Tài liệu Báo cáo "Quan niệm về pháp luật kinh tế trong cơ chế thị trường " - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 1/2004 9 TS. Trần NGọc Dũng *
1. t vn
Trong nn kinh t th trng, cỏc nh
kinh doanh thuc nhiu thnh phn cú cỏc
quan h kinh t, thng mi rt cht ch v
khng khớt vi nhau. H u mun xõy
dng lũng tin, duy trỡ cỏc mi quan h kinh
t vi cỏc i tỏc mt cỏch lõu di nhm
m bo cho hot ng kinh doanh, thng
mi ca h c n nh v phỏt trin. Tuy
vy, ụi khi, vỡ nhiu lớ do ch quan v
khỏch quan khỏc nhau, cỏc mi quan h kinh
t, thng mi gia cỏc nh kinh doanh cng
cú nhng bt ng v mõu thun, dn n
cỏc tranh chp trong vic thc hin cỏc cam
kt kinh t. Vn t ra l phi cú phng
thc gii quyt tranh chp kinh t mt cỏch
nhanh gn, ớt tn kộm v thi gian, ti chớnh
v sc lc cho hot ng kinh t, thng
mi ca cỏc doanh nghip khụng b nh
hng bt li.
Phng thc gii quyt tranh chp kinh

gia cỏc bờn; 2) Cỏc bờn tranh chp cú th
tho thun chn mt c quan, t chc hoc
cỏ nhõn lm trung gian ho gii.
Tuy vy, cỏc vn bn phỏp lut hin
hnh u khụng cp cỏc vn nh bn
cht, mc ớch, nguyờn tc, ni dung, th
tc ca phng thc gii quyt cỏc tranh
chp kinh t bng thng lng, ho gii.
Chỳng tụi mun nờu ra mt s quan
* Trng i hc lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
10

T¹p chÝ luËt häc sè 1/2004

điểm cá nhân về các vấn đề nêu trên nhằm
gợi mở cho việc nghiên cứu tiếp theo đầy đủ
hơn, sâu sắc hơn về phương thức giải quyết
tranh chấp kinh tế, thương mại có nhiều ưu
điểm này.
2. Bản chất của việc thương lượng, hoà
giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế
Xét về bản chất, thương lượng và hoà
giải trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
tế là hai phương thức giải quyết tranh chấp
kinh tế khác nhau. Chúng có những điểm
chung đều là những hình thức giải quyết
tranh chấp ngoài tố tụng, phi chính phủ. Chủ

đàm phán giải quyết tranh chấp kinh tế. Kết
quả của việc hoà giải là một phương thức
giải quyết vụ tranh chấp mà các bên đều có
thể chấp nhận được.
3. Mục đích của việc giải quyết tranh
chấp kinh tế bằng phương thức thương
lượng, hoà giải
a. Giải quyết tranh chấp kinh tế một
cách nhanh gọn, ít tốn kém
Đối với các nhà kinh doanh, thời gian là
tiền bạc. Việc giải quyết các tranh chấp kéo
dài sẽ làm cho họ không có điều kiện chú
tâm vào các hoạt động kinh doanh, thương
mại và có thể bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh,
dẫn đến các thua thiệt về kinh tế. Phương
thức giải quyết tranh chấp kinh tế theo thủ
tục trọng tài và thủ tục tư pháp đòi hỏi phải
mất khá nhiều thời gian do các bên cũng như
cơ quan trọng tài hoặc toà án phải thực hiện
rất nhiều công đoạn do luật định như lập bộ
hồ sơ và đơn gửi trọng tài hoặc toà án; nộp
các khoản phí và lệ phí; chọn trọng tài viên;
khai những điều có liên quan đến vụ tranh
chấp; điều tra, thu thập thêm tài liệu, chứng
cứ; mở phiên xét xử ở nhiều cấp
Còn đối với việc giải quyết tranh chấp
kinh tế bằng phương thức thương lượng, hoà
giải thì có thể giản tiện được hầu hết các
công việc nói trên. Việc các bên gặp nhau để
đàm phán, thương lượng có thể được tiến

hoà giải, các bên có thể tập trung ngay vào
vấn đề cơ bản, cốt lõi của sự tranh chấp.
(2)c. Bảo vệ được uy tín, vị thế của các nhà
kinh doanh
Trong hoạt động kinh doanh, thương
mại, việc các nhà kinh doanh tạo được một
“thương hiệu”, uy tín và một vị thế trong
giới kinh doanh là hết sức quan trọng. Do
vậy, việc phải đưa nhau ra cơ quan trọng tài
hoặc toà án để kiện nhau hoặc hầu kiện là
một việc mà các nhà kinh doanh không
muốn, vì điều đó, theo tâm lí của người
phương Đông, làm ảnh hưởng bất lợi cho uy
tín nghề nghiệp và vị thế của các nhà kinh
doanh.
Nếu vụ tranh chấp kinh tế, thương mại
được giải quyết bằng thủ tục thương lượng,
hoà giải thì đó là một việc “xử lí kín”, sẽ
không ai biết gì về vụ tranh chấp này ngoài
các bên có tranh chấp và hoà giải viên. Như
vậy, uy tín nghề nghiệp, vị thế và danh dự
của các bên sẽ được giữ vững, mối quan hệ
kinh tế, thương mại với các đối tác khác sẽ
được củng cố và ngày càng phát triển.
d. Tiếp tục duy trì được các mối quan hệ
kinh tế, thương mại giữa các bên
Khi các bên có tranh chấp kinh tế đưa

