Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THUỲ NGÂN
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC Ở TÔM SÚ
(P.monodon) BỆNH HOẠI TỬ CƠ QUAN TẠO MÁU VÀ CƠ
QUAN LẬP BIỂU MÔ (IHHNV – Infectious Hypodermal and
Haematopoietic Necrosis Virus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
QUAN LẬP BIỂU MÔ (IHHNV – Infectious Hypodermal and
Haematopoietic Necrosis Virus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. BÙI THỊ BÍCH HẰNG
2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Danh sách hình iii
Danh mục từ viết tắt iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược nghề nuôi tôm trên thế giới, ở Việt Nam 3
4.2.5 Những biến đổi mô học ở cơ tôm sú nhiễm IHHNV 21
4.2.6 Những biến đổi mô học ở cơ quan tạo máu tôm sú nhiễm IHHNV 21
Chương 5: KẾT LUẬN & ĐỀ XUẤT 23
5.1 Kết luận 23
5.2 Đề xuất 23
Tài Liệu Tham Khảo. 24 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
i
LỜI CẢM TẠ Xin trân trọng cảm tạ cô Bùi Thị Bích Hằng giáo viên hướng dẫn thực hiện đề
tài đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm tạ quí thầy cô phụ trách phong thí nghiệm cùng cán bộ phụ
trách thư viện khoa Thuỷ Sản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành luận văn này.
Có được kết quả ngày hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quí thầy cô
của trường, khoa thuỷ sản đã giáo dục, truyền đạt các kiến thức cần thiết ngay
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Kết quả điện di sản phẩm PCR 13
Hình 4.1: Lớp biểu mô dưới vỏ tôm nhiễm IHHNV 17
Hình 4.2: Cấu tạo vi thể của mang bị nhiễm IHHNV 18
Hình 4.3: Thể vùi Cowdry loại A trên mô liên kết gan tuỵ và sự hoại tử với
nhiều khoảng trống 19
Hình 4.4: Tuyến râu tôm sú nhiễm IHHNV 20
Hình 4.5: (A) Cơ tôm sú bình thường; (B) Cơ tôm sú bị bệnh. 21
Hình 4.6: Mô tạo máu nhiễm IHHNV 22
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
bp = Base pair
ĐBSCL = Đồng Bằng Sông Cửu Long
IHHNV = Infectious Hypodermal and Haematopoietic Necrosis Virus
NTTS = Nuôi Trồng Thuỷ Sản
TS = Thủy Sản
ORF = Open Reading Frame
PCR = Polymerase Chain Reaction
µl = Micro lít
nm = Nano mét
ADN = Acid Deoxyribonucleotide
% = Phần trăm
WSSV = White spot syndrome virus
YHV = Yellow head virus
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
al., 1983). Theo Carpenter & Brock (1992) IHHNV gây thiệt hại nặng nề về
mặt kinh tế vì gây chết 90% tôm P. stylirostris sau hai mươi ngày thả nuôi.
Tuy virus này không gây chết cho tôm sú nhưng lại là một trong những tác
nhân gây chậm lớn, dị hình (Flegel, 1997). Mặc khác các đợt dịch bệnh do
IHHNV gây ra có thể xảy ra bất cứ mùa nào trong năm và tôm giống là rủi ro
nhất.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì các phương pháp
chẩn đoán bệnh trong thuỷ sản cũng ngày càng tiến bộ. Trước tiên phải kể đến
PCR (Polymerase Chain Reaction), đây là kỹ thuật khuếch đại trình tự ADN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2
một cách nhanh nhất, được phát minh và đặt tên bởi Mullis & ctv vào năm
1985. Bên cạnh đó phương pháp mô bệnh học là một phương pháp góp phần
quan trọng vào việc chẩn đoán bệnh thuỷ sản, đặc biệt là bệnh tôm. Mô bệnh
học không chỉ mô tả các tổn thương ở các mô và tế bào ở mức độ vi thể mà
còn so sánh đối chiếu các tổn thương đó với những biểu hiện lâm sàng của cá,
tôm, nhuyễn thể (Lightner and Bell, 1988). Để ứng dụng mô bệnh học vào
việc chẩn đoán tác nhân gây bệnh IHHNV trên tôm sú cũng như tìm hiểu về
đặc điểm mô học của virus này đề tài ”Tìm hiểu đặc điểm mô bệnh học ở tôm
sú bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV)” được thực
hiện.
