Tài liệu Đề tài : “GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG” - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Ngành Ngân Hàng

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài : “GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á – CHI
NHÁNH ĐÀ NẴNG”
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Mã số sinh viên :
Lớp :

Đà Nẵng, Tháng 4 năm 2013
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BIỂU BẢNG BIỂU ,ĐỒ THỊ 4
DANH MỤC VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm nguồn vốn
1.1.2. Ý nghĩa nguồn vốn 9
1.1.3. Phân loại nguồn vốn 9
1.1.3.1. Nguồn vốn tự có 10
1.2. Khái quát hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại 12
1.2.1. Khái niệm về huy động vốn của Ngân hàng thương mại 12
1.2.2. Các hình thức huy đông vốn 12
1.2.2.1. Nhận tiền gửi 13
1.2.2.2. Phát hành giấy tờ có giá 15

2.3.2.1 Hạn chế 47
2.3.2.2 Nguyên nhân 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NHTMCP ĐÔNG NAM Á – ĐÀ NẴNG 53
3.1. Định hướng phát triển tại NHTMCP Đông Nam Á – Đà Nẵng 53
3.1.1. Định hướng chung 53
3.1.2. Định hướng huy động vốn 55
3.2. Gải pháp tăng cường huy động vốn tại NHTMCP Đông Nam Á – Đà
Nẵng 56
3.2.1.Giải pháp chính 56
3.2.1.1. Tăng cường và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 56
3.2.1.2 Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý 58
3.2.1.3. Nâng cao cơ sở vật chất ,hoàn thiện công nghệ ngân hàng 59
3.2.2. Giải pháp hỗ trợ 60
3.2.2.1. Phát huy các chiến lược truyền thông của ngân hàng 60
3.2.2.2.Mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch 62
3.2.2.3. Thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên ngân
hàng 62
3.2.2.4. Gắn liền việc huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả 64
3.3. Một số kiến nghị nhằm tăng cường huy động vốn tại NHTMCP Đông Nam
Á – Đà Nẵng 65
3.3.1. Đối với các cơ quan quản lý Nhà Nước 65
3.3.2. Kiến nghị đối với NHTMCP Đông Nam Á 68
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
DANH MỤC BIỂU BẢNG BIỂU ,ĐỒ THỊ
Trang
Biểu Đồ:
Biểu đồ 1 : Tốc độ tăng trưởng vốn huy động từ năm 2010-2012
28

NVTD : Nhân viên tín dụng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Nước ta đang trên đà phát triển . Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã và đang
từng bước tiến sâu vào hầu hết các ngành nghề,lĩnh vực kinh doanh của đất nước. Song
song với các hoạt động đầu tư xây dựng và phát triển đất nước đang ngày càng mở rộng
hiện nay thì nhu cầu về một lượng vốn tương ứng để phục vụ cho hoạt động đó là không
nhỏ.Vì vậy việc hình thành các tổ chức Ngân hàng thương mại đã góp phần giải quyết vấn
đề về vốn cho nền kinh tế .Với chức năng là điều chỉnh sự luận chuyển vốn trong nền kinh
tế từ những nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn trong nền kinh tế .Ngân hàng đã trở thành
ngành quan trong trong sự phát triển kinh tế của đất nước , khẳng định vị trí và vai trò của
các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.Bên cạnh đó các Ngân hàng thương mại với
những nghiệp vụ không ngừng được cải tiến và mở rộng cho phù hợp,nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư.
Chính bởi đặc điểm chức năng của ngành là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ vì vậy
hoạt động của Ngân hàng gắn kết với hầu hết các hoạt động của nền kinh tế, các ngân
hàng thương mại trở thành kênh dẫn vốn có vai trò vô cùng quan trọng, việc huy động vốn
do đó cũng trở thành nhu cầu cấp thiết của cả nền kinh tế nói chung và các ngân hàng
thương mại nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn . Chính vì thế,muốn tồn tại và đứng vững
trong môi trường mới,các ngân hàng luôn luôn cần có nguồn vốn dồi dào. Khi đó huy
động vốn trở thành một biện pháp hữu hiệu cho các ngân hàng thương mại thực hiện các
chiến lược của mình.
Nền kinh tế nước ta hiện nay tuy đang phát triển ,nước ta đã tham gia vào các tổ
chức kinh tế thế giới ,nhưng trong vài năm gần đây do sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ khủng
hoảng kinh tế thế giới nên đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh kế của nước ta .Đồng tiền bị
mất giá nghiêm trọng, nhiều tâp đoàn hay các công ty lớn đang rơi vào cảnh khó khăn do
không có vốn để tiếp tục đầu tư ,các ngân hàng thương mại vì không thu hồi được vốn
buộc phải sát nhập với các ngân hàng khác .Qua đó thấy được sự khó khăn trọng nền kinh
tế nước ta .Nhận thấy được tầm quan trọng của các Ngân hàng thương mại cũng như
nguồn vốn của các Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế hiện nay, em xin chọn đề tài

