TS. Đặng Kim sơn ba cơ chế
Thị trờng, nh nớc
v cộng đồng,
ứng dụng cho Việt nam
(Sách tham khảo)
2
mục lục
Lời Nhà xuất bản
Lời giới thiệu 4
Lời nói đầu 6
Ba cơ chế điều chỉnh quan hệ x hội 18
Khái niệm cơ chế thị trờng, cơ chế nhà nớc và cơ chế cộng đồng: 18
Tính khách quan của ba bàn tay 29
Công cụ, biện pháp đặc trng cho từng cơ chế 34
Phơng thức điều chỉnh quan hệ xã hội của các cơ chế 41
Hai mặt của các cơ chế 60
Sự thất bại của các cơ chế 147
Đa dạng hoá cơ chế và quá trình phát triển song hành 162
Sự chuyển giao và điều chỉnh tự nhiên giữa ba cơ chế 165
Sự phát triển hài hoà giữa các cơ chế trong quá trình tiến hoá xã hội 191
Lựa chọn cơ chế thích hợp 215
ứng dụng lý thuyết cơ chế trong hoạt động thực tiễn 230
nghiên cứu, giới hoạch định chính sách và giới quản lý, song hiện nay, ở
nớc ta cũng nh trên thế giới, thờng đợc hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Cách hiểu của tác giả cuốn sách này là một cách hiểu, mà ngời đọc
có thể đồng ý, cũng có thể có chỗ không đồng ý. Điều ấy thiết nghĩ không
ngăn trở việc tìm hiểu sự giãi bày những ý tởng của tác giả trong các phần
của cuốn sách.
Qua nhiều công trình nghiên cứu trớc đây và qua cuốn sách này, Đặng
Kim Sơn tự thể hiện là một ngời rất coi trọng lý luận, luôn cố gắng vơn
lên sự chuẩn xác và rõ ràng trong t duy, nhng không sính học thuật. Khi
phân tích về từng vấn đề, Đặng Kim Sơn tìm đợc và nêu ra, trong các hộp
của cuốn sách này, nhiều thí dụ sinh động, có sức thuyết phục của nhiều
nớc, ở nhiều thời, và nhất là Đặng Kim Sơn có ý thức liên hệ với thực tế
Việt Nam ta một cách thiết thực, nh một ngời trong cuộc luôn luôn lo
toan góp phần, dù nhỏ bé và khiêm tốn, mang lại tiến bộ và thành công cho
công cuộc lớn của đất nớc mình.
5
Điều rất đáng quý của cuốn sách này là tinh thần tìm tòi, là khát vọng sáng
tạo, hớng về phát hiện cái mới đúng đắn, mạnh dạn đề xuất và đảm nhận
trách nhiệm về chủ kiến riêng của bản thân tác giả.
Ngời đọc, nhất là các vị học giả, các nhà nghiên cứu, có thể dễ thấy chỗ
còn khiếm khuyết của cuốn sách này, và có thể không đồng ý, nhiều hay ít,
với tác giả, từ phơng pháp luận chung đến nội dung chi tiết của chơng
này mục khác. Đó là điều bình thờng. Hơn thế nữa, đó có thể là một dấu
hiệu đáng hoan nghênh về sự phong phú có giá trị đặt vấn đề và mở tranh
luận của một công trình.
Xin không giới thiệu gì thêm về nội dung cuốn sách, nội dung ấy đợc trình
bày linh hoạt, có sức hấp dẫn, nh đang đón chờ ngời đọc. Chỉ xin đợc
nêu một ý nghĩ riêng rằng, vào lúc chúng ta đang tổng kết 20 năm đổi mới
và bắt tay soạn thảo kế hoạch 5 năm 2006 2010, cuốn sách này là một
đóng góp đáng trân trọng vào việc nghiên cứu, đề ra kiến nghị về phát triển
Khác với khái niệm thể chế khi nói về thể chế nhà nớc, thể chế
thị trờng, trong đó, các quan hệ xã hội giữa con ngời, các quan hệ trong
cộng đồng thờng đợc gọi chung là hoạt động của thể chế bao gồm cả khía
cạnh tổ chức
2
, cuốn sách này chỉ bàn đến khía cạnh cơ chế hoạt động của
thị trờng, nhà nớc và cộng đồng, với nghĩa cơ chế là cách thức hoạt động,
là phơng thức xử lý đặc trng của nhà nớc, thị trờng và cộng đồng nhằm
điều chỉnh quan hệ kinh tế, xã hội của con ngời.
