Đặt vấn đề
Ngày nay bệnh tim mạch(BTM) là nguyên nhân chính gây nên gánh
nặng bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới. BTM sẽ trở thành nguyên nhân
hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới vào năm 2020. [36]
Hiện nay, tỉ lệ mắc và tử vong do BTM trên toàn thế giới lần lượt là
10,3% và 30.9% [44]. Khoảng 200 triệu người trên toàn thế giới có biểu hiện
lâm sàng của các bệnh mạch vành, đột quị, các bệnh khác do tắc mạch và Đái
tháo đường. Bệnh tim và Đột quỵ là căn nguyên gây tử vong cho 17 triệu
người mỗi năm, trong khi đó số người tử vong hàng năm do đại dịch
HIV/AIDS là 3 triệu người. 80% số bệnh nhân tử vong do BTM là ở các nước
có thu nhập thấp và trung bình. Ở các nước phát triển, số người tử vong do
căn nguyên tim mạch chiếm 3/4 số người tử vong do các bệnh không lây
nhiễm và là căn nguyên của 10% số tàn tật. BTM cũng là căn nguyên cơ bản
của bệnh tật và tử vong ở các nước công nghiệp hoá [51].
Ngoài việc ảnh hưởng tới sức khỏe, tàn tật và tử vong, BTM còn là một
gánh nặng đối với nền kinh tế, xã hội. Theo thống kê của trung tâm kiểm soát
bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), năm 2005 chi phí tiêu tốn cho BTM khoảng 394 tỷ
USD, trong đó 242 tỷ USD dành cho chăm sóc y tế và 152 tỷ USD do mất
khả năng lao động vì tàn tật hoặc tử vong [42]. Trong báo cáo A race again
time: The challenger of cardiovascular disease in developing economies, Viện
nghiên cứu về Trái đất thuộc Đại học Columbia đã chỉ ra tỉ lệ tử vong do
BTM ở những người thuộc lứa tuổi lao động ở các nước như Ên Độ, Nam Phi,
và Brazil gấp từ 1.5 đến 2 lần tỉ lệ tử vong cùng lứa tuổi ở Hoa Kỳ. Ở Nam
phi, 41% số trường hợp tử vong do bệnh tim mạch nằm trong độ tuổi từ 35-
64.
1
Ở Việt Nam, theo thống kê của bộ y tế năm 2005, tỉ lệ mắc và tử vong
của các bệnh thuộc hệ tuần hoàn lần lượt là 6.77% và 20.68% trong khi đó tỉ
lệ mắc và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật lần lượt là 11.96%
và 16.03% [3].
Trong nghiên cứu về dịch tễ học bệnh tim mạch ở nông thôn Việt Nam,
Các nghiên cứu chỉ ra tằng MHBT ở các nước phát triển có sự khác
biệt rõ rệt với các nước đang phát triển [25], [26], [46], [50]. Ở các nước đang
phát triển, bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng vẫn còn phổ biến, tuy nhiên các
bệnh này có xu hướng ngày càng giảm. Các bệnh không lây như BTM, ung
thư, di tật bẩm sinh, di truyền, chuyển hóa, béo phì…ngày càng gia tăng và
đặc biệt cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, các tai nạn, ngộ độc, chấn
thương có xu hướng tăng nhanh rõ rệt.
3
Vào đầu thế kỷ XX tỉ lệ tử vong do BTM trên toàn thế giới là dưới
10%, nhưng vào năm 2001 tỉ lệ này đã là 30%. Murray, C. J., and A. D.
Lopez 1996 [40] đã dự đoán rằng BTM sẽ là căn nguyên gây tàn tật và tử
vong hàng đầu vào năm 2020 vì BTM ngày càng gia tăng ở các nước có thu
nhập thấp và trung bình. Năm 2001 BTM đã là căn nguyên gây tử vong hàng
đầu ở các nước đang phát triển, giống như điều đã xảy ra đối với các nước
phát triển vào hồi giữa thế kỷ XX [37], [45]. 50% sè ca tử vong ở các nước có
thu nhập cao và khoảng 28% sè ca tử vong ở các nước có thu nhập thấp và
trung bình là do BTM [22],[33].
