu thụ. Chỉ khi nào sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đợc tiêu thụ thì mới
xác định đợc giá thành toàn bộ. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính
toán, xác định lãi trớc thuế lợi tức của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh doanh (lãi, lỗ)
của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
3) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không phải là hai khái niệm đồng nhất
nhau, nhng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng là hai mặt của quá trình sản
xuất, chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản
ánh mặt kết quả sản xuất.
Về chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm giống nhau, tức
là đều tiêu hao yếu tố lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra cho
hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành, sự tiết kiệm hay lãng phí về chi phí sản
- Trình độ nhân viên kế toán và yêu cầu quản lý của đơn vị.
Từ những căn cứ trên, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là:
- Sản phẩm hay bộ phận chi tiết sản phẩm
- Phân xởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
- Đơn đặt hàng
- Giai đoạn, bớc công nghệ hay toàn bộ quy trình công nghệ
Trên cơ sở đối tợng hạch toán chi phí sản xuất, kế toán lựa chọn phơng pháp
hạch toán chi phí sản xuất thích hợp. Các phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất th-
ờng đợc sử dụng là:
- Hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo bộ phận, chi tiết sản phẩm.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh chi phí hay theo phân xởng.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng - mỗi đơn đặt hàng là một đối t-
ợng hạch toán chi phí sản xuất.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ.
12
Mỗi phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất chỉ thích ứng với một loại đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất nên tên gọi của các phơng pháp này là biểu hiện đối tợng
mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
2) Hạch toán chi phí sản xuất :
2.1) Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a) Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Khái niệm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, ... đợc sử dụng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm. Đối với chi
phí nguyên vật liệu có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng
biệt (phân xởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, ...) thì hạch toán
trực tiếp cho đối tợng đó. Trong trờng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên
quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí, không thể hạch toán riêng đợc thì phải tiến
TK151,152,331,
111,112,411,311,... TK621 TK154
TK152
Vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản
phẩm, tiến hành lao vụ, dịch vụ
Kết chuyển chi
phí nguyên vật
liệu trực tiếp
Vật liệu dùng không hết
nhập kho hay chuyển kỳ sau
TK1331
VAT được khấu
trừ (nếu có)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phư
ơng pháp kê khai thường xuyên
b) Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp
kiểm kê định kỳ:
Đặc điểm của phơng pháp kiểm kê định kỳ là không theo dõi sự biến động của
nguyên vật liệu một cách thờng xuyên liên tục mà cuối kỳ mới thực hiện kiểm kê và
xác định giá trị của hàng tồn kho. Từ đó xác định giá trị của nguyên vật liệu xuất
dùng trong kỳ theo công thức:
Giá trị nguyên vật
liệu xuất dùng
trong kỳ
=
Giá trị nguyên
vật liệu tồn đầu
kỳ
+
Giá trị nguyên
Giá trị vật liệu dùng
chế tạo sản phẩm
hay thực hiện dịchvụ
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Giá trị vật liệu chư
a dùng
VAT đư
ợc khấu
trừ (nếu
có)
TK1331
Sơ đồ1. 2: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo ph-
ơng pháp kiểm kê định kỳ
2.2) Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
a) Khái niệm:
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ, bao
gồm: tiền lơng chính, tiền lơng phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lơng và các
khoản trích theo lơng (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân trực tiếp sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp thờng đợc tính trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi
phí có liên quan. Tuy nhiên cũng có trờng hợp chi phí này không thể hạch toán đợc.
Trong trờng hợp đó cần tiến hành phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối t-
ợng chịu chi phí liên quan theo một trong những tiêu thức sau: Chi phí tiền công
định mức (hoặc kế hoạch), giờ công định mức (hoặc thực tế), khối lợng sản phẩm
sản xuất.
b) Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK622 - " Chi phí nhân
công trực tiếp ". Tài khoản này cuối kỳ không có số d và đợc mở chi tiết theo từng
sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi
phí phát sinh trong phạm vi các phân xởng (tiền lơng và các khoản trích theo lơng
của nhân viên quản lý phân xởng nh quản đốc, phó quản đốc, ...), chi phí nguyên vật
liệu dùng cho phân xởng, chi phí công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất, chi phí khấu
hao TSCĐ dùng cho sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho sản xuất, chi phí
sản xuất chung khác bằng tiền.
Chi phí sản xuất chung đợc tập hợp theo từng địa điểm, từng phân xởng phát
sinh chi phí. Nếu phân xởng sản xuất nhiều loại sản phẩm hay thực hiện nhiều lao
vụ, dịch vụ thì để tính đợc giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đó cần thiết phải
phân bổ chi phí sản xuất chung này cho từng đối tợng theo tiêu thức phù hợp (theo
định mức, theo tiền lơng công nhân trực tiếp sản xuất thực tế, theo số giờ làm việc
thực tế của công nhân sản xuất ).