Cơ chế dờng nh một khái niệm trừu tợng, đợc ngời ta gán
cho mọi tội lỗi khi xã hội mắc phải những sai phạm trầm trọng và cũng
đợc dùng để giải thích cho những thành công trong xã hội mà nguyên nhân
mang tính tổng hợp khó lý giải. ở nớc ta, rất nhiều sai lầm đã đợc quy
cho cơ chế tập trung - quan liêu - bao cấp của mô hình kinh tế kế
hoạch trớc kia. Lại có nhiều tệ nạn xã hội, méo mó trong kinh tế ngày nay 1
1.Xem CIEM: Thể chế - cải cách thể chế và phát triển lý luận và thực tiễn ở nớc ngoài và
Việt Nam, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002.
7
đang bị coi là mặt trái của cơ chế thị trờng. Khái niệm cơ chế trong
những lập luận trên, có lẽ đúng hơn là nói về thể chế (theo định nghĩa của
Ngân hàng Thế giới
1
).
Vì vậy, xin nói rõ rằng: các từ ngữ nh cơ chế, cộng đồng, sử
dụng trong sách này, không mang ý nghĩa của các khái niệm học thuật
thông thờng của các tài liệu kinh tế, xã hội kinh điển. Tên gọi cơ chế ở
đây chỉ nêu lên khía cạnh công cụ, phơng cách, giải pháp để điều chỉnh
Giáo s Đo Thế Tuấn giới thiệu một số khái niệm liên quan
1. Về quan hệ giữa ba khu vực thể chế: Nhà nớc, thị trờng và xã hội dân
sự (hay cộng đồng?)
Trên thế giới từ giữa những năm 1970 có xu hớng chuyển từ kinh tế
do các quy tắc quản lý sang kinh tế thị trờng do giá cả điều tiết. Sự chuyển
đổi này do các tổ chức kinh tế quốc tế nh Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),
Ngân hàng Thế giới (WB) hớng dẫn, gọi là Đồng thuận Washington
(Washington concensus). Tuy vậy, sau 15 năm thực hiện phơng hớng này
qua các chơng trình ổn định và điều tiết ở các nớc đang phát triển, kết
quả của việc tự do hoá rất mâu thuẫn. Bên cạnh các trờng hợp thất bại của
nhà nớc, có rất nhiều thất bại của thị trờng. Thị trờng không thể tự điều
tiết đợc. Kinh nghiệm của các nớc Đông á cho thấy cần phải có một nhà
nớc mạnh mới điều tiết đợc thị trờng. Cần một nhà nớc kiểu mới,
không phải là nhà nớc ban ơn (Providential State) mà là một nhà nớc tác
nhân của thị trờng (Market actor State). Để giải quyết vấn đề này không
phải chỉ cần có các cơ chế mới của nhà nớc và thị trờng mà phải có các
thể chế mới, trong đó có cả các tổ chức mới.
Lý thuyết kinh tế học thể chế mới ra đời chính là để xây dựng các
thể chế có thể giúp giải quyết đợc quan hệ giữa nhà nớc và thị trờng. Do
đấy không những nó đợc các nhà kinh tế học mà cả các nhà quản lý chào
đón. Kinh tế học thể chế mới là công trình nghiên cứu tập thể của nhiều nhà
kinh tế học, chủ yếu có R. Coase (giải thởng Nobel năm 1991), O.
Williamson và D. North (giải thởng Nobel năm 1993).