Các nguyên nhân gây tử vong khác như tai nạn, nhiễm khuẩn hô hấp,
suy dinh dưỡng và HIV/AIDS chung lại vẫn chiếm tỉ lệ lớn ở những khu vực
nhất định, nhưng hiện nay tử vong do BTM vẫn là căn nguyên đáng kể.
Trong các BTM thì BTTMCB, Đét quỵ và Suy tim sung huyết chiếm
Ýt nhất 80% ở kể cả ở các nước giàu và cũng như ở các nước nghèo. Bệnh
tim do thấp chiếm 3% số năm sống mất đi có điều chỉnh theo mức độ tàn
tật. (Disability Adjusted Life Years). Sự gánh nặng của bệnh tim do thấp
dường như sẽ giảm dần nhưng vẫn là một vấn đề nghiêm trọng ở những nước
đang phát triển.
Ở các nước đang phát triển BTTMCB là căn nguyên tử vong lớn nhất
và cũng là nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật. Hai biểu hiện lâm sàng
chính của BTTMCB là cơn đau thắt ngực và NMCT cấp. Năm 2001
BTTMCB là căn nguyên gây tử vong cho 7,3 triệu người và 58 triệu số năm
nguyên chủ yếu gây Suy tim. Ở bệnh nhân có THA nguy cơ Suy tim tăng gấp
2 lần đối với nam và tăng gấp 3 lần đối với nữ so với người bình thường. Ở
bệnh nhân bị NMCT cấp thì nguy cơ Suy tim tăng gấp 5 lần so với người bình
thường. Tiên lượng của các bệnh nhân Suy tim là tồi hơn so với hầu hết các
5
bệnh ác tính hoặc AIDS với tỉ lệ tử vong hàng năm lên tới 40% và tỉ lệ tử
vong sau 5 năm dao động từ 26% tới 75% [34].
Sự gánh nặng của BTM trên toàn thế giới là rất lớn và ngày càng gia
tăng. Mặc dù ở các nước phát triển tỉ lệ hiện mắc là 2-3%, với tỉ lệ mới mắc là
0.1-0.2% [34]. Tuy nhiên tỉ lệ mới mắc và tỉ lệ hiện mắc tăng theo tuổi, ở
người trên 65 tuổi tỉ lệ hiện mắc là 27/1000 dân so với 0.7/1000 dân ở người
dưới 50 tuổi [24]. Suy tim sung huyết thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, tỉ lệ
mắc và tử vong phụ thuộc vào giới và tình trạng kinh tế xã hội. Hàng năm ở
Hoa Kỳ Suy tim sung huyết là căn nguyên gây tử vong cho 53000 trường hợp
và góp phần gây tử vong cho 213000 trường hợp, từ năm 1979-2001 tử vong
mà do căn nguyên tim mạch góp phần tăng 155% [28].
Bệnh tim do thấp là hậu quả của sốt thấp khớp cấp tính. Đó là sự kém
đáp ứng miễn dịch với liên cầu β tan máu nhóm A. Nó ảnh hưởng tới mô liên
kết, chủ yếu là khớp và van tim. Những biến chứng nguy hiểm nhất là hẹp
van, hở van hoặc vừa hẹp vừa hở van sau quá trình viêm của van tim [10].
Bệnh tim do thấp là yếu tố thuận lợi cho VNTMNK, một bệnh thường gặp ở
nam giới và người trẻ tuổi [24]. Năm 2001, trên toàn thế giới ước tính có
338000 trường hợp tử vong do bệnh tim do thấp. Trong đó 2/3 ở khu vực
Đông Nam Á và phía Tây Thái Bình Dương. Khoảng 12 triệu người ở các
nước đang phát triển, chủ yếu là trẻ em mắc bệnh tim do thấp [48].
