Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong tư vấn cổ phần hoá tại Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt - Pdf 11

Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Xác định giá trị doanh nghiệp là một khâu quan trọng trong quá trình cổ phần
hoá doanh nghiệp. Tác giả hoàn thành đề tài với sự giúp đỡ rất lớn của các thầy cô
giáo, gia đình bạn bè và sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn.
Xin chân thành cảm ơn tới GS.TS Nguyễn Văn Nam, công ty chứng khoán
Bảo Việt cùng tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng- Tài chính cũng
như tất cả những người đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài này.

Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 1
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
........................................................................................................3
1.1 Cơ sở lý thuyết về xác định giá trị doanh nghiệp....................................3
1.1.1 Lý luận về doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp...................3
1.1.2 Những khái niệm liên quan đến định giá doanh nghiệp........................7
1.2 Vai trò định giá doanh nghiệp..................................................................12
1.3 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiêp..................................13
1.3.1 Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền...............13
1.3.1.1 Phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)...........................13
1.3.1.2 Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM).............................26
1.3.2 Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp hệ số P/E...............30
1.3.2.1 Xác định hệ số P/E hợp lý của doanh nghiệp...............................30
1.3.2.2 Nguyên tắc định giá theo phương pháp hệ số P/E.......................32
1.3.3 Định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng có điều chỉnh. .33
1.3.3.1 Cơ sở định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng.....33
1.3.3.2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài
sản ròng có điều chỉnh...................................................................34

3.2.7 Nâng cao hiệu quả áp dụng phương pháp dòng tiền ..........................89
3.3 Các kiến nghị..............................................................................................93
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 3
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả là một tín hiệu quan trọng để điều chỉnh
hành vi mua bán của các bên liên quan. Nếu giá được định quá cao thì sẽ
giảm đi nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, và giá định thấp thì sẽ giảm đi mức cung
cấp hàng hoá cho thị trường do nhà sản xuất không bù đắp được chi phí. Bởi
vậy, với một mức giá cân bằng phản ánh trung thực nhu cầu và khả năng cung
cấp sẽ tạo ra một khối lượng hàng hoá mua bán tốt nhất. Trong quá trình mua
bán, sáp nhập, hợp nhất, chia tách hay chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp,
người ta phải xem xét các yếu tố cấu thành nên giá trị doanh nghiệp, tức là
cần coi doanh nghiệp như một thực thể hàng hoá nằm trong mối quan hệ
thuơng mại buôn bán giữa người mua (chủ sở hữu mới của doanh nghiệp) và
người bán( chủ sở hữu cũ của doanh nghiệp). Và để tiến hành trao đổi bất kỳ
hàng hoá nào thì điều kiện đầu tiên là phải xác định được giá trị của hàng hóa-
doanh nghiệp đó. Xác định giá trị hàng hoá- doanh nghiệp là rất quan trọng
nó có ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan. Nếu định giá doanh
nghiệp quá thấp sẽ gây thiệt hại cho người bán, còn nếu định giá doanh
nghiệp quá cao sẽ gây thiệt hại cho người mua. Do vậy, xác định giá trị doanh
nghiệp một cách chính xác sẽ đảm bảo được lợi ích của các bên.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam từ một thị trường còn non
trẻ chuyển sang thị trường mới nổi, và chính sách khuyến khích của chính phủ
ban hành các văn bản hướng dẫn như Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày
16/11/2004 về chuyển các doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần; QĐ
528 phê duyệt danh sách cổ phần hoá, như một ngọn gió mạnh tiếp sức cho
quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp. Mà muốn tiến hành tư vấn cổ phần
hoá thì phải xác định được giá trị doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động
mua bán chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp. Do vậy, vấn đề xác định giá trị