Trong quá trình phân công lại giữa nhà nớc và thị trờng ngời ta
thấy có một số việc nhà nớc không nên làm nữa, nh
ng thị trờng cũng
không làm đợc, phải giao cho các thể chế mới: các tổ chức này đợc xây
dựng trên cơ sở của sự thơng lợng, hợp tác, thuyết phục, đại diện cho
hành động tập thể. Các tổ chức này có mặt ở tất cả các cấp, thậm chí cả mức
vững. Trong các cuộc cải cách này, vai trò của nhà nớc và vai trò của thị
trờng đang thay đổi. Cộng đồng cũng đang phát triển thành các xã hội dân
sự hiện đại làm chức năng hạn chế các tiêu cực của nhà nớc và thị trờng.
Các thất bại của thị trờng và nhà nớc (market failure, government
failure) nêu trong cuốn sách này đã đợc nhiều tác giả tổng kết (Stern N.,
1989). Chính việc chuyển sang xã hội dân sự là biện pháp để khắc phục các
nghịch lý của cộng đồng.
10
Học giả Trần Việt Phơng giới thiệu sơ lợc về thể chế
Từ vài thập kỷ nay, ở nớc ta và trên thế giới, khái niệm và từ ngữ
thể chế ngày càng phổ biến trong hoạt động kinh tế, xã hội, trong các văn
kiện của nhà nớc, trên các phơng tiện thông tin đại chúng, và cả trong lời
ăn tiếng nói hằng ngày. ở đâu và lúc nào cũng vậy, càng nghĩ đến và càng
thúc đẩy công cuộc phát triển đất nớc, thì càng chú ý xử lý vấn đề thể chế.
Nhiều nhà khoa học đã cố gắng nêu ra định nghĩa thể chế, tính chất,
nội dung, phạm vi, các loại hình, tầm quan trọng của thể chế. ở đây, xin
nhắc lại vắn tắt nh sau:
Quan niệm thông thờng về thể chế đợc vạch rõ trong các cuốn từ
điển phổ thông. Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất
bản năm 2000, thể chế là: những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội,
buộc mọi ngời phải tuân theo (nói tổng quát). Quan niệm thông thờng
nh vậy, tuy không thật đầy đủ, và do đó không hoàn toàn chuẩn xác, song
rất có ích cho nhận thức và hành động của mọi ngời.
Quan niệm học thuật về thể chế đơng nhiên là phong phú hơn, tinh
tế hơn, đa dạng hơn (tức là có những quan niệm khác nhau). Quan niệm học
thuật về thể chế đợc số đông độc giả đồng ý hoặc chấp nhận gồm mấy
điểm chính sau đây:
1. Thể chế là các luật lệ, quy tắc của một xã hội, từ cấp quốc gia (có khi
liên quốc gia) đến cấp cộng đồng nhỏ nhất, hớng dẫn, khuyến khích, ca
ngợi, khen thởng (những điều gì đó), lên án, trừng phạt (những điều gì đó),
thực hiện các thể chế, với kết quả đúng hay sai, nhiều hay ít, tốt hay xấu.
Nh vậy, theo nghĩa rộng nhất, thì thể chế bao gồm cả sự thực hiện và kết
quả thực hiện thể chế.
Có những học giả cho rằng thể chế chỉ là các luật lệ và quy tắc; cũng
có những học giả cho rằng thể chế bao gồm cả ba phần vừa nêu trên đây.
Một nhà khoa học khá nổi tiếng ví một cách hình ảnh rằng nghiên cứu thể
chế mà chỉ nghiên cứu các luật lệ, quy tắc thì chẳng khác nào nghiên cứu
máu ngời mà tách rời không liên quan tới hệ tim mạch, và toàn bộ cơ thể
của con ngời (chúng ta biết rằng chỉ một, hai xăng - ti - mét khối máu
cũng đợc quyết định bởi và cũng biểu hiện rõ ràng ra hàng chục chỉ số về
chỗ mạnh và chỗ yếu, chỗ lành và chỗ bệnh của hầu hết các bộ phận trong
cơ thể con ngời).