a. Các bên đều bình đẳng và tự do ý chí
Khi các bên chọn phương thức thương
lượng, hoà giải để giải quyết tranh chấp kinh
tế có nghĩa là các bên tự nguyện tìm đến
nhau để chủ động giải quyết các tranh chấp
hoặc bất đồng. Các bên có quyền đưa ra các
các cơ sở pháp lí và dẫn chứng thực tiễn để
chứng minh cho các quyền và nghĩa vụ của
mình. Các bên cũng thương lượng, cân nhắc
điều hơn lẽ thiệt để tìm ra cách giải quyết
tranh chấp hợp tình, hợp lí mà các bên đều
có thể chấp nhận được. Với phương thức giải
quyết tranh chấp như vậy thì có thể nói là
không có “bên được”, “bên thua” mà các bên
đều bình đẳng với nhau, đều bình đẳng trước
pháp luật.
Việc các bên nêu ra quan điểm và đề
xuất phương hướng, biện pháp giải quyết
tranh chấp cũng hoàn toàn là sự tự do ý chí,
không ai có quyền bắt ép hoặc cưỡng bức ý
chí của bất kì bên nào.
b. Thái độ của các bên phải thẳng thắn,
trung thực
Để cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế
theo phương thức thương lượng, hoà giải đạt
được kết quả mong muốn, các bên phải
thương lượng, hoà giải với thái độ thẳng
thắn và trung thực. Không bên nào được có
biểu hiện gian dối, lừa đảo, vòng vo, vị kỉ,
cố chấp Những lời nói, hành vi có những

Khi các bên đã ngồi lại được với nhau để
giải quyết tranh chấp kinh tế theo phương
thức thương lượng, hoà giải thì kết quả
thương lượng, hoà giải cần phải cụ thể, rõ
ràng chứ không thể chỉ là những thoả thuận
chung chung, mập mờ, có tính nguyên tắc.
Có như vậy thì các bên mới dễ thực hiện, dễ
giám sát nhau trong việc thực hiện các thoả
thuận, mới không phát sinh ra các mâu thuẫn
và tranh chấp mới giữa các bên. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 1/2004
13
. Kt qu thng lng, ho gii khụng
c trỏi phỏp lut
Kt qu thng lng, ho gii cú th
linh ng, mm mi, khụng cng nhc,
mỏy múc nh vic gii quyt tranh chp
theo phng thc trng ti hoc t phỏp
nhng khụng th trỏi phỏp lut. Bi vỡ, nu
nh vy thỡ quyn v li ớch hp phỏp ca
ngi khỏc, ca Nh nc, ca xó hi s b
vi phm. Cỏc bờn ch cú th thụng cm,
tng tr, nhng nhn, giỳp , h tr ln
nhau trong phm vi cho phộp ch khụng th
tu tin khụng m xa n cỏc quy nh
ca phỏp lut hin hnh v vn ang cú
tranh chp.

chng c, quan im do cỏc bờn a ra trong
quỏ trỡnh thng lng, ho gii tranh chp
kinh t; khụng c cụng khai hoỏ cỏc ti
liu, chng c, quan im ú hoc s dng
cỏc quan im, xut ca cỏc bờn trong
phng thc gii quyt tranh chp bng th
tc trng ti hoc th tc t phỏp sau ny.
(3)
5. Ni dung ca vic gii quyt tranh
chp kinh t, thng mi bng thng
lng, ho gii
Ni dung ca vic gii quyt tranh chp
kinh t, thng mi theo phng thc
thng lng, ho gii l nhng cụng vic
c th m cỏc bờn cn phi lm rừ v tin
hnh nhm gii quyt tranh chp gia cỏc
bờn mt cỏch thit thc v cú hiu qu. Ni
dung ca vic gii quyt tranh chp kinh t,
thng mi bng thng lng, ho gii bao
gm nhng cụng vic nh sau:
a. Xỏc nh rừ cỏc quyn v ngha v
ca mi bờn
Cỏc bờn phi xỏc nh rừ cỏc quyn v
ngha v ca mi bờn trờn c s cam kt
hoc hp ng ó c kớ kt. Cỏc quyn v
ngha v ca cỏc bờn cú c xỏc nh rừ thỡ
cỏc bờn mi cú cn c thng lng, tho
thun vi nhau, mi gii quyt c tranh
Ví dụ, trong biên bản ghi nhận sự thoả thuận
của các bên cần ghi rằng: Nếu một bên hoặc
các bên không thi hành nghiêm túc kết quả
thương lượng, hoà giải đã đạt được thì một
bên hoặc các bên cần tiến hành các công
việc cần thiết để đưa vụ tranh chấp ra cơ
quan trọng tài hoặc toà án yêu cầu giải quyết
dứt điểm.
6. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế
theo phương thức thương lượng, hoà giải
Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế
theo phương thức thương lượng, hoà giải là
trình tự những bước công việc mà các bên
cần phải tiến hành để giải quyết tranh chấp
kinh tế, thương mại. Thủ tục này bao gồm
những bước như sau:
a. Các bên nêu vấn đề và nguyện vọng
giải quyết tranh chấp bằng thương lượng
hoặc hoà giải
Khi một hoặc các bên phát hiện thấy có
tranh chấp kinh tế, thương mại thì một bên
hoặc các bên phải liên hệ ngay với bên kia,
thông báo cho bên kia biết quan điểm và ý
định giải quyết tranh chấp bằng thủ tục
thương lượng hoặc hoà giải. Nếu bên kia
chấp nhận phương thức giải quyết tranh chấp
bằng thương lượng, hoà giải thì tranh chấp
sẽ được giải quyết theo phương thức thương
lượng hoặc hoà giải. Nếu một bên không
chấp nhận phương thức giải quyết tranh chấp

