Tài liệu Báo cáo " Luật bình đẳng giới - sự cần thiết và một số nội dung cơ bản " pot - Pdf 10



Th«ng tin
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2008 61 TS. D−¬ng TuyÕt Miªn *
1. Sự cần thiết của việc ban hành Luật
bình đẳng giới
Ngày nay, trên thế giới, mặc dù nhiều
quốc gia đã đạt được những tiến bộ quan
trọng trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ,
thực hiện bình đẳng giới, song phụ nữ vẫn
chưa được hưởng đầy đủ các quyền và lợi
ích được nêu trong pháp luật quốc gia và
quốc tế. Từ trước cho đến nay, “chưa một
quốc gia nào trên thế giới được công nhận đã
đạt bình đẳng nam nữ”.
(1)

Trong những năm gần đây, trong xu thế
hội nhập với thế giới, nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể thuộc các lĩnh vực
khác nhau trong đó có lĩnh vực bình đẳng
giới. Theo Báo cáo đánh giá tình hình giới ở
Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng thế
giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á
(ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID)

trên, vấn đề thực hiện cũng như đảm bảo
quyền bình đẳng của phụ nữ ở nước ta vẫn
còn một số tồn tại. Các mục tiêu về tiến bộ
phụ nữ và bình đẳng giới chưa được các
ngành, các cấp quan tâm thực hiện một cách
thường xuyên hoặc nếu có làm thì chỉ là hô
hào hình thức, chưa biến thành chương trình,
hoạt động cụ thể. Lao động nữ vẫn còn
chiếm tỉ lệ cao trong nông nghiệp, một số
ngành nghề, dịch vụ, phụ nữ làm việc chiếm
tỉ lệ cao nhưng còn ít được đào tạo nghề và
được trả lương thấp hơn nam giới trong cùng
* Giảng viên chính Khoa luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội Th«ng tin
62 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2008

một loại hình công việc nhất là ở các khu
công nghiệp. Hiện tượng phân biệt đối xử
với cán bộ, công chức nữ trong tuyển dụng,
đào tạo và bổ nhiệm vẫn còn tồn tại không
chỉ ở nông thôn mà còn ở các thành phố
lớn.
(3)
Phụ nữ và trẻ em gái nghèo, dân tộc
thiểu số có ít cơ hội học tập và chăm sóc sức
khỏe. Tỉ lệ trẻ em gái ở vùng núi cao đến
trường chỉ chiếm từ 10 -15 %; các biện pháp

bình đẳng giới được quy định rải rác trong
nhiều văn bản khác nhau nhưng chưa tập
trung, thống nhất. Trong khi đó, xu hướng
của nhiều nước trên thế giới hiện nay đều
xây dựng Luật bình đẳng giới hoặc luật bảo
vệ quyền lợi của phụ nữ, ví dụ như Na Uy,
Thụy Điển, Thụy Sĩ Vì vậy, chủ trương
của Đảng và Nhà nước ta xúc tiến việc soạn
thảo và ban hành Luật bình đẳng giới là hoàn
toàn đúng đắn, theo kịp xu hướng phát triển
của thời đại trong xu hướng hội nhập. Ban
hành Luật bình đẳng giới đáp ứng nhu cầu
cấp thiết hiện nay trong xã hội ta thể hiện:
+ Ban hành Luật bình đẳng giới để tiếp
tục thể chế hoá các chủ trương, đường lối
của Đảng về bình đẳng giới và tiến bộ của
phụ nữ.
+ Ban hành Luật bình đẳng giới nhằm
khắc phục tình trạng phân biệt đối xử về giới
và những khoảng cách giới trong thực tế.
+ Ban hành Luật bình đẳng giới góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bình
đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, khắc
phục tình trạng chưa thực hiện nghiêm túc
các quy định về quyền bình đẳng của phụ
nữ, góp phần xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
+ Việc ban hành Luật bình đẳng giới là
sự tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt
Nam trong thực hiện mục tiêu bình đẳng

