Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ công tác cổ phần hóa - Pdf 10



1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………………………………………………. 1
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG NGUỒN
VỐN NHÀN RỖI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ.
1.1. Cơ sở luận về bảo hiểm……………………………………………………4
1.1.1. Các đònh nghóa về bảo hiểm……………………………………….. 4
1.1.2. Bản chất của bảo hiểm……………………………………………..5
1.1.3. Tác dụng của bảo hiểm…………………………………………… 5
1.1.4. Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm…………………………. 6
1.1.5. Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm…………………………………….. 8
1.2. Cơ sở luận về bảo hiểm nhân thọ………………………………………… 10
1.2.1. Đặc trưng bảo hiểm nhân thọ……………………………………… 11
1.2.2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ…………………………………. 12
1.2.3. Một số cơ sở kỹ thuật quan trọng trong bảo hiểm nhân thọ……… 14
1.2.3.1. Phí bảo hiểm và căn cứ tính phí…………………………...14
1.2.3.2. Dự phòng nghiệp vụ………………………………………. 17
1.2.3.3. Giá trò giải ước……………………………………………. 19
1.3. Cơ sở luận về sự hình thành nguồn vốn nhàn rỗi trong các DNBHNT….. 20
1.3.1. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và việc tạo ra nguồn
vốn nhàn rỗi trong các DNBH nhân thọ…………………………... 20
1.3.2. Quỹ dự phòng nghiệp vụ - nguồn vốn nhàn rỗi
cơ bản của DNBHNT……………………………………………… 22
1.4. Cơ sở luận về việc sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong các DNBHNT…... 23
1.4.1. Tính tất yếu khách quan của việc đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi


3
CHƯƠNG III : NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN NHÀN RỖI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ BẢO
VIỆT.
3.1. Mục tiêu phát triển…………………………………………………………... 56
3.2. Những cơ hội và thách thức…………………………………………………. 57
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi tại
Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt………………………………………. 60
3.3.1.Nhóm giải pháp về phía Nhà nước…………………………………. 60
3.3.2. Nhóm giải pháp về phía CTBHNTBV…………………………….. 70
3.3.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ khác……………………………………….. 77
KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………………………………. 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


gay gắt và toàn diện do sự góp mặt từ cuối năm 1999 của 4 doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ (DNBHNT) có vốn đầu tư nước ngoài là Công ty liên doanh trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) bảo hiểm Bảo Minh-CMG, Công ty TNHH bảo hiểm
Manulife, Công ty TNHH bảo hiểm Prudential VN và Công ty TNHH bảo hiểm
quốc tế Mỹ (AIA) cùng với Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt (CTBHNTBV)
đã bước vào giai đoạn mới – giai đoạn cạnh tranh quyết liệt và phát triển với tốc
độ cao.
Tính cạnh tranh mạnh mẽ thể hiện trên tất cả các mặt như thu hút khách
hàng, tuyển dụng đại lý, đưa ra sản phẩm mới, mở rộng đòa bàn hoạt động,
khuyếch trương quảng cáo,…Chính nhờ hoạt động cạnh tranh mà công chúng
5
nhận thức rõ hơn về bảo hiểm nhân thọ (BHNT), chất lượng dòch vụ, chất lượng
khai thác được nâng lên, sản phẩm thêm đa dạng đồng thời các doanh nghiệp
hoàn thiện thêm điều khoản, quy trình nghiệp vụ, bổ sung các nghiệp vụ gia
tăng giá trò, hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý, chế độ thù lao cho đại lý
theo hướng hiệu quả cao hơn, phù hợp hơn với đặc điểm của kinh doanh BHNT.
Trước thách thức cạnh tranh như thế thì hơn ai hết, Công ty bảo hiểm
nhân thọ Bảo Việt nhận thức được, nếu muốn tiếp tục tồn tại, mở rộng và phát
triển thì bên cạnh việc tập trung vào phát triển những sản phẩm mới có khả
năng sinh lời cao, độ rủi ro thấp thì Bảo Việt cần phải chú trọng đến việc sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi to lớn được tạo ra từ phí BH thu được của
khách hàng, nhằm bảo đảm lựa chọn được những danh mục đầu tư thích hợp, an
toàn cho nguồn vốn và mang lại hiệu quả kinh tế (KT) cao. Đây là vấn đề sống
còn đối với Bảo Việt trong giai đoạn hiện nay bởi thực tế cho thấy chính hoạt

sử dụng phương pháp duy vật biện chứng.
• Trong quá trình đánh giá hoạt động BHNT trong thực tiễn, luận văn đã sử
dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, đối chiếu và so sánh. Từ đó,
đưa ra các kiến giải về những vấn đề mà luận văn đặt ra.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các bảng, biểu đồ, phụ lục và danh mục
các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba
chương sau đây :
• Chương I : Cơ sở luận của sự hình thành và sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong
các DNBHNT.
• Chương II : Thực trạng hình thành và sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi tại Công ty
BHNT Bảo Việt.
• Chương III : Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi
tại Công ty BHNT Bảo Việt.
7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỬ
DỤNG NGUỒN VỐN NHÀN RỖI TRONG CÁC DNBHNT.