mà ngân hàng huy động được ,sử dụng để cho vay và thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác của ngân hàng.”
Thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính
bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi. Họ chuyển tiền vào
ngân hàng với các mục đích lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm
dịch vụ khác của ngân hàng. Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến
hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn của ngân hàng chi phối
toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại.
1.1.2. Ý nghĩa nguồn vốn
- Đối với bản thân ngân hàng : Hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ vốn chính cơ sở để
hình thành nên các hoạt động của một ngân hàng.Nguồn vốn là yếu tố quyết định quy mô
hoạt động của ngân hàng ,là một trong những yếu tố quyết định đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của ngân hàng.
-Đối với khách hàng :.Nguồn vốn ngân hàng có ý nghĩa rất quan trong đối với các
doanh nghiệp trong hầu hết các hoạt động kinh doanh hiện nay. Nguồn vốn ngân hàng là
nguồn lực tài chính chủ yếu ,tài trợ vốn tín dụng cho nhu cầu vốn của các các nhân tổ
chức ,đặc biệt là nhu cầu vốn đầu tư kinh doanh , nó chiếm một phần lớn trong tổng nguồn
vốn của doanh nghiệp ,quyết đinh khả năng và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp .
Nguồn vốn của các NHTM còn tạo điều kiện thúc đẩy các nhu cầu, năng cao mức sống
của người dân ,đẩy mạnh sự phát triển về kinh tế, văn hóa- xã hôi
-Đối với nền kinh tế : Không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
thông qua các hoạt động đầu tư phát triển ,nguồn vốn của ngân hàng còn góp phần vào
việc thực hiện chính sách tiền tệ của nhà nước ,chống lạm phát và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn trong nền kinh tế thông qua chức năng huy động và cho vay.
1.1.3. Phân loại nguồn vốn.
NHTM cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển phải có vốn. Vốn
tác động đến kết cấu tài sản và khả năng sinh lời, hạn chế các loại rủi ro trong hoạt động
NHTM. Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản là vốn tự có (vốn chủ sở hữu) và vốn bổ sung
(vốn huy động từ bên ngoài).
1.1.3.1. Nguồn vốn tự có