Mục tiêu:
Mô tả đặc điểm mô bệnh học ở tôm sú nhiễm IHHNV ở Việt Nam.
Nội dung:
Xét nghiệm IHHNV trên tôm sú giống bằng PCR nhằm tìm ra mẫu bị bệnh.
Tiến hành làm tiêu bản mô học trên mẫu dương tính với IHHNV.
Quan sát đặc điểm mô bệnh học ở tôm nhiễm IHHNV.
giảm nhưng vẫn tiếp tục gây thiệt hại cho người nuôi (Phạm Văn Công, 2007).
Năm 2000 được xem là năm đánh dấu sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thương
phẩm khi chính phủ ban hành nghị quyết 09 cho phép chuyển đổi một phần
diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang NTTS (Tạp
Chí Thuỷ Sản, số 6, 2007)
Theo Hanafi & T. Ahmad (1999) (trích dẫn từ Lê Khanh (2006)) thì diện tích
nuôi tôm ở Việt Nam tăng từ 250.000 ha năm 2.000 sang 478.000 ha năm
2001 và 540.000 ha năm 2003, cho đến nay diện tích nuôi tôm vẫn tiếp tục
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4
tăng tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại. Theo số liệu hiện có Việt Nam là
nước có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Indonesia, nước
có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996 (khoảng 360.000 ha).
Phần lớn diện tích nuôi tôm tập trung ở ĐBSCL, rãi rác dọc các cửa sông,
kênh, gạch, ven biển miền Trung và ở đông bằng sông Hồng, sông Thái Bình
ở miền Bắc. ĐBSCL được đánh giá là vùng trọng điểm về NTTS của Việt
Nam với hơn 1 triệu ha diện tích mặt nước ngọt và lợ. Năm 2003, ĐBSCL sản
xuất khoảng 0,67 triệu tấn thuỷ sản chiếm 64,6% sản lượng thuỷ sản nuôi cả
nước và hơn 55% tổng giá trị xuất khẩu (Bộ Thuỷ Sản, 2004).
Song song với việc mở rộng diện tích, sản lượng nuôi tôm cũng tăng mạnh từ
những năm 90 và đặc biệt là từ sau năm 2000. Các loài tôm nuôi chính ở Việt
Nam bao gồm: tôm sú (Penaeus monodon), tôm he (Penaeus merguiensis),
tôm đất (Metapenaeus ensis), … trong đó tôm sú là tôm nuôi chủ đạo đóng
góp sản lượng cao nhất. Các thị trường xuất khẩu tôm quan trọng của Việt
Nam là: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên Minh Châu Âu (Hanafi & T.
Ahmad, 1999 trích dẫn từ Lê Khanh, 2006).
2.2 Tác nhân gây bệnh IHHNV
2.2.1 Đặc điểm của tác nhân gây bệnh IHHNV
IHHNV là virus nhỏ nhất thuộc họ Parvoviridae, họ phụ Densovirinae, giống
vỏ ngoài, cơ đục, tỷ lệ chết cao. Biểu hiện về mặt mô học là sự hoại tử, viêm
sưng lớp biểu mô dạ dày, ruột, mang, cơ, hệ thần kinh, mô liên kết và mô tạo
máu, đồng thời xuất hiện thể vùi Cowdry loại A trong nhân của những tế bào
trên (Lightner et al., 1983).
Đối với tôm P. vannamei thì IHHNV không gây tỷ lệ chết cao như P.
stylirostris nhưng cũng không kém phần nguy hiểm. IHHNV làm tôm chậm
lớn, dị hình, còi cọc (Kalagayan et al., 1991). Tôm giống chậm phát triển, dị
hình, râu quăn queo, vỏ kitin xù xì hoặc biến dạng. Tuy vậy, khi tôm mới
nhiễm bệnh thường không có biểu hiện rõ ràng (Bell & Lightner,1984;
Lightner et al., 1983). Phân tích mô bệnh học cho thấy có sự xuất hiện thể vùi
Cowdry loại A ở tế bào thần kinh, tuyến râu, lớp biểu bì dưới vỏ, mô tạo máu
nhưng không tìm thấy ở tổ chức limpho cũng như cơ tim (Kalagayna et al.,
1991).