1.1. CƠ SỞ LUẬN VỀ BẢO HIỂM.
1.1.1. Các đònh nghóa về bảo hiểm.
“Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng

hoạt động kinh doanh BH là các DNBH hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài
chính và nộp thuế cho nhà nước.
1.1.2. Bản chất của bảo hiểm :
• Mục đích chủ yếu của BH là góp phần ổn đònh kinh tế cho người tham gia từ
đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho
phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
• Thực chất của hoạt động BH là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong
nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh
khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia BH.
Phân phối trong BH là phân phối không đều, không bằng nhau nghóa là
không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như
nhau. Phân phối trong BH là phân phối cho số ít người tham gia BH không
may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức
thiệt hại thực tế và điều kiện BH. Điều đó cũng có nghóa, phân phối trong
BH không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ BH
nhưng không tổn thất thì không được phân phối ( trừ một số sản phẩm
BHNT, BH hưu trí).
1.1.3. Tác dụng của bảo hiểm :
• Góp phần ổn đònh tài chính cho người tham gia trước tổn thất do rủi ro gây ra.
Tổn thất sẽ được BH trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia
nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn đònh đời sống, sản xuất kinh doanh.
• Góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an
toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp. Khi tham gia BH, công ty BH sẽ cùng với người tham gia thực hiện
các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro xảy ra như đóng góp tài
chính để thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn phòng tránh rủi ro.


10
ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để
mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất
của mình.
* Hệ quả :
¾ Nguyên tắc dàn trải rủi ro : thể hiện ở việc dàn trải về không gian, thời gian
và về giá trò để phân tán rủi ro.
¾ Nguyên tắc lựa chọn : trong thực tế các rủi ro do mỗi khách hàng mang đến
là không giống nhau. Do đó, nhà BH sẽ không chấp nhận đảm bảo cho tất cả
các rủi ro đó mà phải lựa chọn và từ chối những trường hợp mà độ trầm trọng
của rủi ro quá lớn vì khi xảy ra tổn thất, phí BH thu được không đủ để bù đắp
và có thể đe dọa cả cộng đồng.
¾ Nguyên tắc phân chia rủi ro : để giảm nhẹ bớt trách nhiệm BH, DNBH cần
phải tìm cách chia sẽ rủi ro mà họ đã nhận cho các nhà BH khác, tránh tập
trung rủi ro quá mức bằng cách thực hiện các kỹ thuật phân chia rủi ro qua
hình thức đồng BH và tái BH.
 Đồng BH : là sự phân chia theo tỷ lệ cùng một rủi ro giữa nhiều nhà BH
với nhau. Mỗi nhà đồng BH chấp nhận một phần trăm nào đó của rủi ro,
đổi lại họ cũng chỉ nhận được một tỷ lệ tương ứng về phí và cũng phải chỉ
trả một tỷ lệ bồi thường như thế.
 Tái BH : là một nghiệp vụ mà qua đó một công ty BH gốc (người
nhượng) chuyển cho một công ty BH khác (người nhận tái) một phần rủi
ro mà công ty BH gốc chấp nhận đảm bảo. Người được BH chỉ cần biết
công ty BH gốc là ngươiø duy nhất chòu trách nhiệm đảm bảo cho rủi ro

độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ). Hợp đồng
bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm).
(2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật dồn tích vốn: là các loại bảo hiểm
đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối
tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ).
Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm...).
12
¾ Cũng dựa trên kỹ thuật, nghiệp vụ bảo hiểm, nhưng các nhà bảo hiểm Anh -
Mỹ lại nhìn ở khía cạnh khác: Tính chất của khoản bồi thường, theo đó, các
loại hình bảo hiểm được chia ra làm 2 loại:
(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường:
Theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo
hiểm không bao giờ vượt quá giá trò thiệt hại thực tế mà anh ta đã phải gánh
chòu. Các loại bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách
nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểm thiệt hại). Tuy nhiên, ngày nay người ta
có xu hướng đưa cả bảo hiểm tai nạn và bệnh tật vào loại này.
(2) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán: Người
được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa
thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù
hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm
nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật.
• Phân loại theo đối tượng bảo hiểm : Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn
bộ các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm: bảo hiểm tài
sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