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ hiện mắc bệnh tim do thấp ở trẻ em là
0.7-14/1000 dân, với tỉ lệ cao nhất thuộc về châu Á []. Ở các nước đang phát
triển bệnh tim do thấp và sốt thấp khớp cấp là nguyên nhân phổ biến nhất gây
bệnh tim ở trẻ em [24], [28], [35]. Và chiếm tới 10% trường hợp đột tử do tim
[21].
năm 1995 đến 2005 có 3803 ca chụp động mạch vành, trong đó có 1835 ca
được can thiệp [2].
THA là một bệnh rất phổ biến trên khắp thế giới. ở nước ta, sau một
cuộc điều tra nhiều vùng trong toàn quốc năm 1992, GS. Trần Đỗ Trinh cho
biết: khoảng 4,6 triệu người bị THA trong tổng số dân nước ta là 64,6 triệu.
Điều dáng cho ta lao ngại là con số đó năm 1960 chỉ khoảng 1%. Nói cách
khác, trong 30 năm vừa qua số người THA đã tăng gấp 12 lần, từ 1% lên đến
12% ở người lớn.
Hiện tại, tần suất bệnh (THA) ở người trưởng thành tại các tỉnh miền
Bắc Việt nam chiếm tỷ lệ 16,3%, trong số đó THA mức độ nhẹ chiếm 62,6 %,
số bệnh nhân THA được điều trị chỉ chiếm có 11,5% và được điều trị tốt chỉ
đạt con sè 2,2%. [16]
Gần đây nhất một cuộc điều tra do Viện Tim mạch học Việt Nam và Sở
Y tế Hà Nội cùng làm năm 1999 cho thấy tỷ lệ THA trong khu vực Hà Nội là
16% ở tuổi trưởng thành, từ 16 tuổi trở lên.
Tỷ lệ THA khác nhiều theo lứa tuổi. ở lứa tuổi 25 đến 34, tỷ lệ này là
6,68% nhưng nếu xem lứa tuổi già hơn từ 65 đến 74 tuổi, tỷ lệ THA là 47%,
nghĩa là cứ 2 người lại có 1 người THA.
Ở các nước tỷ lệ THA cũng vào khoảng 15% đến 25% ở người lớn.
Trong các biến chứng của THA, suy tim là một biến chứng quan trọng,
chỉ đứng sau tai biến mạch máu não (chảy máu não, nhồi máu não) [32].
Trong một nghiên cứu gần đây tại Viện Tim mạch Việt Nam, Tô Thanh
Lịch đã chỉ ra rằng, trong những năm gần đây, số bệnh nhân mắc BCT nói
chung trong đó có 1 phần là VCT chiếm 3% (đứng hàng thứ 3 trong các bệnh
lý tim mạch) từ năm 1984-1989.
8
Trong thời gian từ tháng 5/1999 đến tháng 4/2001 có 30 bệnh nhân
được chẩn đoán VCT cấp tại viện Tim mạch Việt Nam, chiếm tỷ lệ 0.38%
tổng số bệnh nhân nhập viện trong cùng thời gian đó.
Trong sè 30 bệnh nhân nghiên cứu có 10 bệnh nhân tử vong, chiếm tỷ
cận lâm sàng hỗ trợ. Kết quả điều tra bằng khám lâm sàng thường cho tỉ lệ
mắc bệnh cao hơn phỏng vấn.
1.3.1.3 Dựa trên số liệu có sẵn.
Có thể thu thập thông tin dựa trên sổ lưu của trạm y tế xã, cộng tác viên
y tế. Những số liệu này thường không đầy đủ và thiếu chính xác trong hoàn
cảnh các nước đang phát triển chưa có hệ thống lưu trữ và ghi chép chuẩn
xác.
1.3.2. Nghiên cứu MHBT trong bệnh viện.
Nghiên cứu MHBT trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hồ sơ lưu trữ tại
các bệnh viện theo bệnh án thống nhất toàn ngành y tế.