Các biện pháp bình đẳng giới. Chương này
quy định các vấn đề như các biện pháp thúc
đẩy bình đẳng giới, bảo đảm các nguyên tắc
cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật, lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, thẩm tra lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới
Chương IV (từ Điều 25 đến Điều 34) -
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình,
cá nhân trong việc thực hiện và đảm bảo
bình đẳng giới. Chương này quy định phân
cấp tương đối rõ về trách nhiệm của Chính
phủ, các cơ quan quản lí nhà nước, cơ quan
bộ và ngang bộ, các ủy ban nhân dân các
cấp, các tổ chức xã hội như mặt trận tổ quốc,
hội liên hiệp phụ nữ trong việc thực hiện
và đảm bảo bình đẳng giới.
Chương V (từ Điều 35 đến Điều 42) -
Thanh tra, giám sát và xử lí vi phạm pháp
luật về bình đẳng giới. Chương này quy
định về nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của
thanh tra về bình đẳng giới, nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền
giám sát thực hiện bình đẳng giới như Quốc
hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Hội đồng
dân tộc, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình
đẳng giới
Chương VI (từ Điều 43 đến Điều 44) -
Điều khoản thi hành. Mục tiêu mà Luật bình

Bình đẳng giới được hiểu là việc nam, nữ có
vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ
hưởng như nhau về thành quả của sự phát
triển đó. Phân biệt đối xử về giới là việc hạn
chế, loại trừ, không công nhận hoặc không
coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây
bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình. Hoạt
động bình đẳng giới là hoạt động do cơ
quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện
nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới. Chỉ số
phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp
phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được
tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ
giáo dục và thu nhập bình quân đầu người
của nam và nữ.
Đảm bảo bình đẳng giới, trước hết cần
phải xây dựng chính sách, pháp luật quy
định bảo vệ bình đẳng giới – đây là công cụ
pháp lí hữu hiệu tối quan trọng. Bên cạnh đó,
cần phải xây dựng những chương trình, kế
hoạch cụ thể để những chính sách, quy định
có liên quan về bình đẳng giới thực sự đi vào
đời sống. Tất cả những công việc trên phải
được tiến hành có định hướng, trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. Các
nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo
xuyên suốt trong quá trình xây dựng đường

hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và
nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia
sẻ công việc gia đình.
+ Nhà nước có chính sách áp dụng
những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong Th«ng tin
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2008 65

tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới.
+ Nhà nước có chính sách khuyến khích
cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia
các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới.
+ Nhà nước có chính sách hỗ trợ hoạt
động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có
điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn;
hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ
số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực
và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp
hơn mức trung bình của cả nước.
Vấn đề bình đẳng giới đòi hỏi toàn thể
xã hội mà trước hết là các cơ quan nhà nước,
các tổ chức và công dân phải tích cực tham
gia thực hiện. Để bình đẳng giới được thực
hiện hiệu quả, có chiều sâu trên thực tế thì
vai trò của quản lí nhà nước là vô cùng quan
trọng. Vì vậy, Điều 8 Luật bình đẳng giới

mình trong các hoạt động gia đình và xã hội.
Cụ thể như sau:
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
+ Nam, nữ bình đẳng trong tham gia
quản lí nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.
+ Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây
dựng và thực hiện hương ước, quy ước của
cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ
quan, tổ chức.
+ Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng
cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc
hội, đại biểu hội đồng nhân dân; tự ứng cử
và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh
đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
+ Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn
chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ
nhiệm vào cùng vị trí quản lí, lãnh đạo của
cơ quan, tổ chức. Th«ng tin
66 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2008

+ Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
trong lĩnh vực chính trị bao gồm:
• Bảo đảm tỉ lệ thích đáng nữ đại biểu
Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân phù
hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

• Quy định tỉ lệ nam, nữ được tuyển
dụng lao động;
• Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
cho lao động nữ;
• Người sử dụng lao động tạo điều kiện
vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ
làm việc trong một số ngành, nghề nặng
nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất
độc hại.
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
và đào tạo
+ Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học,
đào tạo, bồi dưỡng.
+ Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn
ngành, nghề học tập, đào tạo.
+ Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận
và hưởng thụ các chính sách về giáo dục,
đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi
tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con
dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ
theo quy định của Chính phủ.
+ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:
• Quy định tỉ lệ nam, nữ tham gia học
tập, đào tạo;
• Lao động nữ khu vực nông thôn được
hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học
và công nghệ

khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ
trợ theo quy định của Chính phủ.
- Bình đẳng giới trong gia đình
+ Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong
quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên
quan đến hôn nhân và gia đình.
+ Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong
sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng
và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
+ Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong
việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng
biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử
dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo
quy định của pháp luật.
+ Con trai, con gái được gia đình chăm
sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để
học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
+ Các thành viên nam, nữ trong gia đình
có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
Để việc thực hiện vấn đề bình đẳng giới
cũng như bảo vệ quyền lợi của phụ nữ thực
sự có hiệu quả trên thực tế, Điều 10 đã quy
định các hành vi bị nghiêm cấm thực hiện do
xâm phạm bình đẳng giới. Đó là:
1. Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.
2. Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.
3. Bạo lực trên cơ sở giới.
4. Các hành vi khác bị nghiêm cấm theo
quy định của pháp luật.

nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lí, lãnh
đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định
kiến giới;
+ Đặt ra và thực hiện quy định có sự
phân biệt đối xử về giới trong các hương
ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy
định, quy chế của cơ quan, tổ chức.
Các hành vi vi phạm pháp luật về bình
đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:
+ Cản trở nam hoặc nữ thành lập doanh
nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì
định kiến giới;
+ Tiến hành quảng cáo thương mại gây
bất lợi cho các chủ doanh nghiệp, thương
nhân của một giới nhất định.
Các hành vi vi phạm pháp luật về bình
đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:
+ Áp dụng các điều kiện khác nhau trong
tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối
với cùng một công việc mà nam, nữ đều có
trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ
trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình
đẳng giới;
+ Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng
hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc
người lao động vì lí do giới tính hoặc do việc
mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;
+ Phân công công việc mang tính phân
biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh
lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương

hoạt động văn hoá khác vì định kiến giới;
+ Sáng tác, lưu hành, cho phép xuất bản
các tác phẩm dưới bất kỳ thể loại và hình
thức nào để cổ vũ, tuyên truyền bất bình
đẳng giới, định kiến giới;
+ Truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện
hoặc xúi giục người khác thực hiện phong
tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối
xử về giới dưới mọi hình thức.
Các hành vi vi phạm pháp luật về bình Th«ng tin
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2008 69

đẳng giới trong lĩnh vực y tế bao gồm:
+ Cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người
khác không tham gia các hoạt động giáo dục
sức khỏe vì định kiến giới;
+ Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi
hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác
phá thai vì giới tính của thai nhi.
Các hành vi vi phạm pháp luật về bình
đẳng giới trong gia đình bao gồm:
+ Cản trở thành viên trong gia đình có đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật tham
gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của
hộ gia đình vì lí do giới tính.
+ Không cho phép hoặc cản trở thành
viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc

trong thực tế, hiện nay, Hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam đang xây dựng mô hình giám sát
việc thực hiện Luật về bình đẳng giới.
(5)
Vấn
đề quan trọng ở đây là sự phối hợp, tổ chức
thực thi Luật bình đẳng giới giữa các cơ
quan, tổ chức, cá nhân như thế nào để luật
này thực sự có chỗ đứng trong cuộc sống./.

(1).Xem: Báo cáo phát triển con người của Liên hợp
quốc, năm 2003.
(2).Xem: ngày 14/8/2007.
(3). Hiện nay, việc tuyển dụng ở một số cơ quan (kể
cả cơ quan nhà nước và tư nhân) đã ghi rõ chỉ tuyển
dụng ứng viên vào một số vị trí là nam giới và không
tuyển nữ giới hoặc ưu tiên ứng viên nam.
- Xem: “Liệu có thể bình đẳng giới”, http://vietnamexpress.
net/vietnam/ban-doc-viet ngày 16/3/2006.
(4).Xem: Bình đẳng giới trong công tác kế hoạch
hóa gia đình,
story.php
(5). Dự án do Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha
tài trợ cho Tổ chức hoà bình và phát triển, được thực
hiện thông qua Hội LHPNVN. Dự án được thực hiện
không chỉ giúp Hội thực hiện tốt quyền và trách
nhiệm đã được pháp luật quy định mà còn góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước nói
chung, hướng vào các hoạt động vì bình đẳng giới và
sự phát triển của phụ nữ Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status