4. Trong các khoa học, cho đến nay duy chỉ có kinh tế học có một bộ môn
tự đặt tên là học thuyết kinh tế thể chế. Nhng thể chế không chỉ là về kinh
tế (tuy thể chế kinh tế là loại rất quan trọng), mà thể chế bao quát mọi hoạt
động và đời sống xã hội. Từ lâu, nhiều khoa học khác nhau đã nghiên cứu
thể chế. Chính các học giả thuộc học thuyết kinh tế thể chế (cũ và mới) đều
12
công nhận rằng, dẫu chỉ nghiên cứu thể chế kinh tế, thì đơng nhiên chủ
yếu là vận dụng kinh tế học, song cũng phải vận dụng các thành tựu của
chính trị học, luật học, hành chính học, xã hội học, sử học, nhân học, văn
hoá học, toán học, vật lý học, công nghệ thông tin, cùng nhiều ngành khoa
học khác. Một cái nhìn hẹp hòi, thiển cận thì chỉ đạt đợc những kết quả
thiển cận, hẹp hòi thôi.
5. Về tầm quan trọng của thể chế, đến nay các nhà nghiên cứu, các nhà cầm
quyền, các nhà quản lý và những ngời dân thờng đều thấy thể chế có tầm
quan trọng to lớn, cơ bản, một số nhà khoa học cho rằng tầm quan trọng của
thể chế là cơ bản nhất, quyết định nhất đối với sự phát triển của một đất
nớc, một chế độ xã hội, nhất là vào những bớc ngoặt, những thời kỳ thay
đổi về chất (cả bản chất và chất lợng) của một quốc gia.
tốt, hợp lý hoá, và hớng tới tối u hoá. Do đó, việc từng con ngời luôn
luôn theo đuổi lợi ích của riêng mình, thông qua bàn tay vô hình của thị
trờng, sẽ đa đến sự hợp lý hoá xã hội. Một phơng pháp luận nh vậy tất
nhiên dành u tiên cho phơng pháp phân tích vi mô.
2. Điển hình của mô hình kinh tế học tân cổ điển là mô hình thị trờng cạnh
tranh thuần khiết và hoàn hảo (tuyệt đối không có độc quyền, cũng không
có yếu tố hạn chế cạnh tranh), trong các hoạt động kinh tế hoàn toàn không
có chi phí giao dịch (nói cách khác, chi phí giao dịch bằng không (0).
3. Kinh tế học tân cổ điển cờng điệu đến mức nhiều khi gần nh tuyệt đối
hoá các nhân tố vật chất (hoặc vật thể) của sản xuất, chung quy lại là lao
động (cơ bắp) và vốn (dới các hình thức khác nhau, kể cả đất đai và tài
nguyên thiên nhiên khác cũng đợc coi là những loại vốn).
Đơng nhiên, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phải
không biết đến các nhân tố nh giáo dục, đào tạo, phân công lao động, tổ
chức và quản lý, khoa học và công nghệ nhng họ đã xem nhẹ những nhân
tố ấy, mà họ cho là nhân tố ngoại sinh, chứ không phải nhân tố nội sinh của
kinh tế.
Theo sự tóm tắt thô thiển, nhng không đến nỗi sai lạc trên đây, thì
quả là khó hiểu rằng một lý luận nh vậy mà lại giữ đợc vị trí u trội trong
kinh tế học hàng thế kỷ, cho đến thời đơng đại. Từ lâu, giới kinh tế học
một mặt công nhận những thành tựu hiển nhiên của kinh tế học tân cổ điển,
song mặt khác đã vạch rõ rằng nó quá xa đời sống thực tế và bất lực không
giải thích đợc có sức thuyết phục nguyên nhân của thành quả kinh tế khác
nhau giữa các nớc, nguyên nhân của sự phát triển, sự chậm phát triển và sự
thoái triển, đặc biệt là không giải thích đợc những bớc ngoặt, những thay
đổi về chất của các nền kinh tế.
Quả thật các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã có sự mù quáng,
đó không phải là sự mù quáng của ngời kém trình độ, không biết nhìn,
14
không biết phân tích, mà là sự mù quáng của hệ thống và chân trời lý luận.
của kinh tế học tân cổ điển. Đáng kể hơn cả, có lẽ là lý thuyết tăng trởng
mới, nội sinh hoá tiến bộ khoa học công nghệ vào kinh tế, và học thuyết
kinh tế thể chế, nêu bật vai trò rất to lớn, nhiều khi quyết định của các thể
chế và sự thay đổi thể chế trong thành quả của các nền kinh tế.
