Tài liệu Báo cáo " Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất " - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 1/2009 35

TS. Nguyễn Quang Tuyến *
1. C s lớ lun xõy dng khỏi nim
bi thng khi Nh nc thu hi t
trong Lut t ai nm 2003
Khỏi nim bi thng (trong Lut t
ai nm 1993 v Ngh nh ca Chớnh ph
s 22/1998/N-CP ngy 24/4/1998 khỏi
nim ny c cp vi tờn gi l n bự)
c Lut t ai nm 2003 xõy dng da
trờn nhng c s lớ lun ch yu sau õy:
Th nht, vn bi thng khi Nh
nc thu hi t c t ra da trờn c s
quyn s hu v ti sn ca cụng dõn c
phỏp lut bo h. Hin phỏp nm 1946 ghi
nhn v bo h quyn s hu t nhõn v ti
sn: Quyn s hu v ti sn ca cụng dõn
Vit Nam c bo m (iu 12). Quyn
ny tip tc c khng nh ti Hin phỏp
nm 1992: Cụng dõn cú quyn s hu v
thu nhp hp phỏp, ca ci dnh, nh ,

cú bn phn v ngha v bi thng.
Th ba, xột v phng din lớ lun, thit
hi v li ớch ca ngi SD l hu qu phỏt
sinh trc tip t hnh vi thu hi t ca nh
nc. Hn na, trong iu kin nh nc
phỏp quyn, mi ch th trong xó hi bao
gm Nh nc, cụng dõn, cỏc t chc kinh
t, t chc chớnh tr-xó hi u bỡnh ng
* Ging viờn chớnh Khoa phỏp lut kinh t
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
36

tạp chí luật học số
1
/200
9

trc phỏp lut. Nc ta ang tng bc xõy
dng xó hi dõn s vn minh v hin i ni
m ú quyn li hp phỏp ca mi thnh
viờn trong xó hi phi c lut phỏp tụn
trng v bo v. Do vy, khi Nh nc thu
hi t m lm phng hi n li ớch hp
phỏp ca ngi SD thỡ Nh nc phi cú
trỏch nhim bi thng thit hi cho h.
Th t, nc ta ang trong quỏ trỡnh
chuyn i sang nn kinh t nhiu thnh

i vi t ai thụng qua giao t s dng n
nh, lõu di v m rng cỏc quyn nng cho
ngi SD. Nh vy, k t õy quyn s
dng t ó tỏch khi quyn s hu t ai
c ch s hu t ai chuyn giao cho
ngi s dng t thc hin v tr thnh
mt loi quyn v ti sn thuc s hu ca
ngi s dng t hay núi cỏch khỏc,
quyn s hu t ai thuc v ton dõn do
Nh nc i din; cũn quyn s dng t
thuc s hu ca ngi s dng t.
(1)
Vi
vic giao quyn SD cho ngi lao ng
trờn c s ch s hu ton dõn v t ai
nhm duy trỡ s n nh v chớnh tr-xó hi
to tin cho phỏt trin kinh t, Vit Nam
v Trung Quc "gp nhau" im chung
ny v hai nc ó thc hin thnh cụng
cụng cuc ci cỏch kinh t m khụng gp
phi tht bi nh Liờn Xụ v cỏc nc
XHCN ụng u trc õy; Sỏng to ra
khỏi nim quyn s dng t c ngi
Vit Nam v ngi Trung Quc dng nh
ó to ra mt khỏi nim s hu kộp, mt
khỏi nim s hu a tng: t ai thuc s
hu ton dõn, song quyn s dng t li
thuc v cỏ nhõn hoc t chc.
(2)


tổn hại đã gây ra”.
(3)

Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm
bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có
hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho
chủ thể khác trong xã hội. Trách nhiệm này
được nhiều ngành luật đề cập như: Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách
nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của
các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực
pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do
hành vi của người lao động gây ra trong
lĩnh vực pháp luật lao động v.v Và hiện
nay, trách nhiệm này cũng được đề cập
trong Dự thảo Luật bồi thường nhà nước
do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo.
Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật
ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước
thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm. Nghị định
số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng
Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng
dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc
“Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng
dụng”. Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày
11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy
định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà
cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa mầu
cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh


nghiªn cøu - trao ®æi
38

t¹p chÝ luËt häc sè
1
/200
9

Nghị định của Chính phủ số 84/2007/NĐ-CP
ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ), thu hồi đất, thực hiện quyền
SDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai. Vậy giữa khái
niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và
khái niệm đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất có những điểm gì khác nhau? Khái
niệm “bồi thường” trong Luật đất đai năm
2003 có những điểm gì giống và khác nhau
so với khái niệm “bồi thường nhà nước”
trong Dự thảo Luật bồi thường nhà nước? Và
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có gì
khác với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong pháp luật dân sự? Để trả lời những câu
hỏi này, người viết xin đi sâu tìm hiểu, so
sánh giữa khái niệm “bồi thường” với khái
niệm “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi
đất; khái niệm “bồi thường” khi Nhà nước

bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp
của người SDĐ. Trách nhiệm này được quy
định trong pháp luật đất đai.
Thứ hai, bồi thường hoặc đền bù thiệt
hại là hậu quả pháp lí trực tiếp do hành vi
thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Điều này
có nghĩa là bồi thường hoặc đền bù thiệt hại
chỉ phát sinh sau khi có hành vi thu hồi đất
của Nhà nước.
Thứ ba, bồi thường hoặc đền bù thiệt
hại diễn ra trong mối quan hệ song phương
giữa một bên là Nhà nước (chủ thể có hành
vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn
hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi
thu hồi đất của Nhà nước gây ra (chủ SDĐ
bị thu hồi đất).
Thứ tư, căn cứ để xác định bồi thường
hoặc đền bù là diện tích đất thực tế bị thu
hồi; thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa
màu trên đất và khung giá đất do Nhà nước
quy định.
Thứ năm, người SDĐ khi bị Nhà nước
thu hồi đất muốn được bồi thường hoặc nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 39

đền bù phải thỏa mãn các điều kiện do
pháp luật quy định.

do người SDĐ tạo ra hoặc được nhận thừa
kế, tặng cho hay nhận chuyển nhượng quyền
sở hữu. Vì vậy, quy định của pháp luật hiện
hành về bồi thường về đất và bồi thường
thiệt hại về tài sản trên đất là hợp lí.
Hơn nữa, người bị Nhà nước thu hồi đất
không chỉ được bồi thường mà còn được
hưởng các chính sách hỗ trợ, tái định cư của
Nhà nước.
+ Đối với thuật ngữ đền bù thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi đất, nội hàm của thuật ngữ
này chỉ là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do
hành vi thu hồi đất gây ra cho người SDĐ
mà không đi liền sau đó việc thực hiện các
chính sách hỗ trợ, tái định cư.
+ Thông thường khi đề cập thuật ngữ
đền bù khi Nhà nước thu hồi đất, người ta
hay nghĩ tới việc đền bù tương xứng giá trị
của diện tích đất bị thu hồi. Điều này có
nghĩa là phải đền bù 100% giá trị của mảnh
đất thu hồi. Trong khi đó, thuật ngữ bồi
thường lại cho thấy rằng Nhà nước chỉ bồi
thường những giá trị, thiệt hại hợp lí về đất
và tài sản trên đất cho người SDĐ khi bị Nhà
nước thu hồi đất.
b. Phân biệt giữa “bồi thường thiệt hại”
khi Nhà nước thu hồi đất với “bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng” trong pháp luật dân sự
Nghiên cứu, so sánh về bản chất của bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