Tôm sú P. monodon khi nhiễm IHHNV lúc sắp chết thường chuyển sang màu
xanh, cơ phần bụng mờ đục (Lightner et al., 1983). P. monodon ở Philippin
khi nhiễm bệnh chậm phát triển, còi cọc, riêng tôm đực thì chất lượng tinh
dịch không tốt (Primavera & Quinitio, 2000). Tuy nhiên, ở Thái người ta chưa
đánh giá mức độ ảnh hưởng của IHHNV trên tôm sú (Chayaburakul et al.,
2005).
2.2.3 Phân bố và lan truyền bệnh
IHHNV được phát hiện đầu tiên vào năm 1981ở Hawai khi gây chết hàng loạt
tôm P. stylirostris (Lightner et al., 1983). Sau đó virus lan rộng đi khắp nơi
như Tahiti, Florida, Texas, Islands, Israel, Panama, Costa Rica, Belize,
Ecuador, Brazil, Honduras, France và Jamaica (Vega- Villasante & Puente,
1995). Ấu trùng tôm P. stylirostris thường lây nhiễm IHHNV từ nguồn tôm bố
mẹ, tuy nhiên virus không gây ảnh hưởng ngay trong vài tuần đầu, nó chỉ gây
chết khi ấu trùng tôm đạt trọng lượng 0,05 – 0,1g (Lightner et al., 1983). Bệnh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6
được sử dụng để chẩn đoán bệnh bằng phương pháp mô bệnh học (Lightner et
al.,1983; Bell & Lightner, 1984). So sánh trình tự nucleotit của IHHNV gây
bệnh trên tôm P. vannamei Mỹ và P. stylirostris, Bonami et al (1990), Shike et
al (2000) cho biết sự giống nhau đó là 99,5%. Jimenez et al (1999) đã phát
triển phương pháp lai tại chỗ để chẩn đoán bệnh IHHNV, phương pháp này
nhạy và mang tính đặc hiệu cao nhưng cần thời gian dài để hoàn thành (2- 3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7
ngày). Nghiên cứu sâu hơn ở mức độ phân tử, dòng IHHNV trên tôm M.
rosenbergii có trình tự nucleotit tương đồng với IHHNV trên tôm P. monodon
ở Đài Loan là 99,7% (Hsieh et al., 2003). IHHNV có thể gây ra tỷ lệ chết cao
ở tôm post Macrobrachium rosenbergii cũng như P. stylirostris nhưng cơ
quan đích khác nhau (Hsieh et al., 2006).
Hiện nay đã sản xuất được kháng thể đơn dòng của IHHNV. Bên cạnh đó, Dot
blot, lai western, hoá mô miễn dịch là những phương pháp chuẩn để đánh giá
sự tiện dụng của loại kháng thể này. Kháng thể có thể phát hiện IHHNV với
độ nhạy 0,1- 0,5x 10
-3
µg/µl protein GP3. Đồng thời cũng thể hiện băng đậm
khi phát hiện vi khuẩn Ecoli chứa protein tái tổ hợp GP3- pETI 5b ở vị trí 37
kda với độ pha loãng 1: 1000. Mặt khác, kháng thể với nồng độ 1: 10 cũng cho
phản ứng đặc hiệu khi bao xung quanh các thể vùi IHHNV ở nhiều bộ phận
của tôm bị nhiễm bệnh như: mang, dây thần kinh, cơ, tế bào biểu bì (Bùi Thị
Bích Hằng & Timothy W. Flegel, 2007). Melena et al (2005) thực hiện cảm
nhiễm lần đầu cho ấu trùng và hậu ấu trùng tôm P. vannamei virus IHHN
hoặc WSSV đã được bất hoạt bằng formalin. Kết quả sau quá trình gây cảm
nhiễm và kiểm chứng kết luận: tiền cảm nhiễm IHHNV cũng như WSSV bất
hoạt đều có tác dụng làm chậm khả năng sao chép của WSSV, giảm tỷ lệ tôm
chết. Qua đó cho thấy vai trò bảo vệ của IHHNV như một virus ức chế quá
o
C giúp cho ADN
polymerase hoạt động tổng hợp tốt nhất. Lúc này các đoạn mồi đã bắt cặp
ADN khuôn mẫu sẽ được kéo dài. Thời gian của bước này tuỳ thuộc độ dài
của trình tự ADN cần khuếch đại, thường kéo dài từ 30 giây – 1 phút.