15
Theo cách gọi thông dụng, học thuyết kinh tế thể chế cũ ra đời ở Mỹ
vào thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XX, với những nhà khoa học nổi tiếng
là Veblen, Mitchell và nhất là Commons. Học thuyết này đợc báo trớc và
gợi ý rất nhiều bởi trờng phái lịch sử trong kinh tế học ở Đức đầu thế kỷ
XX. Ngời xuất sắc nhất của trờng phái lịch sử Đức là Gustav Schmoller,
năm 1926 đã đợc Schumpeter đánh giá là cha đẻ của học thuyết kinh tế
thể chế Mỹ. Còn học thuyết kinh tế thể chế mới thì ra đời vào thập kỷ thứ 7
của thế kỷ XX ở Mỹ và một số nớc khác, từ đó phát triển đến nay. Những
học giả nổi bật của học thuyết này là North, Williamson, Thomas,
Weingast Về học thuyết kinh tế thể chế, nhất là học thuyết kinh tế thể chế
mới, xin nêu tóm tắt mấy điểm:
Phơng pháp luận của học thuyết kinh tế thể chế mới là cố gắng thực
hiện một sự cân đối thích đáng giữa cá nhân (từng con ngời) với cộng đồng
(các cấp, các loại), giữa phân tích vi mô, trung mô và vĩ mô. Về cá nhân
từng con ngời, do coi trọng các thể chế kinh tế, xã hội, nên con ngời của
học thuyết kinh tế thể chế mới không phải là con ngời kinh tế (homo -
economicus), mà là con ngời xã hội (homo - sociologicus), phong phú hơn,
toàn diện hơn con ngời kinh tế. Đó là chỗ học thuyết kinh tế thể chế mới
khác với kinh tế học tân cổ điển và chừng mực nào gần hơn với kinh tế học
Keynes và kinh tế học C.Mác.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng phơng pháp luận của học thuyết
kinh tế thể chế mới tuy cố gắng giữ cân đối giữa cá nhân và cộng đồng,
song vẫn nặng về cơ sở cá nhân hơn, đó là chỗ nó gần với kinh tế học tân cổ
điển và xa với kinh tế học Keynes và kinh tế học C.Mác.
Học thuyết kinh tế thể chế mới, nh cái tên của nó, đi sâu nghiên cứu
tế
5. Học thuyết kinh tế thể chế mới không nghiên cứu thể chế trong trạng thái
tĩnh, mà trong trạng thái động, đặc biệt nghiên cứu sự thay đổi thể chế,
nguyên nhân, tiến trình và hệ quả của sự thay đổi thể chế, nhất là tác động
của sự thay đổi thể chế đối với công cuộc phát triển các nền kinh tế các
quốc gia.
Cũng nh đối với các học thuyết kinh tế khác, sự tóm tắt trên đây là thô
thiển, rất không đủ, chỉ là sự giới thiệu rất lớt qua.
Học thuyết kinh tế thể chế mới đã có những thành tựu lý luận và thực
tiễn quan trọng, song cũng có những giới hạn rõ rệt mà chính nhiều nhà
khoa học nổi tiếng của học thuyết ấy đã công nhận và phân tích. Cũng nên
nêu lên nhận xét rằng cho đến nay, trong tất cả các học thuyết kinh tế của
loài ngời, cha có học thuyết nào thành công nh hứa hẹn.
Nếu chỉ nói một điều về giới hạn của học thuyết kinh tế thể chế mới,
mà tạm gác những vấn đề về bản chất và nguyên tắc phơng pháp luận, thì
17
điều đó có lẽ nh sau: coi nhẹ thể chế là cái sai lớn, còn quá cờng điệu thể
chế là cái lầm to.
ở đây, một lần nữa chúng ta gặp vấn đề mức, thờng liên hệ chặt với
vấn đề chất. Triết học, khoa học và thực tiễn của loài ngời cho chúng ta
nhận thức rằng: nhiều khi mức quan trọng không kém gì chất, mức và chất
là một cặp sinh đôi trong sự phát triển của thiên nhiên, xã hội, kinh tế và
con ngời.