Các kết quả thống kê thường là hồi cứu, phụ thuộc vào bệnh sử của
bệnh nhân khi ra viện, phụ thuộc vào người làm công tác thống kê ghi chép,
sắp xếp mã số, do đó có thể có một số khác biệt về chất lượng giữa các bệnh
án và cách phân loại bệnh tật giữa các bệnh viện trung ương và địa phương.
Do điều kiện hạn hẹp về cơ sở vật chất, các bệnh viện chỉ tiếp nhận một
lượng bệnh nhân giới hạn, nhiều bệnh nhân chỉ điều trị nội trú nên MHBT tại
bệnh viện không phản ánh hết thực chất tình hình sức khoẻ của nhân dân. Sự
10
phát triển của xã hội và thay đổi trong cơ cấu quản lý của nhà nước mà ngày
càng có nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư, nhiều dược sỹ, dược tá tham gia
điều trị tại quầy thuốc của mình và nhiều trường hợp ốm khác tự điều trị tại
nhà, tự mua thuốc về điều trị, các trường hợp này thường không được các cơ
sở y tế nhà nước thống kê. Vì vậy các số liệu báo cáo của các cơ sở y tế nhà
nước thống kê chỉ có thể phản ánh được một phần tình hình bệnh tật thực tế.
1.3.3. Nghiên cứu MHBT theo gánh nặng bệnh tật tại cộng đồng.
Trong những năm đâu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX, WHO và ngân
hàng thế giói đã đề xuất các phép đo lường mới quan tâm tới đánh giá gánh
nặng bệnh tật của cộng đồng. Hiện nay đang còn trong quá trình hoàn thiện,
nhưng đã áp dụng ở một só nước phát triển, có hệ thống quản lý sức khỏe và
bệnh tật tốt, gánh nặng bệnh tật đo lường chỉ số Daly
chưa quản lý được sức khoẻ toàn dân nên không thể tính số mới mắc được.
Đánh giá vai trò của bệnh tật với chất lượng cuộc sống, các nhà nghiên
cứu còn đưa ra các chỉ số: Số năm sống bị ốm nặng, ốm vừa, ốm nhẹ và sống
khỏe mạnh để đánh giá ảnh hưởng của bệnh tật đến chất lượng cuộc sống.
1.4. Phân loại bệnh tật.
1.4.1. Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật.
Theo cách phân loại này bệnh tật được chia thành 3 nhóm chính [3]:
Bệnh lây, suy dinh dưỡng, thai sản
Bệnh không lây
Tai nạn, ngộ độc, chấn thương
Cách phân loại này cho ta cái nhìn bao quát,tổng thể MHBT của mỗi
quốc gia, mỗi vùng miền địa lý, nã mang tính chất xác định xu hướng phát
triển của bệnh tật. Nhìn vào MHBT này chúng ta sơ bộ đánh giá được sự phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền.
12
Cách phân loại này số liệu đơn giản, tương đối chính xác do số liệu đủ
lớn. Nó rất thích hợp cho sù so sánh giữa các quốc gia, các vùng miền, cũng
như có cái nhìn bao quát về MHBT của một đất nước, vùng miền đó. Nó có
tính chất dự báo xu hướng thay đổi MHBT trong tương lai và giúp chúng ta
có cái nhìn tổng thể để hoặch định chính sách ở tầm vĩ mô.
1.4.2. Phân loại bệnh tật theo tỉ lệ chết và mắc cao nhất.[3]
Đặc điểm cơ bản của cách phân loại này là đưa ra tên bệnh và nhóm
bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, có thể phân chia theo từng lứa tuổi tuỳ thuộc vào
tác giả và yêu cầu nghiên cứu.
Cách phân loại này đưa ra thứ tự các bệnh thường gặp cũng như mức
độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong, tử đó
có chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ
lệ tử vong của bệnh đó.