1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
1.1.1 Lý luận về doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu hoặc với mục
đích công ích.
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh” tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một thực thể kinh tế và cần
được coi là một loại hàng hóa. Việc xác định gía trị doanh nghiệp là một nhu
cầu tất yếu và đã thu hút được sự quan tâm rất nhiều đối tượng khác nhau. Giá
trị doanh nghiệp cần được xác định một cách hợp lý để đảm bảo được quyền
lợi của các bên tham gia trong các hoạt động có liên quan đến doanh nghiệp.
Mặc dù được coi là một hàng hóa nhưng không phải ai có tiền cũng có thể
mua được doanh nghiệp, bởi lẽ doanh nghiệp không phải là một hàng hóa
thông thường mà là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cấu thành và có
mối liên hệ hữu cơ lẫn nhau. Vì vậy, việc xác định giá trị và giá trị trao đổi
của nó phức tạp hơn nhiều so với các hàng hóa khác. Khi nhìn nhận giá trị
doanh nghiệp dưới góc độ này, cần chú ý đến một số vấn đề sau đây:
a. Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoạt động chứ không phải là
các tài sản rời rạc được tập hợp vào với nhau.
Khi hoạt động, các tài sản trong doanh nghiệp gắn kết với nhau để tạo ra
giá trị và giá trị thặng dư cho doanh nghiệp nhưng khi giải thể, phá sản
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 6
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
nó chỉ đơn giản là một sự hỗn hợp các loại tài sản đơn lẻ, rời rạc mà
người ta có thể thanh lý, nhượng bán như một hàng hóa thông thường

Từ các đặc điểm trên, có thể thấy rằng: doanh nghiệp là một hàng hóa đặc
biệt, vì vậy: giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản
thu nhập mà doanh nghiệp đó mang lại cho các nhà đầu tư trong suốt quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để xác định được trị giá của doanh nghiệp , về mặt nguyên lý, chỉ có thể có
hai cách tiếp cận đó là:
a. Đánh giá trực tiếp
Trực tiếp đánh gía của các tài sản của doanh nghiệp, bao gồm cả tài sản
hữu hình, tài sản vô hình và định lượng giá trị của các yếu tố về tổ chức,
danh tiếng, thị phần của doanh nghiệp.
b. Đánh giá gián tiếp
Đánh giá gián tiếp thông qua việc lượng hóa các khoản thu nhập kỳ vọng
mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư tron g suốt thời gian
hoạt động còn lại của doanh nghiệp.
Nếu xác định giá trị doanh nghiệp thông qua phương pháp tiếp cận trực tiếp
thì thông thường giá trị doanh nghiệp gồm 3 bộ phận chính là: gía trị tài sản
hữu hình, giá trị tài sản vô hình, giá trị quyền sử dụng đất và lượng hóa giá trị
của các nhân tố phi kinh tế như: địa điểm hoạt động, bộ máy tổ chức, danh
tiếng, uy tín của doanh nghiệp. Nhưng thông thường theo cách thức này
chúng ta mới xem xét giá trị doanh nghiệp ở thể tĩnh mà không thấy được sự
vận động của nó cũng như chưa thể hiện rõ được mục đích của các nhà đầu
tư. Mặt khác, góc nhìn tĩnh tại này không thể thực hiện được sự tác động của
các yếu tố trong môi trường kinh doanh đến doanh nghiệp, không xem xét tới
gía trị thơì gian của dòng tiền. Đó chính là những hạn chế vốn có của cách
nhìn tĩnh tại.
Nếu xác định giá trị doanh nghiệp thông qua phương pháp tiếp cận gián tiếp
thì giá trị doanh nghiệp bao gồm các khoản thu nhập kỳ vọng mà doanh
nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong tương lai. Phương pháp này
xem xét giá trị doanh nghiệp trong trạng thái động, vì vậy nó khắc phục được
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 8