gây ra tổn thất của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro do trích lập trích
lập trong chi phí .
+Quỹ dự phòng để xử lý rủi ro : được hình thành bằng cách trích lập dự phòng trên
từng nhóm tài sản có của ngân hàng bao gồm nhóm họt động cấp tín dụng,các dịch vụ
thanh toán đối với khách hàng ,và được tính vào chi phí cảu ngân hàng .
+ Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ:Quỹ này để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động
kinh doanh và đổi mới công nghệ ,trang thiết bị ,điều kiện làm việc của một tổ chức tín
dụng .Mức trích quỹ này bằng 50% lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng .
+Lợi nhuận không chia : phản ánh phần thu nhập ròng của ngân hàng có được hoạt
động kinh doanh,nhưng không chia trả lãi cho cổ động mà được ngân hàng giữ lại để tăng
thêm vốn.
1.1.3.2. Nguồn vốn bổ sung : bao gồm vốn huy động va nguồn vốn khác .
+ Vốn huy động : là tất cả các nguồn vốn của các chủ sở hữu khác nhau trong xã
hội được ngân hàng sử dụng vào ngân hàng để kinh doanh.tùy theo tính chất ,đối tượng
,thị trường huy động mà nguồn vốn này được chia thành : vốn tiền gửi ,vốn phát hành
giấy tờ có giá ,vốn vay .Nguồn vốn huy động là tài sản nợ ,là nguồn vốn chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của nagan hàng ,có tình chá không ổn định ,chi phí sử
dụng vốn cao .Việc quản lý sử dụng nguồn vốn này đòi hỏi ngân hàng phải có kế hoạch
chiến lược hết sức thận trọng
+ Vốn bổ sung khác ;bao gồm các nguồn vốn được hình thành trong quá trình
thanh toán ,nguồn vốn ủy thác ….Nguồn vốn này thường có tính chất bất ổn định và khó
kiểm soát ,và thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn bổ sung.
1.2. Khái quát hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm về huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng được hình thành từ các nghiệp vụ huy động vốn
của ngân hàng thương mại.Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được định nghĩa là :“Huy
động vốn là việc các ngân hàng thương mại sử dụng các phương thức khác nhau nhằm
thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để phụ vụ cho mục đích kinh doanh
của mình.”
Nghiệp vụ huy động vốn là một hoạt động đặc trưng của NHTM. Hoạt động huy

không kỳ hạn) và thu phí dịch vụ hoặc không trả lãi và không thu phí dịch vụ.Hiện nay để
thu hút khách cũng như huy động được nguồn vốn giá rẻ này ,các ngân hàng sẽ quy định
khách hàng sẽ không trả phí hoặc sẽ trả với một khoản lệ phí rất nhỏ nếu số tiền gửi trong
tài khoản cao hơn một mức nhất định và ngược lại .
-Tiền gửi có kỳ hạn : đây là dạng đầu tư tài chính của các tổ chức kinh tế cho ngân
hàng vay nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình trong một khoản thời gian xác định
.Thông thường ,ngân hàng sẽ định ra một kỳ hạn nhất định với nguyên tắc : kỳ hạn gửi
càng dài ,lãi suất càng cao.Mục đích khoản tiền này là an toàn và sinh lợi ,có kỳ hạn nên
tính ổn định cao ,chi phí huy động cao.
-Tiền gửi ký quỹ : Là những khoản tiền gửi vào ngân hàng với mục đích sử dụng
xác định trước (tiền gửi ký quỹ mở L/C ,bảo chi séc,chờ thanh toán …).với khoản tiền này
ngân hàng có thể sử dụng mà không phải trả chi phí ,nhưng tính ổn định của nó rất kém vì
khách hàng có thể sử dụng bất cứ lúc nào.
+ Nhận tiền gửi từ dân cư:
-Tiền gửi thanh toán :Ngân hàng thực hiện mở tài khoản các nhân phục vụ cho nhu
cầu nhận và chuyên tiền của chủ tài khoản.Ngược lại , ngân hàng cũng huy động được
nguồn vốn dưới dạng tiền gửi có tính chất không kỳ hạn và sử dụng vào các hoạt động
khác của mình .Thông thường số dư tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận lương
,nhận một khoản tiền của một khách hàng khác chuyển đến ,hay khách hàng tự nộp tiền
vào tài khoản của mình và giảm đi khi khách hàng có nhu cầu chi tiêu.
Tính chất của nguồn vốn này : kém ổn định do phụ thuộc vào nhu cầu thanh toán
,chi trả của người gửi tiền,là loại tiền gửi có số lượng lớn ,quy môt tiền gửi nhỏ .Lãi suất
ngân hàng trả cho loại tiền này là lãi suất không kì hạn hoặc không tính lãi.Tuy nhiên,khi
sử dụng nguồn vốn này ngân hàng phải có kế hoạch phòng ngừa khi khách hàng có nhu
cầu sử dụng vốn bất cứ khi nào.
-Tiền gửi tiết kiệm : Mục đích của nguồn tiền gửi này là an toàn và sinh lợi .Tiền
gửi tiết kiệm của dân cư được thực hiện dưới các hình thức : tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn .
●Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn :là loại tiền gửi tích lũy , có thể rút bất cứ lúc nào.
Khách hàng sử dụng sản phẩm này nhằm mục đích an toàn và sinh lãi nhưng không định

