1
MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN
Tác giả: TS Chu Tiến Quang,
Trưởng ban Chính sách phát triển nông thôn,
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TƯ
I Khái quát những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực nông thôn
1.1 Khái niệm, định nghĩa
Trong thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng. Những nghiên cứu này
đã đưa ra một số khái niệm, định nghĩa về nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực
nông thôn nói riêng, khái quát lại như sau
a Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “ Human resource planing: Aproach needs
assessments and priorities in manpower planing”; NXB Manak New Delhi 1997, đã đưa
ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế như sau:
“ Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ
năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới
dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất,
có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có
thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến
thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy, các chi phí
về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng,…để nâng cao khả năng sản xuất
của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào
con người”
Trên cơ sở định nghĩa trên, tác giả đã chỉ ra những lợi ích lớn của đầu tư vào
nguồn nhân lực gồm:
- Đầu tư vào nguồn nhân lực có tỷ lệ thu hồi vốn cao, do vốn nhân lực càng được
sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng tăng lên, càng tạo ra nhiều thu nhập. Vốn nhân lực
là “số dân và chất lượng con người, gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,
năng lực và phẩm chất. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực được hiểu là “ lực lượng lao
động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng; hay bao
gồm những người được đào tạo và chưa được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc đang
không làm việc. Theo cách hiểu hẹp hơn nữa thì “ nguồn nhân lực là lực lượng lao động
đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng những không có việc làm (đang trong
tình trạng thất nghiệp)
Nguồn nhân lực nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, được
phân bố ở nông thôn và làm việc trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn nông thôn,
bao gồm: sản xuất nông, lâm, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại,
dịch vụ và các hoạt động phi nông nghiệp khác diễn ra ở nông thôn.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn có thể hiểu là làm tăng giá trị con người trên
các mặt đạo đức học tập, lao động, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn và thể lực…làm cho con
người có khả năng làm việc cao nhất, đóng góp có hiệu quả nhất vào phát triển kinh tế,
xã hội nông thôn.
1.2. Các nội dung của phát triển nguồn nhân lực nông thôn
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là sự nghiệp lớn đối với mỗi quốc gia, bao
gồm nhiều nội dung quan trọng, đó là: phát triển vè số lượng; phát triển về chất lượng và
phương thức sử dụng.
3
a. Phát triển nguồn nhân lực về số lượng
Nội dung cơ bản đầu tiên của phát triển nguồn nhân lực, đó là phát triển về số
lượng, hay nói cách khác là thúc đẩy sự gia tăng về số lượng con người trong nguồn nhân
lực, hiểu theo nghĩa rộng là phát triển số dân của dân số ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ,
hiểu theo nghĩa hẹp là phát triển về số người lao động của lực lượng lao động trong mỗi
nền kinh tế.
Sự phát triển nguồn nhân lực về số lượng hợp lý là tạo ra số lượng dân số và
người lao động theo nhu cầu của phát triển các ngành kinh tê ở mỗi giai đoạn phát triển,
ngược lại sự phát triển quá nhiều hoặc quá ít, tạo ra sự thiếu hụt hay dư thừa so với nhu
4
sẽ tham gia vào từng ngành nghề kinh tế trong hiện tại và trong tương lai và điều này còn
phản ánh việc sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện cụ thể của chất lượng
nguồn nhân lực;
- Tạo điều kiện thuận lợi và động lực phù hợp để người lao động phát huy hết
mọi năng lực, sở trường và ý chí cá nhân trong công việc mà họ triển khai, nhằm đưa tới
kết quả làm việc cáo nhất, đêm lại lợi ích lớn nhất cho xã hội và bản thân người lao động.
1.3. Quy luật vận động của nguồn nhân lực nông thôn
Trong lịch sử loài người, quá trình vận động và phát triển nông thôn bao gồm phát
triển song trùng 3 bộ phận: (1). Phát triển kinh tế nông thôn, bao gồm phát triển các hoạt
động nông, lâm, thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái và yêu cầu của thị
trường về hàng hóa nông, lâm, thủy sản và phát triển các hoạt động kinh tế khác ngoài
nông, lâm thủy sản để tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân nông thôn; (2).