Mỗi chu kỳ trên sẽ được lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần lặp lại làm tăng gấp
đôi mẫu của lần trước. Đây là sự lặp lại theo cấp số nhân, tối đa là 40 chu kỳ
với khoảng 10
6
bản sao.
Sau phản ứng PCR các ADN được nhuộm bởi ethidium bromide và có thể
quan sát thấy thông qua việc điện di sản phẩm PCR trên gel agarose và đọc kết
quả dưới bàn đọc UV.
2.3.2 Phương pháp mô học:
Các định nghĩa về mô bệnh học:
Mô học là môn khoa học nghiên cứu các tổn thương ở các mô và tế bào. Nghĩa
là mô tả đầy đủ mọi chi tiết của tổn thương đó ở mức độ vi thể. Mô bệnh học
không chỉ mô tả tổn thương mà còn là công việc so sánh, đối chiếu các tổn
thương đó với những biểu hiện lâm sàng của cá, tôm, nhuyễn thể, nghĩa là tìm
hiểu mối quan hệ mật thiết giữa biến đổi hình thái và các rối loạn chức năng,
trên cơ sở đó xác định việc chẩn đoán (Lightner and Bell, 1988 trích dẫn từ
Phạm Trần Nguyên Thảo, 2003).
Mô học được nghiên cứu bắt đầu từ khi chiết kính hiển vi đầu tiên được chế
tạo bởi Antoni Van Leuwenhock người Hà Lan, đến cuối thế kỷ XVIII Robert
Hooke đã xác định tế bào là đơn vị cấu tạo cơ thể sinh vật. Ông đã nghiên cứu
rất nhiều về mô và có viết một tài liệu ngắn về mô bệnh học nói về đặc điểm
của những tế bào chết (sự hoá lỏng, hoá rắn và sự biến đổi hình dạng nhân của
tế bào chết), phản ứng sinh lý của cơ thể khi bị nhiễm bệnh và phương pháp
kỹ thuật để làm tiêu bản mô bệnh học.
Mô học có thể được định nghĩa như một hệ thống các tế bào và chất gian bào
nêu ra phương pháp phòng trị. Cùng năm này, Phạm Trần Nguyên Thảo, 2003
đã ứng dụng kỹ thuật mô học trong chẩn đoán bệnh đốm trắng ở tôm sú. Qua
đó, tác giả đã mô tả hầu hết đặc điểm các cơ quan trên tôm bình thường và tôm
bệnh.
Cho đến nay, mô bệnh học vẫn luôn đựơc ứng dụng trong nhiều trường hợp để
chẩn đoán tác nhân gây bệnh trên cá, tôm, nhuyễn thể nói chung.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm:
Phòng thí nghiệm bệnh học thuỷ sản, khoa thuỷ sản, trường Đại Học Cần Thơ.
Thời gian:
Tháng 01/ 2008 đến tháng 05/ 2008.
3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
Vật liệu nghiên cứu:
Mẫu tôm sú giống được thu từ những hộ dân đem mẫu đến phòng thí nghiệm
để xét nghiệm bệnh.
Phương pháp nghiên cứu:
3.2.1 Chẩn đoán bệnh IHHNV bằng kỹ thuật PCR theo bộ kit IQ
2000
TM
Dụng cụ và hoá chất:
Máy PCR Máy chụp hình gel
Bộ micropippet Cân
Các thao tác thực hiện phản ứng
Việc chuẩn bị hỗn hợp cho phản ứng PCR được thực hiện dựa theo số lượng
mẫu cần phân tích. Mỗi lần chuẩn bị cần tính thêm đối chứng dương và một
mẫu đối chứng âm.