●Huy động vốn ngắn hạn :Để huy động vốn ngắn hạn,các tổ chức tín dụng có thể
phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn .Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn
dưới 12 tháng ,bao gồm kỳ phiếu ,chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn ,tín phiếu và các giấy tờ có
giá ngắn hạn khác .
●Huy động vốn trung và dài hạn : muốn huy động vốn trung và dài hạn ( 3 năm, 5
năm hay 10 năm ) các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu ,trái phiếu và cổ phiếu .Trái
phiếu do ngân hàng phát hành có thể xem như một loại trái phiếu công ty .So với trái
phiếu chính phủ thì trái phiếu ngân hàng rủi ro hơn nên chi phí để huy động cao hơn so
với trái phiếu kho bạc hay trái phiếu chính phủ.
Đặc điểm của nguồn vốn huy động này là lãi suất cao nhưng tính ổn định cũng khá
cao ,Không được rút trước hạn với bất kì lý do nào hoặc muốn rút vốn trước hạn chỉ có thể
bán lại trên thị trường qua nghiệp vụ chiết khấu .Do vậy nguồn vốn này chủ yếu dung để
hay động trung và dài hạn
Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá là hình thức huy động không thường
xuyên .Nguồn vốn gắn liền với mục đích nhất định của các tổ chức huy động .Vì vậy thực
hiện hình thức huy động này ,ngân hàng cũng cần có kế hoạch huy động hết sức cụ thể
,xác định rõ các nội dung như : quy mô vốn cần huy động : loại tiền huy động ,đối tượng
huy động ,thời hạn huy động ,thời gian phát hành ,lãi suất ,cách thức trả lãi nợ gốc…
1.2.2.3. Đi vay
Ngoài hình thức nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá ,các ngân hàng thương
mại còn có thể huy động vốn thông qua việc đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trong và
ngoài nước hoặc vay ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chiết khấu giấy tờ có giá .Đây
là hình thức huy động không thường xuyên và mang tính nhất thời.
Vốn đi vay của các NHTM chỉ nên chiếm một tỉ trong có thể chấp nhận được trong
kết cấu nguồn vốn ,nhưng nó rất cần thiết và có vị trí rất quan trọng để đảm bảo cho ngân
hàng hoạt động một cách bình thường. Hoạt động đi vay của NHTM gồm : vay từ các tổ
chức tín dụng khác,vay từ ngân hàng Trung ương
-Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng khác:
Các NHTM có thể vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng ( Interbank
Market) :đây là trường hợp ngân hàng có lượng tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước thấp không