Đây là phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng nhất ở nơi có mật
độ dân số thấp, số lượng khám chữa bệnh không đủ lớn để phân loại chi tiết,
Phân loại ICD-10 giúp các nhà quản lý sẵn sàng so sánh, đánh giá
MHBT giữa các quốc gia, các vùng miền, các bệnh viện từ đó đưa ra các đầu
tư đúng đắn cũng như chương trình hành động thiết thực nhằm cải thiện tình
trạng bệnh lý cụ thể nhất là khi kinh phí cho ngành y tế còn eo hẹp, chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn.
Đây là cách phân loại khá chi tiết đòi hỏi người làm công tác thống kê
phải có trình độ nhất định để tránh nhầm lẫn, cũng như đòi hỏi các bác sỹ lâm
sàng cần phải có chẩn đoán chính xác và chi tiết. Điều này có thể làm được
14
bằng cách nâng cao trình độ chuyên môn cho bác sỹ lâm sàng và tập huấn tốt
cho những người trực tiếp mã hoá bệnh.
Phân loại quốc tế về bệnh tât và các vấn đề liên quan đên sức khỏe (ICD)
Lịch sử phát triển của phân loại bệnh tật [15]. Thời kỳ cổ đại, Arétee đã
đưa ra cách phân loại bệnh tật dựa vào thời gian kéo dài của bệnh (cấp tính
hay mạn tính), diện lan rộng (bệnh địa phương hay toàn cầu), vị trí của bệnh
(nội khoa hay ngoại khoa). Vào thế kỷ X, Albert le Grond (Đức) đưa ra cách
phân loại theo độ tương hợp giống nhau tương tự.
Francois Bosier De Lacroi (1706-1777), người đầu tiên nỗ lực phân
loại bệnh tật một cách có hệ thống thông qua một chuyên đề có tên là
Nosologia Me Thodica, đưa ra cách phân loại thành mười bệnh. Charles
Linné (1739) chia thành 11 loại.
Đầu thế kỷ XIX, phân loại được dùng nhiều nhất là phân loại của
Welliam Cullen(1710-1790) ở Edinburg, được công bố năm 1789 dưới tiêu
đề: Synopsis Nosolgia Me Tho Docae.
John Graunt là người đầu tiên thống kê về bệnh, với các dự luật
London về tử vong. Từ năm 1937 William Farr (1870-1883) đã nỗ lực để có
được bảng phân loại bệnh tật tốt hơn từ bảng phân loại của Cullen và sử dụng
chúng đồng nhât trên quốc tế. 1885 Farr trình bày nguyên nhân tử vong tại hộ
nghị thống kê quốc tế tại Paris. Bảng phân loại gồm năm nhóm: Bệnh dịch
bệnh nói chung, bệnh đia phương (được bố trí theo vị trí cụ thể), bệnh tiến
16
Lần hiệu đính thứ 7 (1955) và thứ 8 (1965) về cơ bản không thay đổi
cấu trúc cơ bản của bảng phân loại và triết lý chung vê phân loại bệnh tật theo
nguyên nhân bệnh chứ không phảI theo biểu hiện đặc biệt. Lần hiệu đính thứ
9 (1975) giữ laị cấu trúc cơ bản của ICD, có thêm chi tiết ở cấp tiểu loại 4 chữ
số. Một cảI tiến của ICD-9 là dựa vào hệ thống dấu chú thích (†) và dấu (*)
và giữ cho tới ICD-10, lần hiệu đính gần đây năm 1990.
Trong quá trình phát triển, phân loại này đã được đổi tên vài lần và
ngày nay được gọi tên chính thức là : Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn
đề sức khỏe liên quan (gọi tắt là ICD).