hết các nước trên thế giới trong đó có nước ta.
BHNT là một hợp đồng giữa người tham gia và công ty BH, theo đó người
tham gia đóng một khoản tiền (phí BH) còn nhà BH cam kết sẽ trả cho một hoặc
nhiều người được hưởng một khoản tiền ấn đònh (số tiền BH) trong trường hợp
người được BH chết, thương tật hoặc còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong
hợp đồng.
Trong khi các loại hình BH khác có mục đích đơn giản là bồi thường cho
các hậu quả xấu của một sự cố (rủi ro), thì BHNT không chỉ có chi trả khi có hậu
quả xấu mà còn có nhiều mục đích khác nhau như tích lũy tài chính.
1.2.1. Đặc trưng bảo hiểm nhân thọ :
• BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ. Thật vậy, mỗi người
mua BHNT đònh kỳ sẽ nộp một khoản tiền gọi là phí BH cho công ty BH,
14
ngược lại công ty BH có trách nhiệm trả một số tiền gọi là số tiền BH cho
người được hưởng quyền lợi BH như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện
BH xảy ra. Số tiền BH được trả khi người được BH đạt đến một độ tuổi nhất
đònh và được ấn đònh trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân
nhân và gia đình người được BH khi người này không may bò chết sớm ngay
cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí BH.
Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần
thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái,…Chính vì vậy, BHNT
vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ.
• BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia BH.
Trong khi các nghiệp vụ BH phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là

nhân thọ, trong 1 năm HĐ được ký kết, người được BH có thể được bồi
thường nhiều lần khi các rủi ro được BH xảy ra gây tổn thất thiệt hại.
1.2.2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.
• Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ :
Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ là những sản phẩm bảo hiểm mà trong điều
khoản của hợp đồng bảo hiểm quy đònh doanh nghiệp bảo hiểm có nghóa vụ
thanh toán số tiền bảo hiểm đã ghi trong hợp đồng cho người thụ hưởng khi
người được bảo hiểm bò tử vong.
• Bảo hiểm nhân thọ sinh kỳ :
Bảo hiểm nhân thọ sinh kỳ là loại hình bảo hiểm mà trong điều khoản
của hợp đồng bảo hiểm quy đònh công ty bảo hiểm phát sinh trách nhiệm thanh
toán số tiền bảo hiểm ghi trên hợp đồng cho người được bảo hiểm nếu người
được bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng (đáo hạn hợp đồng). Ngược
lại, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp
đồng sẽ chấm dứt hiệu lực mà công ty bảo hiểm không phát sinh bất kỳ trách
nhiệm thanh toán nào.Thực chất, hợp đồng bảo hiểm loại này không cung cấp
dòch vụ “bảo vệ” mà chỉ cung cấp một hình thức tiết kiệm cho người được bảo
hiểm để có được một khoản tiền lớn sau một thời gian nhất đònh đáp ứng việc
thực hiện một dự án cho nhu cầu riêng của bản thân họ.
16
• Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp :
Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là loại hình kết hợp cả hai loại bảo hiểm tử
kỳ và sinh kỳ. Có nghóa là, trong hợp đồng bảo hiểm có quy đònh công ty bảo
hiểm có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc cho

1.2.3.1. Phí bảo hiểm và căn cứ tính phí.
A. Khái niệm : phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia BH phải
trả để đổi lấy sự đảm bảo trước các rủi ro đã được người BH chấp nhận. Yêu cầu
chủ yếu đối với phí BH là phải đảm bảo tính thỏa đáng và công bằng. Mức phí
thoả đáng nghóa là phải đủ để công ty BH có thể trang trải các quyền lợi cho
khách hàng khi xảy ra sự kiện BH. Còn công bằng có nghóa là phí BH phải phản
ánh đúng mức độ rủi ro của khách hàng khi tham gia BH.
B. Căn cứ tính phí : trong quá trình tính phí cho HĐBHNT, chuyên viên
tính phí phải đánh giá được xác suất tử vong của người được BH trong thời hạn
hợp đồng (BH tử vong), hoặc xác suất sống đến hết hạn HĐ (BH sống). Bên
cạnh đó, nhà BH còn phải tính đến các khoản thu nhập có được từ việc đầu tư
phí BH cũng như các chi phí phát sinh khi phát hành HĐ mới và trong suốt thời
gian quản lý HĐ. Nói cách khác, phí BH được xây dựng trên những căn cứ chủ
yếu là tỷ lệ tử vong, tỷ lệ sinh tồn, thu nhập đầu tư và chi phí.
B1.Tỷ lệ tử vong và Bảng tỷ lệ tử vong.
• Tỷ lệ tử vong : là tỷ lệ giữa số người chết trong một khoản thời gian nhất
đònh trên tổng số người sống lúc khởi đầu thời gian đó (thông thường được
tính trong từng năm)
¾ Tỷ lệ sống là tỷ lệ giữa số người sống sau một khoản thời gian nhất đònh trên
tổng số người sống lúc khởi đầu thời gian đó.
¾ Mối quan hệ : Tỷ lệ tử vong + tỷ lệ sống = 1
• Bảng tỷ lệ tử vong : là bảng thống kê về nhân khẩu nói lên số lượng người
sống ở các lứa tuổi và số lượng người chết đi giữa các lứa tuổi.
¾ Độ tuổi đầu tiên được đưa vào Bảng tỷ lệ tử vong là 0 và số người khởi đầu
thường là một số chẵn lớn ( như 100.000 người hay 1.000.000 người). Độ tuổi