đáng tin cậy khi có sự ghi nhận về giá trị thời gian của dòng tiền, nghĩa
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 9
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
là mỗi đồng ở những thời điểm khác nhau sẽ đại diện cho một lượng
giá trị khác nhau.
- Để có được các khoản thu nhập trong tương lai bắt buộc doanh nghiệp
phảI hoạt động. Do vậy, các tính toán, xác định được đưa ra trên cơ sở
thừa nhận tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp. Khi đó giá trị
doanh nghiệp là giá trị kinh tế bao gồm cả giá trị hoạt động của doanh
nghiệp đó chứ không hẳn là giá trị thanh lý, nhượng bán như trong đIều
kiện doanh nghiệp không còn hoạt động.
Với hai cách tiếp cận giá trị doanh nghiệp như vậy, trên thế giới hiện nay có
nhiều phương pháp xác định gía trị doanh nghiệp như: phương pháp giá trị
hiện tại thuần, phương pháp hiện tại hóa lợi nhuận, phương pháp định lượng
Goodwill ( lợi thế thương mại); phương pháp chỉ số PER ( Price earning
ratio); phương pháp sử dụng dữ liệu của thị trường chứng khoán; phương
pháp chiết khấu dòng tiền sau thuế và một số phương pháp khác nữa. Tuy
nhiên, kết quả xác định giá trị doanh nghiệp thường có những chênh lệch lớn
khi sử dụng các phương pháp khác nhau và thậm chí ngay cả khi áp dụng
cùng một phương pháp vì kết quả đó phụ thuộc nhiều vào độ chính xác của
các tham số tính toán. Do vậy, mỗi phương pháp đưa ra đều có những thích
ứng đối với từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp và tầm nhìn của các nhà
đầu tư. Không thể có một phương pháp chung phù hợp cho mọi doanh nghiệp,
nên việc lựa chọn một phương pháp nào đó để áp dụng thống nhất cho các
doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
ở Việt Nam sẽ không tránh khỏi phát sinh những vấn đề tồn tại.
1.1.2 Những khái niệm liên quan đến định giá doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp chính là xác định giá trị thực cổ phiếu doanh
nghiệp. Cổ phiếu được phát hành bởi các công ty cổ phần, đó là giấy chứng
nhận sở hữu cổ phần vốn góp của các cổ đông thuộc doanh nghiệp. Cổ phiếu

định giá trị thực của cổ phiếu. Một sự thay đổi trong lợi nhuận doanh nghiệp
sẽ làm giá trị cổ phiếu thay đổi theo, kéo theo nó là giá cả cổ phiếu sẽ kịp thời
biến động theo giá trị.
Trên thực tế giá trị được xác định bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, có
những giá trị được hình thành từ sổ sách kế toán, có giá trị được hình thành từ
luồng thu nhập như nêu trên đây hoặc giá trị được hình thành từ quy luật
cung-cầu của thị trường hay từ hệ số toàn ngành suy ra giá trị doanh nghiệp...
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 11
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Trong từng trường hợp, giá trị được phân tích đánh giá căn cứ vào một số
điều kiện cụ thể và không nhất thiết chỉ căn cứ vào các chiến lược và hiệu quả
kinh doanh của công ty.
Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp là rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi áp
dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật. Trước khi đi vào nghiên cứu các phương
pháp cụ thể và vai trò của nó. Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm kinh
tế cơ bản nhất sau đây:
a. Giá trị kinh tế
Khái niệm giá trị kinh tế liên quan đến công dụng chủ yếu của một tài sản
trong việc tạo ra luồng thu nhập sau thuế cho người nắm giữ tài sản đó.
Những luồng thu nhập này có được từ thu nhập hay các khoản thanh toán theo
hợp đồng, hay thanh lý một phần hoặc toàn bộ vào một thời điểm trong tương
lai. Giá trị kinh tế chính là một khái niệm lựa chọn luồng thu nhập. Giá trị của
một hàng hoá được định nghĩa là số tiền mà người mua sẵn sàng trả theo giá
trị hiện tại của nó để có được luồng thu nhập dự tính trong tương lai. Do vậy,
giá trị kinh tế là một khái niệm hướng về tương lai. Nó được xác định thông
qua việc đánh giá luồng thu nhập tiềm năng trong tương lai, kể cả số tiền thu
được từ lần thanh lý hàng hoá cuối cùng. ở đây, các chi phí phát sinh do quyết
định trước đây là chi phí chìm và do vậy không liên quan đến việc ước tính
luồng thu nhập trong tương lai nếu xét từ góc độ kinh tế.
b. Giá trị thị trường