thương lượng, hoà giải trực tiếp hầu như
không có nhiều thư từ, công văn giữa các
bên, tốn ít thời gian, công sức của các bên,
việc giải quyết tranh chấp linh động và
nhanh gọn.
d. Thương lượng, hoà giải gián tiếp
Trong trường hợp các bên có trụ sở ở xa
nhau, khó có thể gặp mặt nhau để thương
lượng, hoà giải trực tiếp, họ có thể tiến hành
việc thương lượng, hoà giải gián tiếp bằng
cách gửi cho nhau và cho hoà giải viên các
công văn, tài liệu, thư từ thể hiện quan điểm,
ý kiến, nguyện vọng giải quyết tranh chấp
của mình. Hoà giải viên sẽ thông báo cho
các bên về những vấn đề liên quan hoặc hỗ
trợ cho việc hoà giải và nêu ra những gợi ý,
khuyến nghị cần thiết. Nếu các bên không tự
tìm ra được cách thức giải quyết tranh chấp
có hiệu quả thì hoà giải viên có thể đưa ra
một số phương án giải quyết tranh chấp thích
hợp để các bên lựa chọn.
đ. Ghi nhận kết quả thương lượng, hoà giải
Kết quả việc giải quyết tranh chấp kinh
tế bằng thủ tục hoà giải, thương lượng phải
được ghi thành một biên bản, có kí tên, đóng
dấu của đại diện có thẩm quyền của các bên.
Cần chú ý rằng biên bản ghi nhận kết quả
thương lượng, hoà giải không phải là một
văn bản có tính cưỡng chế như một phán
quyết của trọng tài thương mại hoặc như một

xây dựng hệ thống pháp luật về phương thức
giải quyết tranh chấp kinh tế bằng thương nghiªn cøu - trao ®æi
16

T¹p chÝ luËt häc sè 1/2004

lượng, hoà giải ở nước ta.
b. Xây dựng và ban hành Pháp lệnh giải
quyết tranh chấp kinh tế bằng thương lượng,
hoà giải
Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế (1994), Pháp lệnh trọng tài thương
mại (2003) để giải quyết các tranh chấp
kinh tế trong tố tụng thì cũng cần xây
dựng và ban hành Pháp lệnh giải quyết
tranh chấp kinh tế bằng thương lượng, hoà
giải, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
giải quyết các tranh chấp kinh tế ngoài tố
tụng. Đây là văn bản pháp lí rất cần thiết
và quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống
văn bản pháp luật về giải quyết các tranh
chấp kinh tế, thương mại.
c. Thành lập các trung tâm hoà giải các
tranh chấp kinh tế; định ra các tiêu chuẩn
đối với hoà giải viên và tuyển chọn các hoà
giải viên

hoà giải cho các cán bộ của doanh nghiệp
và cho các hoà giải viên
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam, các nhà kinh doanh phải tích cực tổ
chức việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về
giải quyết tranh chấp kinh tế bằng thương
lượng, hoà giải cho những người có liên
quan để bảo đảm cho hệ thống các văn bản
pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng, hoà giải được thực hiện một
cách nghiêm túc, đạt được hiệu quả thiết
thực, góp phần làm cho hoạt động kinh tế,
thương mại của nước ta đạt được những kết
quả ngày càng to lớn./.

(1).Xem: Trần Đình Hảo, "Hoà giải, thương lượng
trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế",
Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 1/2000, tr. 30.
(2).Xem: Dương Thanh Mai - Hoàng Đức Thắng,
"Hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế", Dự án
VIE- 94/003, H. 1994.
(3).Xem: Điều 6 Quy tắc hoà giải lựa chọn ICC; Điều
14 Quy tắc hoà giải của UNCITRAL.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status