được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp
cho nhu cầu đầu tư của mình. Với sự xuất hiện của thị trường tài chính và hệ thống ngân
hàng thương mại thông qua hoạt động huy động để cho vay lại ,thì việc vay vốn của các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân trở nên dễ dàng hơn với chi phí tiết kiệm và
thủ tục đơn giản hơn rất nhiều. Như vậy,hoạt động huy động vốn vừa đáp ừng nhu cầu
doanh nghiệp ,vừa giảm thiểu lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư.
Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng cần phải huy động lượng vốn nhất định để
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân sách Nhà nước là nguồn cung cấp chủ yếu cho
kế hoạch chi tiêu của chính phủ, song không phải lúc nào nó cũng ở trong trạng thái đủ
khả năng đáp ứng. Giải pháp đặt ra là có thể in thêm tiền hoặc tăng thuế, vay nợ nước
ngoài tuy nhiên sẽ gây ảnh hưởng xấu lên toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy nhà nước có thể sử
dụng biện pháp tích cực hơn đó là tìm kiếm nguồn vốn huy động trong và ngoài nước
.Thông qua thông qua nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng. thì nhu cầu vốn của
chính phủ sẽ được giải quyết ,không những vậy ,việc huy động vốn từ các NHTM còn
giúp cho chính phủ và NHTW quản lí được nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng.
Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh, tác động trực
tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chính sách huy động vốn trong nền kinh
tế thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn
định tiền tệ. Vì nguồn vốn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế như vậy, nên chúng ta cần
phải khơi thông các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Vì vậy, việc chú trọng đến các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần thiết của các
ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế mà ngân hàng là một
trong những thành viên chính góp phần tạo nên sự phát triển đó. Việc đẩy mạnh công tác
huy động vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển đang giữ một vị trí đặc biệt quan trọng
trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta hiện nay.
1.2.3.2 Đối với hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt ,kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ ,nên nguồn vốn chính là cở sở trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng .Nguồn vốn
kinh doanh của ngân hàng hầu hết được hình thành từ hoạt động huy động vốn của NHTM
.Đóng vai trò là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, là thủ quỹ của nền kinh tế nên

vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, nên một ngân
hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không được
vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của
ngân hàng.
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động
được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn càng có ý
nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, công tác huy động
vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công
hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn.
Huy động huy động vốn là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của
ngân hàng thương mại. Tuy nhiên thì hoạt động này không phải là hoạt động độc lập, mà
có sự gắn kết với hầu hết các hoạt động trong nền kinh tế. Hơn nữa với chức năng là một
trung gian tài chính, vừa là nơi tập trung vốn, vừa là nơi phân phối lại tín dụng, do đó mà
hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân
tố khác nhau, cả nhân tố chủ quan lẫn nhân tố khách quan, các nhân tố này trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động tới hoạt động của ngân hàng thương mại.
1.3.1. Những nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là những nhân tố không nằm trong sự kiểm soát của ngân hàng
thương mại, song nó lại có tác động lớn tới hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân
hàng thương mại nói chung cũng như công tác huy động vốn nói riêng. Và như vậy, sẽ
ảnh hưởng tới chính sách huy động vốn của ngân hàng.
+Tình hình kinh tế- xã hội:
Khi nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người cao,
trình độ học vấn của dân cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động và phát triển của ngân hàng thương mại. Bởi khi đó tiết kiệm trong xã hội sẽ cao,
khả năng tin tưởng vào hoạt động của ngành ngân hàng sẽ ngày càng được nâng lên. Một
hệ quả tất yều là làm cho các thành phần kinh tế sẽ gửi tiền vào ngân hàng theo từng mục
tiêu cụ thể. Và ngược lại nếu trong vùng kinh tế đó có tình hình xã hội bất ổn định, tốc độ
phát triển của kinh tế còn hạn chế Điều này cho biết nhu cầu tiết kiệm trong xã hội đạt