như không đồng nhất. Thực tế này rất đúng đối với doanh nghiệp phổ thông
được giao dịch theo giá trị thị trường và giá trị này thường khác xa so với giá
trị ghi sổ. Sở dĩ có sự khác biệt trên là vì giá trị sổ sách được xác định từ bảng
cân đối kế toán.
Từ thực tế trên cho thấy giá trị sổ sách trong nhiều trường hợp chỉ nên dùng
để tham khảo và không phải là cơ sở lý thuyết đầu tư, bởi vì khi bạn đầu tư
vào cổ phiếu của một công ty nào đó là sự đầu tư vào khả năng sinh lãi tương
lai, sự phát triển… để mong sự gia tăng giá trị cổ phiếu, không phải đầu tư
vào tài sản công ty, mặt khác, giá trị sổ sách công ty có khả năng thay đổi bởi
những thủ thuật kế toán, vì thế dẫn đến sự đánh giá khách quan bị sai lệch.
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 13
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
d. Rủi ro
Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là khả năng xảy ra nhiều kết
quả ngoài dự kiến, hay nói cách khác, mức sinh lời thực tế nhận được trong
tương lai có thể khác với dự kiến ban đầu. Độ chắc chắn của lợi suất đầu tư
càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại.
Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát
được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng
khoán được gọi là rủi ro hệ thống. Ngược lại, những rủi ro do các yếu tố nội
tại gây ra, nó có thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay tới
một công ty, một hoặc một số chứng khoán, gọi là rủi ro không hệ thống.
e. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần của doanh nghiệp (ROE)
Tỷ suất này biểu thị số lợi nhuận thu được trên vốn của doanh nghiệp hay vốn
cổ phần của cổ đông công ty. Tỷ suất này được tính bằng cách lấy thu nhập
ròng của công ty chia cho số vốn cổ đông.
Tỷ suất này của một công ty nào đó càng cao thì chứng tỏ công ty này sử
dụng đồng vốn một cách hiệu quả và khả năng thu hồi vốn của các cổ đông
càng cao, và tất nhiên, giá cả cổ phiếu của công ty này giao dịch trên thị
trường càng cao.

khoán Việt Nam hiện nay, đại đa số các nhà đầu tư khi mới tham gia mua cổ
phiếu bị chi phối bởi tâm lý bầy đàn, họ mua cổ phiếu mà hoàn toàn không có
khái niệm mình mua cổ phiếu của công ty nào, kết quả hoạt động kinh doanh
ra sao, các chỉ số tài chính như thế nào…Hoạt động mua bán mang tính chất
phong trào, làm cho giá cả cổ phiếu biến động thất thường cách xa với giá trị
thực của doanh nghiệp. Do vậy các nhà đầu tư Việt Nam cần có những quan
niệm mới trong đầu tư chứng khoán, chỉ nên đầu tư vào những cổ phiếu mà
đã xác định được giá trị thực tế của nó, và từ đó xây dựng nên một chiến lược
đầu tư phù hợp.
Nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào một cổ phiếu luôn phải cân nhắc giữa
tính chất sinh lời và rủi ro của loại cổ phiếu đó. Chính vì vậy, họ rất quan tâm
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 15
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
đến việc dự báo diễn biến giá cả cổ phiếu, điều này sẽ quyết định sự thành
công hay thất bại của chiến lược đầu tư. Để hạn chế rủi ro khi ra quyết định,
nhà đầu tư cần phải sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau trên cả hai
mặt định tính và định lượng.
Về mặt phân tích định tính, nhà đầu tư thường dựa vào các kiến thức và tri
thức kinh nghiệm cuả họ để ra quyết định.Chẳng hạn, một nhà đầu tư có thể
nghĩ rằng giá cổ phiếu đang cao hơn giá trị cổ phiếu, lúc đó họ sẽ quyết định
bán nó. Nếu có nhiều người đều nghĩ và làm như vậy thì họ sẽ làm cho giá cổ
phiếu giảm cho đến khi họ nghĩ rằng giá cổ phiếu đã bằng với giá trị. Quyết
định này có đúng đắn hay không sẽ tuỳ thuộc vào việc họ dự đoán giá trị cổ
phiếu có chính xác hay không. Để nâng cao tính chính xác của dự báo thì vấn
đề sử dụng phương pháp định lượng thường mang tính thường mang lại hiệu
quả hơn.
Đối với chủ thể phát hành:
Việc xác định giá trị doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng để doanh
nghiệp có thể tiến hành cổ phần hóa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể
tham gia thị trường chứng khoán, huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho

quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết
khấu phù hợp với mức độ rủi ro của doanh nghiệp đó.
Luồng thu nhập DCF của doanh nghiệp trong tương lai được phân làm 2 loại :
- Luồng thu nhập tự do thuộc về vốn chủ sở hữu FCFE (Free cash flows
to equity).
- Luồng thu nhập tự do thuộc về doanh nghiệp FCFF ( Free cash flows to
firm).
Trong phương pháp DCF có 2 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là
luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai và mức lãi suất chiết khấu
luồng thu nhập đó.
Nguyên tắc cơ bản trong việc chiết khấu là ghép luồng thu nhập với tỷ lệ chiết
khấu phù hợp với nội dung của luồng thu nhập đó, cụ thể là:
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 17
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
- Luồng thu nhập thuộc về vốn cổ phần thì chiết khấu bằng chi phí vốn
cổ phần;

( )
PV
FCFE
r
t
e
t
t
n
0
1
1
=

FCFE của một công ty không có vốn vay:
Một công ty không có vốn vay là không có nợ, và do đó không phải thanh
toán lãi và gốc vay nợ. Thay vào đó, công ty phải thanh toán mọi chi phí vốn
cho quá trình kinh doanh từ vốn cổ phần. Luồng thu nhập thu về cho cổ đông
của một công ty này được xác định như sau:
Thu nhập − Chi phí hoạt động kinh doanh =
= Thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA)
− Khấu hao và giảm giá
= Thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT)
Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 18
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
− Thuế
= Thu nhập ròng
+ Khấu hao và giảm giá
= Luồng thu nhập từ hoạt động kinh doanh
− Chi phí vốn − Nhu cầu vốn lưu động
= Luồng thu nhập tự do thuộc về vốn cổ phần
Luồng thu nhập thuộc về vốn cổ phần của một công ty có vốn vay:
Đối với một công ty có vốn vay, ngoài các khoản chi tiêu thông thường, công
ty còn phải tạo ra luồng thu nhập để trang trải chi phí lãi và gốc của khoản
vay. Tuy nhiên, do một số chi phí vốn và nhu cầu vốn lưu động được tài trợ
bằng các khoản vay nợ, nên nhu cầu nguồn vốn cổ phần của công ty giảm đi.
Thu nhập - Chi phí hoạt động kinh doanh =
= Thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA)
− Khấu hao và giảm giá
= Thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT)
− Lãi vay vốn
= Thu nhập trước thuế
− Thuế
= Thu nhập ròng

Các cổ đông ưu đãi
Công ty = chủ sở
hữu doanh nghiệp+
chủ nợ
+ Cổ đông ưu đãi
Luồng thu nhập tự do thuộc vốn chuỷ sụỷ
hửừu
Chi trả lãi (1−thuế suất) + Nợ gốc đến hạn
− Khối lượng phát hành chứng khoán nợ mới
Cổ tức ưu đãi
Luồng thu nhập tự do của công ty
= Luồng thu nhập tự do thuộc vốn cổ phần
+ Chi trả lãi (1−thuế suất) + Nợ gốc đến hạn
− Khối lượng phát hành chứng khoán nợ mới
+ Cổ tức ưu đãi
Chi phí vốn cổ
phần
Chi phí vốn vay
sau thuế
Chi phí cổ
phiếu ưu đãi
Chi phí vốn
bình quân gia
quyền (WACC)
Cách thứ hai, sử dụng thước đo thu nhập trước lãi vay vốn và thuế (EBIT)
mang lại một kết quả tương tự.
EBIT(1 − thuế) + Khấu hao − Chi phí vốn − Nhu cầu vốn lưu động
= Luồng thu nhập của công ty
Luồng thu nhập của công ty thường là lớn hơn luồng thu nhập thuộc vốn cổ
phần của một công ty vay nợ và bằng luồng thu nhập thuộc vốn cổ phần của