Một điều đáng chú ý cần đợc nhấn mạnh là: cải cách thể chế và phát
triển kinh tế, xã hội ở các loại nớc khác nhau và ở nớc ta đã không chỉ
dựa vào học thuyết kinh tế thể chế mới, mà đã cố gắng vận dụng các thành
quả tích cực của nhiều học thuyết kinh tế, ở nớc ta thì đặc biệt chú trọng
vận dụng kinh tế học C. Mác, cũng nh vận dụng nhiều khoa học có liên
quan, nh khoa học về nhà nớc, hành chính học, xã hội học,
18
thành một không gian ba chiều, và theo Calkins thì các cộng đồng, các quốc
gia trên thế giới trong những thời điểm nhất định, đều nằm đâu đó trong
không gian này. Các nớc công nghiệp theo cơ chế thị trờng nằm trên vị trí
cao của trục vật chất. Các nớc xã hội chủ nghĩa theo kinh tế kế hoạch đã
19
từng nằm ở mức cao của trục xã hội. Những cộng đồng thổ dân và các nớc
thế giới thứ ba nằm ở điểm cao của trục đạo đức hình thành trên quà cáp
và sự có đi, có lại. Xuất phát từ giả định về sự giới hạn của tài nguyên
sinh thái trên trục vật chất và xung đột tiềm năng giữa tự do cá nhân và luật
và trật tự trên trục xã hội tác giả kết luận rằng: hầu hết các bối cảnh kinh tế
thế giới đều bị phát triển lệch lạc, thiên về thị trờng và nhà nớc
1
.
Nếu sự nhìn nhận của Root chủ yếu từ góc độ quản lý kinh tế, nhằm
đánh giá khả năng thông tin và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia
giao dịch để đảm bảo cam kết và thực hiện các hợp đồng của mình trong
tơng lai, nếu cách diễn giải của Calkins nhằm giải thích các định chế hoạt
động và xu hớng phát triển của các cộng đồng, các quốc gia, các nền kinh
tế, thì trong cuốn sách này, ba cơ chế đợc xem xét dới một góc độ khác.
Đó là những công cụ điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội nói
chung của con ngời, hoạt động chi phối của chúng thể hiện qua việc điều
hành trật tự, hoạt động xã hội; quản lý kinh tế, điều phối tài nguyên; giải
quyết mâu thuẫn, xung đột; định hớng phát triển, và nhiều hoạt động kinh
tế - xã hội khác Tác động điều chỉnh của các cơ chế đợc thực hiện dựa
trên ba hoạt động là định danh, thông tin và thởng phạt.
Trong sách kinh điển về nghiên cứu thể chế
2
, Douglass C. North đã
xem xét một cách tỉ mỉ và khoa học các hình thức vận động của thể chế (với
nghĩa là các hình thức giới hạn mà con ngời tạo ra để hình thành nên quan
nhà nớc ngày xa đợc đo lờng bằng số lợng dân c, quy mô lãnh thổ,
quân số binh sĩ ngày nay đợc so sánh bằng mức tăng và quy mô GDP,
chỉ số phát triển con ngời HDI, chi tiêu quân sự ; Sức mạnh của một thực
thể về hoạt động thị trờng đợc đo lờng bằng khả năng cạnh tranh, khả
năng tích tụ t bản, trình độ công nghệ, năng lực liên thông buôn bán, hiệu
quả đầu t, khả năng lan truyền tín hiệu giá cả để điều phối tài nguyên, mức
độ tiết giảm chi phí giao dịch, ; Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở khả
năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huy động
lực lợng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của tổ chức cơ
sở,
Hình thức hoạt động của cơ chế nhà nớc là các khuôn khổ cứng của
luật pháp, quy định và hoạt động can thiệp vào hoạt động kinh tế, xã hội.
Thị trờng hoạt động theo hình thức tự do, thông qua hoạt động buôn bán,
trao đổi, các bên tham gia đều có lợi, cạnh tranh trong kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ. Cộng đồng vừa dùng các khung luật lệ quy định, vừa phát huy vai
trò tự chủ để thoả thuận, xây dựng các cam kết về nghĩa vụ và quyền lợi.