hàng. Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển khi mà văn minh tiền tệ phát triển thì lượng
tiền mặt trong lưu thông trong nền kinh tế rất nhỏ, người dân chủ yếu dùng các dịch vụ
tiện ích mà ngân hàng cung cấp. Còn ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thì
lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế lại chiếm tỷ trọng khá cao, người dân nơi này ít
dùng các phương tiện thanh toán, dịch vụ tiện ích mà ngân hàng cung cấp, vì vậy đã làm
ảnh hưởng, và gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách huy động vốn của ngân hàng.
1.3.2. Những nhân tố chủ quan.
Là nhân tố nội tại bên trong ngân hàng, thuộc khả năng kiểm soát của ngân hàng,
so với các nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới tất cả mọi hoạt động kinh
doanh của ngân hàng, trong các hoạt động đó có hoạt động huy động vốn và chính sách
huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, các nhân tố này mang tính phù hợp với tình hình
thực tế hoạt động của ngân hàng, nhất là chính sách huy động vốn hơn nhân tố khách quan
các yếu tố cấu thành bao gồm.
+ Lãi suất:
Ngân hàng luôn cố gắng đa dạng hóa các nguồn vốn huy động với mức lãi suất
thấp nhất có thể nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong khi đó người gửi tiền lại hướng
tới mức lãi suất cao để thu lợi nhiều hơn. Do đó, ngân hàng sẽ phải đưa ra chính sách lãi
suất phù hợp sao cho đảm bảo được quyền lợi của khách hàng mà vẫn mang lại lợi ích
cho ngân hàng.
Chính sách lãi suất của ngân hàng sẽ bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay,
nếu lãi suất huy động là chi phí mà ngân hàng bỏ ra thì lãi suất cho vay là khoản lợi nhuận
ngân hàng thu về. Thông thường lãi suất huy động cao thì thu hút được nhiều tiền gửi,
nhưng cũng có những trường hợp lãi suất huy động tuy thấp nhưng nhờ chất lượng dịch
vụ tốt mà vẫn thu hút được quy mô tiền gửi tương đối lớn. Bên cạnh đó, việc tính toán
chính xác lãi suất huy động cũng được coi như yếu tố cơ bản xác định mức lợi nhuận của
Ngân hàng. Có thể nói lãi suất là một nhân tố mang tính quyết định trong quá trình huy
động vốn của Ngân hàng.
+ Uy tín ngân hàng :
Uy tín là tài sản vô hình thuộc về ngân hàng thương. Khách hàng thường sẽ lựa
chọn những ngân hàng có uy tín để gửi tiền với hi vọng ngân hàng sẽ có dịch vụ chất

liên quan đến thị trường của ngân hàng. Từ các thông tin có được ngân hàng sẽ đưa ra các
chính sách kinh doanh nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng phù hợp với nhu
cầu của khách hàng và nhu cầu sử dụng vốn của thị trường.
- Chính sách sản phẩm .
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bao gồm các dịch vụ cơ bản của nghề ngân
hàng là nghiệp vụ huy động vốn, nguồn vốn sử dụng vốn…. Với sự đa dạng hóa các sản
phẩm của nghiệp vụ huy động vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng khả năng huy
động vốn. Một ngân hàng biết đa dạng hóa các hình thức huy động sẽ thu hút được khách
hàng mới cũng như duy trì được mối quan hệ với những khách hàng cũ nhiều hơn so với
các ngân hàng khác.Với nhiều hình thức huy động khác nhau, ngân hàng có thể đáp ứng
được nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng khác nhau.
- Chính sách phân phối.
Chính sách phân phối là tập hợp toàn bộ những phương tiện vật chất đưa ra sản
phẩm, dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng. Việc đa dạng hóa các kênh phân phối,
mở rộng các quầy giao dịch (số lượng các quầy giao dịch, địa điểm mở quầy, các sản
phẩm, dịch vụ cung ứng tại quầy, trang thiết bị được sắp xếp tại quầy, trình độ đội ngũ cán
bộ nhân viên…) có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng.
+ Công tác cán bộ tổ chức :
Uy tín của ngân hàng một phần cũng được xây dựng từ trình độ của cán bộ công
nhân viên cũng như thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng. Một ngân hàng có đội ngũ
nhân viên trình độ nghiệp vụ cao, xử lý các nghiệp vụ nhanh nhẹn, chính xác, hiệu quả
cùng với thái độ nhiệt tình, chu đáo, vui vẻ, lịch sự sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp với
khách hàng.Nhân viên giao dịch có thể coi là bộ mặt của ngân hàng, họ là những người
đầu tiên tiếp xúc với khách hàng và hướng dẫn khách hàng quy trình gửi tiền. Khách hàng
sẽ lựa chọn ngân hàng nơi có nhân viên giao dịch khiến họ có thiện cảm và cảm thấy hài
lòng. Người quản lý có trình độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của
tất cả các hoạt động ngân hàng. Một người quản lý có năng lực, có trình độ cũng tạo dựng
niềm tin nơi khách hàng và thu hút khách hàng đến với ngân hàng của mình.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG NAM Á –CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status