Cách thức phân bổ nh sau:
Đối với chi phí sản xuất chung biến đổi, kế toán sẽ phân bổ hết cho lợng sản
phẩm, dịch vụ hoàn thành
Đối với định phí sản xuất chung, trong trờng hợp mức sản phẩm thực tế sản
xuất cao hơn mức công suất bình thờng (mức công suất bình thờng là mức sản phẩm
16
đạt đợc ở trung bình trong điều kiện bình thờng) thì định phí sản xuất chung đợc
phân bổ hết cho số sản phẩm sản xuất.
Trờng hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra nhỏ hơn mức công suất bình th-
ờng thì phần định phí sản xuất chung phải phân bổ theo công suất bình thờng, trong
đó, số định phí sản xuất chung tính cho lợng sản phẩm chênh lệch giữa thực tế so
với mức bình thờng đợc tính vào giá vốn hàng tiêu thụ (còn gọi là định phí sản xuất
chung không phân bổ).
b) Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng TK627 - "Chi phí
sản xuất chung ", mở chi tiết theo từng phân xởng, bộ phận sản xuất, dịch vụ. Bên
cạnh đó, chi phí sản xuất chung còn đợc chi tiết theo định phí (gồm những chi phí
Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối
tượng tính giá (theo phương pháp KKĐK)
Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối
tượng tính giá (theo phương pháp KKTX)
Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí sản
xuất chung
TK631
TK627
Sơ đồ1. 4: Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất chung
III) hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh
giá sản phẩm dở dang:
1) Tổng hợp chi phí sản xuất:
Các khoản mục chi phí sản xuất nh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung sau khi đợc hạch toán riêng sẽ đợc kết
chuyển để tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp và chi tiết theo từng đối tợng
tập hợp chi phí sản xuất.
Tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng tại đơn vị là phơng
pháp kê khai thờng xuyên hay kiểm kê định kỳ mà kế toán sử dụng tài khoản khác
nhau để tổng hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
1.1) Đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Các chi phí sản xuất kể trên cuối cùng đợc tổng hợp vào bên Nợ TK154 - "Chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang". Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng hợp đối t-
ợng tập hợp chi phí.
Kết cấu của TK154:
- Bên Nợ: Tổng hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
- Bên Có: + Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm.
+ Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
- D Nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang, cha hoàn thành.
Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất đợc tiến hành nh sau:
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ hạch toán chi phí sản phẩm (kê khai thờng xuyên)
Đối với trờng hợp sản xuất - kinh doanh phụ phục vụ cho các đối tợng, kế toán
ghi theo giá thành sản phẩm, dịch vụ phục vụ.
1.2) Đối với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp kiểm kê định kỳ:
Kế toán sử dụng TK631 - "Giá thành sản xuất" để tổng hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm. Tài khoản này cũng đợc chi tiết theo đối tợng tập hợp chi
phí tơng tự nh TK154. Tại các doanh nghiệp áp dụng phơng pháp kiểm kê định kỳ,
TK154 - "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" chỉ dùng để phản ánh chi phí sản
xuất của những sản phẩm, lao vụ, dịch vụ còn đang sản xuất dở dang cuối kỳ.
Kết cấu của TK631:
- Bên Nợ: Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và các chi phí sản xuất phát
sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Bên Có: + Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
+ Tổng giá thánhản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
+Giá trị thu hồi bằng tiền hoặc phải thu ghi giảm chi phí từ sản xuất.
TK631 cuối kỳ không có số d.
Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất đợc tiến hành nh sau:
19
TK621
TK622
TK631
TK627
TK632
Phần giá vốn sản phẩm tiêu thụ
bị trả lại nhập kho hoặc gửi tại
kho ngời mua
Kết chuyển chi phí sản xuất
chung
Kết chuyển chi phí nhân công
Giá trị vật liệu chính nằm
trong sản phẩm dở dang
=
Số lợng sản phẩm dở
dang cuối kỳ
x
Toàn bộ giá trị
vật liệu chính
xuất dùng
Số lợng
thành phẩm
+
Số lợng sản
phẩm dở dang
Phơng pháp này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp mà chi phí nguyên vật liệu
chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành sản phẩm.
Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lợng ớc tính tơng đơng:
Theo phơng pháp này, các sản phẩm dở dang đợc quy đổi về sản phẩm hoàn
thành tơng đơng dựa vào mức độ hoàn thành và số lợng sản phẩm dở dang.Tiêu
chuẩn quy đổi thờng dựa vào giờ công hoặc tiền lơng định mức. Phơng pháp này chỉ
nên áp dụng để tính chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác
định theo số thực tế đã dùng để đảm bảo tính chính xác.