đất. Tức là người SDĐ được Nhà nước cấp
GCNQSDĐ hoặc có một trong những loại
giấy tờ về quyền SDĐ theo quy định tại
khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 của
Luật đất đai năm 2003 mà có đất đang sử
dụng bị Nhà nước thu hồi. Trong khi đó, chủ
thể được bồi thường trong chế định bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bất cứ tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân nào có thiệt hại
do hành vi vi phạm ngoài hợp đồng của chủ
thể bồi thường gây ra.
Thứ ba, về nguyên tắc bồi thường: Nguyên
tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp
dụng trong pháp luật dân sự là nguyên tắc tự
nguyện thoả thuận giữa người có trách nhiệm
bồi thường và người được bồi thường. Chỉ
khi nào các bên không tự thoả thuận được với
nhau thì mới yêu cầu các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền can thiệp giải quyết.
Trong khi đó, nguyên tắc bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất lại có nét khác biệt.
Việc bồi thường được thực hiện khi người
bị thu hồi đất thỏa mãn đầy đủ các điều kiện
về bồi thường do pháp luật quy định; giá
bồi thường căn cứ vào giá đất do uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh quy định dựa trên nguyên
tắc, phương pháp và khung giá đất do Chính
phủ quy định và được công bố vào ngày
01/01 hàng năm.
Thứ tư, vấn đề bồi thường khi Nhà nước

được thực hiện dựa trên yếu tố lỗi và thiệt
hại thực tế xảy ra. Hơn nữa, người có trách
nhiệm bồi thường chịu trách nhiệm cá nhân
đối với người bị thiệt hại. Điều này có nghĩa
là họ chỉ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại do lỗi của mình gây ra. nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 41

Thứ năm, về tính chất bồi thường: Bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ thuần
túy mang tích chất dân sự giữa cá nhân, hộ
gia đình hoặc tổ chức với nhau. Trong khi
đó, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lại
hàm chứa cả tính chất hành chính và tính
chất dân sự: Tính chất hành chính của bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện ở
việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra
quyết định hành chính (quyết định thu hồi
đất) làm chấm dứt quyền SDĐ của người sử
dụng đối với diện tích đất nhất định. Tính
chất dân sự của loại bồi thường này thể hiện
các thiệt hại thực tế của người SDĐ về tài
sản gắn liền với phần đất bị thu hồi được
Nhà nước bồi thường toàn bộ.
c. Phân biệt giữa “bồi thường thiệt hại”
khi Nhà nước thu hồi đất với khái niệm “bồi
thường nhà nước” trong Dự thảo Luật bồi

Bên cạnh những điểm giống nhau cơ bản
trên đây thì bồi thường thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất và bồi thường nhà nước
trong Dự thảo Luật bồi thường nhà nước có
một số điểm khác nhau chủ yếu sau đây:
Trách nhiệm bồi thường khi Nhà nước

thu hồi đất
Trách nhiệm bồi thường nhà nước trong

Dự thảo Luật bồi thường nhà nước
- Không do hành vi vi phạm pháp luật của
Nhà nước gây ra mà do yêu cầu khách quan của
xã hội.
- Do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người
thi hành công vụ gây ra trong khi thi hành
công vụ.
- Đối tượng bồi thường: Tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân SDĐ bị Nhà nước thu hồi đất.
- Đối tượng bồi thường: Tổ chức, cá nhân bị
thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong
hoạt động quản lí hành chính nhà nước, thi hành
án và tố tụng hình sự. nghiªn cøu - trao ®æi
42

t¹p chÝ luËt häc sè
1

3. Người bị thu hồi đất có GCNQSDĐ hoặc
các loại giấy tờ hợp pháp về quyền SDĐ được
quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật
đất đai năm 2003.
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
nhà nước:
1. Có thiệt hại xảy ra đối với cá nhân, tổ chức;
2. Chủ thể gây ra thiệt hại là người thi hành
công vụ;
3. Có hành vi trái pháp luật của người thi
hành công vụ do cơ quan giải quyết bồi thường
xác định hoặc theo bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, trừ các trường hợp bị oan trong
hoạt động tố tụng hình sự;
4. Hành vi trái pháp luật được thực hiện
trong khi thi hành công vụ;
5. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý hoặc
cố ý, trừ các trường hợp trách nhiệm bồi thường
nhà nước được xác định không căn cứ vào yếu
tố lỗi theo quy định của Luật này;
6. Có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra
thiệt hại và thiệt hại xảy ra. (1).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình
Luật đất đai, Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2007, tr. 83.
(2).Xem: PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo
Luật kinh tế (Chương trình sau đại học), Nxb. Đại học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status