19
¾ Trên cơ sở các yếu tố gồm tỷ lệ tử vong và thu nhập đầu tư được trình bày ở
trên đồng thời dựa vào các dữ liệu về tỷ lệ hủy hợp đồng, nhà BH sẽ tính
được một khoản phí gọi là phí thuần. Đây là bộ phận cấu thành quan trọng
nhất của phí BH.
Như vậy, phí thuần là khoản phí được DNBH sử dụng để chi trả tiền BH
cho các trách nhiệm trong hợp đồng.
B3. Chi phí : các chi phí phát sinh trong BHNT được phân thành hai loại
chủ yếu sau :
• Các chi phí về quản lý : đa số các chi phí quản lý tương đương với khoản chi
tiêu tương lai của nhà BH và thường dàn trải theo thời gian. Các chi phí về
quản lý bao gồm :
¾ Chi phí quản lý trong thời gian thu phí BH (cộng cả chi phí thu phí).
¾ Chi phí quản lý trong thời gian không thu phí.
¾ Chi phí thanh toán tiền BH.
• Các chi phí để có hợp đồng (chi phí ký kết hợp đồng)
¾ Đó là khoản chi phí phải trả cho người đem lại hợp đồng cho công ty BH (như
đại lý, cộng tác viên,…) hay chi quảng cáo. Khoản chi này phải trả ngay một
lần vào năm nghiệp vụ đầu tiên hoặc cũng có thể dàn trải theo thời gian tùy
theo từng đối tượng cụ thể. Vì thế việc xác đònh và phân bổ một cách chính
xác chi phí ký kết hợp đồng của công ty BH thường gặp nhiều khó khăn.
• Sau khi dự kiến được các yếu tố như tỷ lệ tử vong, thu nhập đầu tư, tỷ lệ hủy
hợp đồng và chi phí, nhà BH sẽ đưa ra mức phí thương mại (phí toàn phần)
đối với sản phẩm BH.

Phí thương

¾ Từ hiệu quả kinh doanh của công ty.
¾ Từ tiết kiệm chi phí quản lý.

1.2.3.2. Dự phòng nghiệp vụ.
Trong kinh doanh BHNT, để đảm bảo nguyên tắc an toàn về mặt tài chính
cũng như đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng, nhà bảo hiểm cần phải lập
ra nhiều quỹ dự phòng khác nhau. Cụ thể, DNBHNT cần phải lập các quỹ sau :
A. Dự phòng toán học.
Chúng ta biết rằng ở mọi thời điểm trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng,
nhà bảo hiểm luôn là con nợ của những người được BH. Nhà BH thu phí BH
ngay từ lúc khách hàng tham gia nhưng chưa thực hiện ngay các cam kết của
mình. Phí BH mà nhà BH thu từ khách hàng thường là phí san bằng (một mức
phí được ấn đònh không đổi từ khi tham gia BH cho đến lúc kết thúc hợp đồng).
Do đó, nhà BH cần phải trích lập quỹ dự phòng để chi trả khi hợp đồng BH đến
21
kỳ hạn hoặc khi xảy ra rủi ro. Dự phòng này được tính toán trên cơ sở xác suất
tuổi thọ và toán tài chính nên gọi là dự phòng toán học.
• Khái niệm : dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trò hiện tại của
số tiền BH và giá trò hiện tại của phí BH sẽ thu được trong tương lai, được sử
dụng để trả tiền BH đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện
BH.
• Cách tính :
¾ Đối với dự phòng phí thuần :


nhiệm bảo hiểm
sẽ phải trả trong
tương lai
Giá trò hiện tại
của tổng số phí
bảo hiểm toàn
phần sẽ thu
trong tương lai = + -