Tóm lại, năng lực tác động xã hội của thế lực nhà nớc là khả năng ràng
buộc, can thiệp và xây dựng, của thị trờng là mức độ liên thông, cạnh tranh
và tự cân đối, của cộng đồng là năng lực giao tiếp, đàm phán và tự điều
chỉnh.
Bản chất hoạt động của ba cơ chế
Hoạt động của cơ chế thị trờng
Xét về khía cạnh thông tin, tín hiệu chính của thị trờng là giá cả,
phản ánh giá trị kinh tế, thể hiện mức độ khan hiếm của hàng hoá, dịch vụ
đợc buôn bán. Môi trờng lan truyền thông tin kinh doanh là khu vực tham
gia hoạt động giao dịch thơng mại. Để mô hình hoá các hoạt động này,
21
ngời ta thờng mô phỏng trên máy tính các mô hình cân bằng cung cầu,
trong đó thông tin giá cả lan truyền theo nguyên tắc bình thông nhau hay
2
.
Kết cấu hoạt động của cơ chế thị trờng xét một cách đơn giản gồm
có hai khối tác nhân chính đối lập nhau: khối các tác nhân phía cung (khối A) 1.
. DouglassC. North, Sách đã dẫn.
2
. Hilton Root, Sách đã dẫn.
22
gồm các nhà sản xuất cùng tham gia làm ra một mặt hàng và bên kia là khối
các đối tác cầu (khối B) cùng tham gia tiêu thụ chung một mặt hàng. Trong
khối cung A, quan hệ chính giữa các nhóm trong khối là cạnh tranh quyết
liệt nhằm giành thị trờng, thị phần, kết quả là tại điểm cân bằng, lợi nhuận
chung giảm xuống mức thấp nhất cho phép, tơng đơng với trình độ công
nghệ và mức quản lý trung bình xã hội. Trong khối cầu B diễn ra một
quan hệ hợp tác lỏng lẻo. Ví dụ, ngời cùng mua một sản phẩm thờng
tìm cách trao đổi thông tin với nhau về giá cả, tham khảo nhau về chất
lợng hàng hoá, độ tin cậy về nguồn cung cấp, ở mức cao hơn thì hợp tác
cùng nhau bảo vệ quyền lợi ngời mua, nhằm mua đợc hàng hoá với giá
thấp nhất để có lợng hàng hoá cao nhất, với chất lợng tối đa trong phạm
vi khả năng chi tiêu bình quân của xã hội. Giữa hai khối cung A và cầu B là
quan hệ thoả thuận, mặc cả thuận mua vừa bán, tại điểm cân bằng nhu cầu
cân đối với cung cấp. Trong thực tế, trên thị trờng, có nhiều loại hàng hoá
có mối quan hệ qua lại với nhau (thay thế, phối hợp,), cho nên bức tranh
quan hệ chung của cơ chế thị trờng phức tạp hơn rất nhiều so với trờng
hợp đơn giản của thị trờng một hàng hóa.
khối bị trị, các thành viên trong khối có quan hệ "hợp tác lỏng lẻo", họ trao
đổi thông tin, bàn bạc với nhau khi chịu sự quản lý và tiêu dùng lợi ích từ
dịch vụ công của khối A cung cấp.