Giá trị vật liệu
chính nằm trong
sản phẩm dở dang
=
Số lợng sản phẩm dở dang cuối kỳ
(không quy đổi)
x
Toàn bộ giá trị vật
quy ớc là 50% so với thành phẩm.
Giá trị sản phẩm dở
dang cha hoàn thành
=
Giá trị nguyên vật liệu chính
nằm trong sản phẩm dở dang
+
50% chi phí
chế biến
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp mà sản phẩm có chi phí chế
biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí.
Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
hoặc theo chi phí trực tiếp:
Theo phơng pháp này, trong tổng giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí trực tiếp (nguyên vật liệu và nhân công trực
tiếp) mà không tính đến các chi phí khác.
Xác định giá trị sản phẩm dở dang thep chi phí định mức hoặc kế hoạch:
Căn cứ vào định mức tiêu hao (hoặc chi phí kê hoạch) cho các khâu, các bớc,
các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở
dang.
Phơng pháp này chỉ áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp mà sản phẩm đ-
ợc xây dựng định mức chi phí sản xuất.
Ngoài những phơng pháp trên, trong thực tế ngời ta còn áp dụng các phơng pháp
khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang nh phơng pháp thống kê kinh nghiệm,
21
phơng pháp tính theo chi phí vật liệu chínhh và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở
dang v.v...
IV) Tính giá thành sản phẩm
1) Đối tợng tính giá thành và kỳ tính giá thành
2) Các phơng pháp tính giá thành sản phẩm
Tuỳ theo đặc điểm của mình mà mỗi doanh nghiệp tự lựa chọn một phơng pháp
tính giá sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất. Trên cơ sở chi phí sản xuất đã đợc tập
hợp theo các đối tợng tập hợp chi phí, kế toán có thể tiến hành tính giá thành sản
phẩm theo một trong các phơng pháp sau:
Phơng pháp trực tiếp (còn gọi là phơng pháp giản đơn)
Theo phơng pháp này, giá thành sản phẩm đợc tính bằng cách lấy trực tiếp chi
phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tợng phát sinh trong kỳ cộng với giá trị sản
phẩm dở dang đầu kỳ( chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ) của đối tợng đó trừ đi giá trị
sản phẩm dở dang cuối kỳ ( chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ) của cùng đối tợng.
Tổng giá thành
sản phẩm
=
Chi phí sản xuất dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
Chi phí dở
dang cuối kỳ
Phơng pháp này đợc áp dụng trong những doanh nghiệp thuộc loại hình sản
xuất giản đơn, trong quy trình công nghệ chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm, số lợng
sản phẩm dở dang không có hoặc không đáng kể, khối lợng sản phẩm sản xuất ra rất
lớn. Chẳng hạn nh các doanh nghiệp sản xuất điện, nớc, ...
Đúng nh tên gọi của nó, phơng pháp này giúp cho công việc tính toán đơn giản,
dễ làm. Tuy nhiên, khi đối tợng hạch toán chi phí sản xuất không trùng với đối tợng
tính giá thành thì không thể áp dụng phơng pháp này.
Phơng pháp tổng cộng chi phí
Phơng pháp này đợc áp dụng trong những doanh nghiệp mà sản phẩm hoàn
Giá thành đơn vị sản
phẩm từng loại
=
Giá thành đơn vị sản
phẩm gốc
x
Hệ số quy đổi sản
phẩm từng loại
Q
0
=
=
n
1i
QiHi
Trong đó: -Q
0
: Tổng số sản phẩm gốc đã quy đổi
-Q
i
:Số lợng sản phẩm i (i=1,n)
-H
i
:Hệ số quy đổi sản phẩm i (i=1,n).
Tổng giá thành
sản xuất của các
loại sản phẩm
=
Giá trị sản phẩm
từng loại sản phẩm
=
Tổng giá thành kế hoạch
từng loại sản phẩm
x
Tỷ lệ
giá thành
Phơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ
Phơng pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệp mà trong cùng một quy
trình công nghệ, sản xuất ra hai loại sản phẩm: sản phẩm chính là nhiệm vụ kinh
doanh của doanh nghiệp và sản phẩm phụ không phải là nhiệm vụ kinh doanh của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp này có đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là phân xởng hay địa
điểm phát sinh chi phí hoặc toàn bộ quy trình công nghệ, còn đối tợng tính giá chỉ là
sản phẩm chính.
Do đó, muốn tính đợc giá thành sản phẩm chính thì phải loại trừ giá trị sản
phẩm phụ.
Giá trị sản phẩm phụ có thể tính theo giá ớc tính không điều chỉnh (đơn giản nh-
ng không chính xác), cũng có thể tính theo giá thực tế bán trên thị trờng (chính xác
nhng phức tạp).
Phơng pháp liên hợp
Là phơng pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất
quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải
kết hợp nhiều phơng pháp khác nhau nh các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng
25