Cho 13µl hỗn hợp trên vào típ nhựa 0.2ml đã được làm dấu.
Thêm 2µl ADN mẫu hoặc mẫu chuẩn vào mỗi phản ứng.
Thực hiện PCR theo điều kiện phản ứng sau:
94
o
C trong 20 giây
70
o
Ctrong 20 giây
Lặp lại chu kỳ trên 10 lần
94
o
C trong 20 giây
56
o
C trong 20 giây
72
o
C trong 30 giây
Lặp lại chu kỳ trên 35 lần
72
o
C trong 30 giây
20
o
C trong 30 giây
Hình 3.1: Kết quả điện di sản phẩm PCR (Nguồn Interligene Farming)
Cột 1: mẫu chuẩn một, 20000 bản sao/ phản ứng.
Cột 2: mẫu chuẩn một, 2000 bản sao/ phản ứng
Cột 3: mẫu chuẩn một, 200 bản sao/ phản ứng
Cột 4: nước cất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
13
Cột 5: mẫu nhiễm IHHNV nặng.
Cột 6: mẫu nhiễm IHHNV trung bình
Cột 7: mẫu nhiễm IHHNV nhẹ.
Cột 8: mẫu không nhiễm IHHNV.
Cột M: trọng lượng phân tử được đánh dấu 848, 630, 333bp.
3.2.2 Kỹ thuật mô học: (phương pháp của Lightner, 1996)
Dụng cụ và hoá chất:
Dụng cụ: bộ tiểu phẩu, kính hiển vi, máy cắt lát, lame, lamelle, khuôn đúc,
khai nhuộm, máy ảnh, …
Hoá chất: dung dịch cố định Davidson’s, nước cất, cồn tuyệt đối, xylen,
parafin, thuốc nhuộm Hematoxylin & Eosin, keo Canada palsam, …
Phương pháp làm tiêu bản mô học
Cho tôm post trực tiếp vào dung dịch cố định Davidson’s trong vòng 12 đến
24 giờ, sau đó mẫu được chuyển sang giữ ở cồn 70
o
.
Xử lý mẫu
Qui trình xử lý mẫu mô tôm (Coolidge và Howard, 1997) được cài đặt trong
máy xử lý mô theo các bước:
STT Hoá chất sử dụng Thời gian (phút)
1 Cồn 80
14
Sau quá trình xử lý, chuyển khuôn nhựa chứa mẫu sang vị trí số 2 của máy đúc
khối. Để khối mô trong parafin khoảng 30 phút, sau đó tiến hành đúc khối.
Mẫu mô sẽ được đặt trong một khung cố định bằng inox và tiến hành đúc khối
bằng parafin nóng chảy ở 65
o
C. Định hướng mẫu mô cho đúng, cẩn thận cho
paraffin nóng chảy vào khuôn. Để đảm bảo mẫu được giữ đúng vị trí cho
khuôn đúc qua khu vực làm lạnh nhanh để cố định vị trí ở trong khuôn. Đặt
khuôn nhựa xử lý có kí hiệu lên trên, cho thêm ít parafin để cố định khuôn
nhựa. Tiếp theo đặt khuôn mẫu qua ngăn làm lạnh nhanh để parafin rắn lại,
sau đó tách khối parafin có chứa mẫu ra khỏi khuôn.
Cắt lát mẫu mô
Chuẩn bị máy cắt
Đặt dao vào máy cắt vặn ốc thật chặt. Độ lệch của lưỡi dao với mặt cắt của
khối mẫu tạo thành một góc khoảng 15- 30
o
.
Cắt mẫu
Trước khi tiến hành cắt mẫu, phải điều chỉnh độ dày của lát cắt. Có thể bắt đầu
bằng những lát cắt 10- 12µm. Sau khi khối mẫu đạt đến vị trí mong muốn điều
chỉnh độ dày của lát cắt khoảng 4µm và tiến hành cắt lát mẫu.
Dán lát cắt vào phiến kính
Chuẩn bị một chậu nước ấm 40 – 50
o
C lát cắt sẽ được thả nổi và thẳng ra
trong nước ấm, nhúng phiến kính vào ngay bên dưới lát cắt. Cẩn thận đính một
đầu lát cắt vào phiến kính, điều chỉnh lát cắt đúng hướng, từ từ rút phiến kính
ra khỏi nước, lát cắt sẽ được dán chặt vào phiến kính.