Giữa hai nhóm thống trị và bị trị (giữa nhóm A và nhóm B) cũng
giống nh giữa nhóm cung với nhóm cầu của cơ chế thị trờng, có mối quan
hệ thoả thuận, mặc cả, trong đó mỗi bên đều nhằm tối đa hoá lợi ích thu
đợc và tối thiểu hoá chi phí. Ví dụ, ngời chịu quản lý tối đa hoá việc gây
ảnh hởng đến đờng lối chính trị của nhóm cầm quyền (nhóm A), cố gắng
dùng ảnh hởng của mình thông qua phiếu bầu, thông qua d luận xã hội,
thông qua "vận động hành lang" để đòi hỏi đợc nhiều nhất từ dịch vụ công
do khối thống trị cung cấp (đợc bảo vệ an ninh, thu hút nhiều công trình,
dự án từ đầu t chính phủ, tận dụng đợc nhiều chính sách hỗ trợ, ) và
giảm nhẹ sự đóng góp và bị quản lý bởi khối cầm quyền (tìm cách giảm
thuế, giảm lao dịch, giảm thủ tục ). Ngợc lại, khối lãnh đạo tìm cách
dùng sức mạnh cỡng chế hành chính, dùng tuyên truyền vận động, để huy
động đợc nhiều đóng góp của ngời bị quản lý (thu thuế cho nhu cầu ngân
sách, bắt lính cho nhu cầu binh dịch, huy động lao động cho nhu cầu công
ích, phân cấp cho địa phơng lo rủi ro về đê điều, an ninh, ) và buộc nhóm
B phải tuân theo mệnh lệnh, phục vụ quyền lợi, tuân theo đờng lối, tin theo
t tởng của nhóm mình.
24
Trong khi các hoạt động cạnh tranh trong khối cung (khối A) của cơ
chế thị trờng diễn ra tơng đối liên tục hàng ngày, hàng giờ và thể hiện ở
sự thay đổi giá cả tại các phiên chợ, phiên giao dịch thì hoạt động cạnh
tranh tập trung trong khối A của cơ chế nhà nớc (khối thống trị), tuy diễn
ra liên tục nhng thể hiện tập trung theo chu kỳ chính trị (các cuộc truyền
ngôi, các kỳ bầu cử, các đợt đại hội, các cuộc chiến tranh, ) 4 - 5 năm hoặc
lâu hơn nữa. Trong cơ chế nhà nớc, hoạt động mặc cả giữa hai khối A và B
diễn ra liên tục, đi đến nhiều thoả hiệp liên tục, hình thành tơng quan giữa
ngời thống trị và ngời bị trị.
.
Trong cuốn sách "Cuộc chiến tranh Palopon", nói về cuộc nội chiến
giữa ngời Aten và ngời Xpac ở Hy Lạp cổ, sử gia Thukydides đã viết thay
lời của một bên trong cuộc tranh chấp: "giống nh chúng tôi, các anh cũng
hiểu rõ rằng trong mối quan hệ con ngời với nhau, sự công bằng chỉ có
hiệu lực khi lực lợng giữa các bên cân bằng. Những kẻ mạnh sẽ thực hiện
điều có thể, còn kẻ yếu sẽ chấp nhận điều đó"
2
. Nhìn chung, tính chất cạnh
tranh quyết liệt trong quan hệ trong nội bộ nhóm A của cơ chế thị trờng và
cơ chế nhà nớc khiến ngời ta thờng coi thơng trờng giống nh chiến
trờng. Cũng vì tính cạnh tranh đối kháng ác liệt một mất, một còn khiến
con ngời đổ nhiều công sức nghiên cứu, hình thành nhiều học thuyết, tốn
nhiều giấy mực để bàn về chiến lợc, chiến thuật, đấu pháp trong chiến
tranh và thơng mại.
Trong khi đó, ngay trong cơ chế thị trờng và cơ chế nhà nớc, các
mối quan hệ nội bộ trong nhóm B do tính chất tơng đối hoà hợp nên ít
đợc chú ý nghiên cứu. Càng về sau, ngời ta càng nhận thấy sự phức tạp và
vai trò quan trọng của chúng. Những mối quan hệ tởng nh êm dịu này
thật ra đôi khi tác động mạnh mẽ vào tiến trình phát triển. Một ví dụ là
trờng hợp ra đời và phát huy tác dụng mạnh mẽ của lý thuyết kinh tế trọng
cầu của Keynes vào nửa cuối thế kỷ 20
3
. 1
.Trong mô hình của Donglassc. North (1981, 2000), có kẻ cai trị và nhóm bị trị. Ngời cai trị
cung cấp sự bảo vệ và công lý một cách độc quyền cho thần dân và thu thuế của họ. Trong khối
bị trị, các nhóm khác nhau có chi phí cơ hội và khả năng mặc cả khác nhau với kẻ cai trị. Giữa