Phạm Thanh Hằng TTCK K44 Trang 21
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
1.3.1.1.2 Xác định tỷ lệ chiết khấu
a. Chi phí vốn vay
Đối với vốn vay ngân hàng, chi phí cơ hội chính là lãi suất phải trả cho ngân
hàng.
Đối với trái phiếu do công ty phát hành, lãi suất lúc phát hành hoặc lãi suất
cuống phiếu (coupon) không phải là thước đo chuẩn vì giá trị của trái phiếu
biến động theo tình hình thị trường. Do vậy chi phí cơ hội của vốn nợ do phát
hành trái phiếu lợi suất đáo hạn của trái phiếu đó. Mức lợi suất này được xác
định như sau:
( )
( ) ( )
P
C
r
C
r
C MG
r
n
=
+
+
+
+ +
+
+
1
1 1

c. Chi phí vốn cổ phần
Để xác định chi phí cơ hội của vốn cổ phần, có thể áp dụng mô hình định giá
tài sản vốn (CAPM) và mô hình định giá cân bằng nhiều biến số (APM):
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM):
CAPM được áp dụng phổ biến trong bối cảnh tài chính hiện đại. Về cơ bản,
CAPM giả định rằng chi phí cơ hội của vốn cổ phần bằng với thu nhập từ các
chứng khoán phi rủi ro và cộng với chi phí bù đắp rủi ro, theo công thức sau
đây:
r
e
= r
f
+ [E(r
m
) − r
f

e
Trong đó:
r
f
= Tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro
E(r
m
) = Tỷ suất lợi nhuận dự tính của danh mục thị trường
β
e
= Rủi ro hệ thống của vốn cổ phần
E(r
m

m
) - r
f]
b
e
Beta
Hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Chi phí vốn cổ phần, r
e
là một hàm số của rủi ro hệ thống (β). Hệ số beta của
danh mục thị trường bằng 1,0. Hệ số β của cổ phiếu càng lớn thì mức rủi ro
càng cao, và do vậy dòi hỏi chi phí vốn cổ phần (re) phải càng lớn.
Để áp dụng phương pháp CAPM, chúng ta cần phải xác định 3 nhân tố: tỷ lệ
lãi suất phi rủi ro, mức đền bù rủi ro thị trường, và rủi ro hệ thống (β).
- Xác định lãi suất phi rủi ro (R
f
):
Lãi suất phi rủi ro là thu nhập từ một chứng khoán hoặc một danh mục
đầu tư chứng khoán không có rủi ro và hoàn toàn không chịu tác động
của các biến động từ nền kinh tế.
Trên thế giới, người ta thường lấy lãi suất trái phiếu Chính phủ làm lãi
suất phi rủi ro. Trong các loại lãi suất trái phiếu Chính phủ gồm tín
phiếu Kho bạc, trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 5, 10 ... 30 năm, việc áp
dụng lãi suất tín phiếu Kho bạc là phù hợp nhất.
- Xác định mức bù đắp rủi ro thị trường:
Bù đắp rủi ro thị trường (giá của rủi ro) là phần chênh lệch giữa tỷ suất
lợi nhuận dự tính từ danh mục thị trường và tỷ lệ lãi suất phi rủi ro,
E(r
m
)−r

niêm yết hay không.
Trên thế giới, nếu công ty thực hiện chào bán ra công chúng, nhà đầu
tư có thể sử dụng các hệ số β được công bố rộng rãi làm thước đo. Các
hệ số β này được cập nhật định kỳ (quý hoặc năm, ...). Việc xác định
rủi ro hệ thống này căn cứ vào các hệ số tài chính của từng công ty.
Chúng thay đổi khi các hệ số tài chính thay đổi và phản ánh sự đánh
giá gần nhất của thị trường về rủi ro vốn cổ phần chính xác hơn.
Một phương pháp xác định β rất phổ biến là dùng toán thống kê học.
Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có thể thực hiện được khi thị trường
chứng khoán đã hoạt động được một thời gian dài. Để xác định β của 1
công ty, người ta thu thập số liệu quá khứ (ít nhất là 5 năm) về mức chi
phí vốn cổ phần (r
e
) của công ty đó và gắn kết chúng trong mối quan hệ
với mức bù đắp rủi ro thị trường theo mô hình CAPM như sau:
r
e
= a
o
+ β
e
(r
m
− r
f
)
Mức bù đắp rủi ro thị trường: r
m
− r
f


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status