Sau khi dán lát cắt, tiến hành làm khô tiêu bản trong khoảng 12 giờ trong tủ
5
14 Cồn 100
o
5
15 Cồn 100
o
5
16 Xylen 5
17 Xylen 5
Dán tiêu bản:
Sử dụng keo Canada để dán tiêu bản vĩnh viễn. Nhỏ một giọt keo lên trên lam
có chứa mẫu, dán lamelle lên trên ngay vùng có miếng mô. Thao tác này cần
làm nhanh để tránh sự xâm nhập của hơi nước trong không khí vào miếng mô.
Đọc kết quả:
Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại 40X - 100X. Hình
được chụp ở vật kính 100X khi thấy xuất hiện dấu hiệu bệnh ở những cơ quan
của tôm.
Hình 4.1: Lớp biểu mô dưới vỏ tôm nhiễm IHHNV, mũi tên chỉ thể vùi IHHNV (E100).
1 2 3 4 5 6
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
17
Trong nghiên cứu của mình về IHHNV trên tôm lai P. esculentus x
P.monodon ở Úc thì Owens & ctv (1992) cũng đã tìm thấy thể vùi Cowdry
loại A ở lớp biểu mô dưới vỏ. Thể vùi ưa eosin làm nhân phình to, nằm ở
trung tâm nhân. Ngoài ra ông còn tìm thấy thể vùi ở những cơ quan: mang, lớp
biểu mô dưới vỏ, tuyến râu, tuyến sinh dục, tim, tổ chức limpho, mô tạo máu,
hệ thần kinh, cơ.
4.2.2 Những biến đổi mô học ở mang tôm sú nhiễm IHHNV.
Cơ quan hô hấp của tôm sú là mang nằm ở gốc các đôi phần phụ của phần đầu
ngực, từ đôi chân hàm số 1 đến số 5. Mang được cấu tạo bởi các sợi mang
hình lông chim. Các sợi mang có khung kitin nâng đỡ, mặt trong của sợi mang
được bao bọc bởi tế bào biểu mô lát đơn, phía dưới có nhiều mạch máu phân
bố. Trục chính của mang gắn liền với vách của phần đầu xuyên qua cấu trúc
dạng ống. Những nhánh mang xuất phát từ trục chính gọi là sợi mang sơ cấp.
Từ sợi mang sơ cấp phân chia thành sợi mang thứ cấp (Phạm Trần Nguyên
Thảo, 2003).
Theo kết quả mô bệnh của 15 tôm nhiễm IHHNV, quan sát thấy thể vùi
Cowdry loại A trong tế bào biểu mô mang làm nhân tế bào phì đại, thể vùi ưa
eosin nằm ở trung tâm nhân, tách rời mép rìa nhiễm sắc thể bởi một vòng sáng
không bắt màu. Mang không còn giữ được cấu trúc bình thường nữa, một số
sợi mang sơ cấp tách rời trục chính.
tế bào chất với lưới nội chất có màu xanh nhạt hay tím.
Qua kết quả quan sát thì mô liên kết gan tuỵ tôm sú khi nhiễm IHHNV cũng
xuất hiện thể vùi Cowdry loại A. Thể vùi này không tìm thấy trên tế bào gan
tuỵ cũng như tổ chức limpho. Đồng thời, ở mô liên kết này còn có hiện tượng
hoại tử làm mất liên kết giữa các ống tiểu quản gan tuỵ tạo nhiều khoảng trống
giữa các ống này.
Hình 4.3: Thể vùi Cowdry loại A trên mô liên kết gan tuỵ và sự hoại tử với nhiều khoảng
trống. Mũi tên chỉ thể vùi Cowdry loại A (E100).
Trong một số nghiên cứu trước đây trên tôm P. stylirostris và tôm thẻ chân
trắng (P.vannamei) của Timenez, 1999 cũng cho biết rằng thể vùi IHHNV
thường xuất hiện ở mô liên kết gan tuỵ. Tuy nhiên, Hsieh et al (2006) khi