Giới thiệu sơ lược về ICD-10
Cấu trúc của ICD-10
ICD-10 được chia thành 21 chưong:
Chương I : Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật
Chương II : Khối u
Chương III : Bệnh máu, cơ quan tạo máu, cơ chế miễn dịch
Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hoá
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI : Bệnh của hệ thần kinh
Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII : Bệnh về tai và xương chũm
Chương IX : Bệnh của hệ tuần hoàn
Chương X : Bệnh hô hấp
Chương XI : Bệnh hệ tiêu hoá
Chương XII : Bệnh da và tổ chức dưới da
Chương XIII : Bệnh lý cơ xương và mô liên kết
17
Chương XIV : Bệnh hệ tiết niệu sinh dục
Chương XV : Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI : Bệnh trong thời kỳ chu sinh
Ngày vào viện Biến rời rạc Như trên
Ngày ra viện Biến rời rạc Như trên
Chẩn đoán bệnh theo ICD 10 Biến danh mục Như trên
Kết quả điều trị Biến danh mục Như trên
Tuổi bệnh nhân bằng năm hiện tại bệnh nhân vào viện trừ đi năm sinh
của bệnh nhân.
Địa chỉ bệnh nhân chỉ lấy tên tỉnh, thành phố.
Tháng bệnh nhân nằm viện là tháng mà bệnh nhân bắt đầu vào viện.
Chẩn đoán của bệnh nhân là chẩn đoán khi ra viện. Một bệnh nhân có
nhiều bệnh thì chẩn đoán các bệnh của bệnh nhân được xếp ngang hàng nhau.
Ví dụ: một bệnh nhân được chẩn đoán: Hẹp hai la- Rung nhĩ- Suy tim thì 3
bênh Hẹp hai lá, Rung nhĩ, Suy tim được xếp ngang hàng nhau, không có
chẩn đoán nào là ưu tiên hơn chuẩn đoán nào.
2.3.5. Sai số và khống chế sai sè
Do thất lạc bệnh án trong quá trình lưu trữ hồ sơ bệnh án.
Do vào mã ICD-10 không chính xác. Cách khắc phục đối chiếu so sánh
với chẩn đoán lóc ra viện.
2.3.6. Xử lý số liệu:
20
- Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm thống kê Excel.
- Tính tần suất, tỷ lệ % và giá trị trung bình.
2.3.7. Thời gian nghiên cứu:
Tiến hành thực hiện nghiên cứu từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 10
năm 2008.
2.3.8. Khía cạnh đạo đức của đề tài:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với cam kết đảm bảo tính trung thực,
phù hợp và chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng không
nhằm mục đích gì khác.
- Nghiên cứu được phép sử dung các số liệu thống kê của bệnh viên
Bạch Mai.
Bệnh tim do thấp 2587 2872 2752 2772 2918 13901
Bệnh tĩnh mạch 109 129 141 165 172 716
BMN 451 274 310 518 534 2087
BTTMCB 789 1164 1638 2076 2601 8268
RLN 1762 1264 1427 2391 2279 9123
Suy tim 1416 1766 1900 1914 1962 8958
TBS 507 730 715 949 1041 3942
THA 1459 1575 1724 2193 2287 9238
VCT 315 331 329 377 365 1717
Bệnh MNT 236 279 294 315 253 1377
VNTMK 26 34 21 16 27 124
Nhận xét:
Số lượt bệnh nhân nhập viên do các bệnh tim do thấp luôn chiếm tỷ lệ
lớn nhất qua các năm. Tiếp đó là đến số lượt bệnh nhân nhập viện ở các nhóm
bệnh như BTTMCB, THA, Suy tim, RLN.
Tất cả các nhóm bệnh đều có xu hướng tăng dần qua các năm. Nhóm
bệnh có xu hướng tăng mạnh nhất là nhóm BTTMCB, tiếp đó là THA. Suy
tim và nhóm bệnh RLN.
Các nhóm bệnh nh VNTMNK, BệNH MNT, VCT, BCT, BMN, Bệnh
động mạch có tăng nhưng mức độ thay đổi không nhiều
24
Biểu đồ 3.3: Tình nhập viện trong 5 năm của từng nhóm bệnh
25