B. Dự phòng phí chưa được hưởng : áp dụng đối với các HĐBHNT có
thời hạn dùi một năm, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm sẽ phát sinh trong thời
gian còn hiệu lực của hợp đồng BH trong năm tiếp theo. Dự phòng này chỉ áp
dụng đối với các hợp đồng đóng phí đònh kỳ và được tính theo công thức :

Thời gian còn lại
của đònh kỳ nộp phí
Tổng thời gian của
đònh k
ỳ nộp phí Dựï phòng = Phí đònh kỳ X
1.2.3.3. Giá trò giải ước .
Khi khách hàng hủy bỏ hợp đồng, DNBH sẽ có thể thanh toán cho người
tham gia BH một khoản tiền gọi là giá trò giải ước hay còn gọi là giá trò hoàn lại.
Giá trò giải ước có thể là toàn bộ hoặc một phần của dự phòng toán học (thông
thường là bằng một phần của dự phòng toán học).
Giá trò giải ước = Dự phòng toán học – Phí giải ước
Phí giải ước thường được DNBH xác đònh bằng chi phí ký kết hợp đồng
mới hoặc tỷ lệ phần trăm trên số tiền BH.
Như vậy, hợp đồng chỉ có giá trò giải ước khi đã có dự phòng toán học và
dự phòng toán học lớn hơn phí giải ước. Do đó, ở những năm thứ nhất và thứ hai
của hợp đồng thường không có giá trò giải ước (trừ hợp đồng đóng phí một lần).
Nếu sau khi tính ra giá trò giải ước có giá trò âm thì được quy đònh là bằng 0.

23
1.3. CƠ SỞ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÀNH NGUỒN VỐN NHÀN RỖI TRONG
CÁC DNBHNT.
1.3.1. Hợp đồng BHNT và việc tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi trong các
DNBHNT.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) là một sự thỏa thuận bằng văn
bản giữa người mua bảo hiểm và DNBH ( hay người BH). Người mua BH sẽ
phải đóng phí BH cho người BH, còn người BH có nghóa vụ bồi thường hoặc chi
trả tiền BH khi xảy ra các sự kiện BH đã được qui đònh trước trong hợp đồng.
Tính chất may rủi thể hiện ở chỗ hợp đồng BH chỉ được thiết lập để BH cho
những sự kiện không chắc chắn. DNBH có thể sẽ phải chi trả nếu rủi ro xảy ra

nhằm đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng, quản lý HĐ và thu phí BH.

Phí BH thu được hàng năm được chia làm hai phần :
• Phí rủi ro dành để đảm bảo cho việc chi trả BH hàng năm.
• Phí tiết kiệm dành để đưa vào dự trữ và đầu tư tài chính. Nó sẽ được trả lại
cho người được BH cả vốn lẫn lãi theo lãi suất kỹ thuật của DNBH.
Với những gì phân tích ở trên, ta thấy các HĐBHNT thực hiện chức năng
tích tụ tài chính. Nhờ đó mà các DNBHNT trở thành một trong những tổ chức thu
hút tiết kiệm quan trọng và cạnh tranh mạnh với những trung gian tài chính khác
trong nền kinh tế. Ngoài ra, do các HĐBHNT là loại hợp đồng dài hạn nên đã
tạo ra nguồn vốn dài hạn cho DNBH đầu tư vào nền KT. Do đó, có thể nói rằng :
quá trình hình thành nguồn vốn nhàn rỗi của các DNBH được thực hiện thông
qua việc ký kết các HĐBH.
1.3.2. Quỹ dự phòng nghiệp vụ – nguồn vốn nhàn rỗi cơ bản của DNBHNT.
Do sự sai biệt về thời điểm thu phí BH và thời điểm chi trả khiếu nại nên
DNBH phải luôn duy trì các khoản dự phòng để thực hiện cam kết với người
đóng BH vào bất cứ thời điểm nào. Hằng năm, khi kết thúc năm tài chính, từ các
HĐ mà DNBH đã ký kết có thể xảy ra những sự kiện không thể biết trước một
cách chính xác như :
• Xảy ra rủi ro từ các HĐ mà thời hạn hiệu lực chưa kết thúc vào ngày cuối
năm tài chính.
25
• Các vụ tổn thất đã xảy ra từ các HĐ thuộc năm tài chính hiện hành và năm
tài chính trước nhưng chưa được DNBH chi trả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status