Phát các cộng đồng xã hội nông thôn ngày một văn minh và hiện đại trên nền tảng văn
hóa truyền thống; (3). Duy trì và hoàn thiện môi trường sinh thái tự nhiên (đất, nước, tài
nguyên, khí hậu) mang đặc thù của nông thôn
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển nói trên, nguồn nhân lực nông thôn
cũng vận động theo và trải qua những giai đoạn sau:
a. Giai đoạn gia tăng lao động làm việc trong các ngành của khu vực nông, lâm,
thủy sản với các lý do sau.
Trong giai đoạn này sự vận động của nguồn nhân lực xã hội nói chung và nguồn
nhân lực nông thôn nói riêng diễn ra theo xu hướng sau
- Người dân nhờ vào trực tiếp làm nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, nói cách khác
là kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đó là thời kỳ tiền tư bản ở Châu Âu, Châu Mỹ,
các châu lục khác và hiện nay là các quốc gia chưa hoặc mới bắt đầu bước vào quá trình
CNH nền kinh tế, ở đó cơ cấu kinh tế và thu nhập của người dân từ sản xuất nông nghiệp
chiếm tỷ trọng cao. Trong điều kiện đó số lượng dân cư và lao động làm nông nghiệp
chiêm tỷ trọng cao trong dân số và lao động xã hội và không ngừng tăng. Các nguồn lực
khác như đất đai, tiền vốn cũng được tập trung nhiều vào lĩnh vực nông nghiệp;
này lao động nông nghiệp có thể mất đi hoàn toàn trong thời gian ngắn, chuyển nhanh
sáng các ngành nghề khác theo sưc hút của các ngành này;
- Biến động xã hội trong trong nguồn nhân lực nông thôn diễn ra mạnh do nguy cơ
rủi ro và ảnh hưởng tiêu cực của sự dịch chuyển quá nhanh từ nông nghiệp sang các
ngành nghề khác trong khi lao động nông nghiệp chưa được chuẩn bị đầy đủ về tay nghề
mới và cuộc sống mới
- Những cơ hội mới đi kèm với những bất ổn về đời sống, việc làm xảy ra đông
thời với sự gia tăng tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa.
II. Kinh nghiệm các nước về phát triển nguồn nhân lực nông thôn
2.1. Kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn là một trong những yếu tố quan
trọng đầu tiên của toàn bộ chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn, nó tạo ra nền
tảng và căn cứ để xây dựng các chương trình, chính sách và giải pháp thúc đẩy phát triển
các thành tố của nguồn nhân lực phát triển theo một định hướng nhất quan, dài hạn và
đồng bộ. Thiếu chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông
thôn nói riêng thì không thể có chính sách tốt về phát triển nguồn nhân lực.
Thực tiễn cho thấy các quốc gia thành công trong phát triển nguồn nhân lực nông
thôn
1
đều phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn rất rõ ràng và nhất
quán, tạo cơ sở để triển khai các chính sách cụ thể với mục tiêu thúc đẩy nguồn nhân lực
1
Với kết quả là tạo ra đội ngũ lao động có số lượng hợp lý với yêu cầu sử dụng và chất lượng cao
6
phát triển theo định hướng đã định của Nhà nước. Dưới đây là kinh nghiệm cụ thể của
những nước đã thành công và có kinh nghiệm tốt trong việc hình thành chiến lược phát
triển nguồn nhân lực nông thôn.
và sử dụng triệt để nguồn nhân lực tại chỗ ngày một tăng tiến về chất lượng và khả năng
tiếp cận công nghệ sản xuất về canh tác nông nghiệp, chế biến và dịch vụ đi kèm.
Để thực hiện quy hoạch này Đài Loan nhất quán thực hiện chiến lược và chính sách
về đất đai, tín dụng hướng vào chủ thể nông dân cùng tham gia vào qua trình hiện đại hóa
nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn.
2
Tiếng anh gọi là “ Agricultural promotions areas”
7
Bằng quy hoạch phát triển các thể chế “ Nông Hội” ở từng vùng sinh thái để tạo
cơ hội cho người dân nông thôn tự ra các quyết định phát triển hiệu quả nhất, mang lại lợi
ích cao cho chính họ, Chính phủ Đài Loan đã mạnh dạn sử dụng tới 2/3 nguồn viện trợ
của Mỹ vào việc đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
nông thôn dựa trên cơ sở các nông hội này
So với các nước thì Đài Loan là mô hình có tốc độ tăng chi tiêu nhà nước vào giáo
dục phổ thông cao nhất thế giới, thể hiện trong giai đoạn 1960 – 1975 đầu tư cho một học
sinh tiểu học tăng lên 6 lần, chi tiêu cho giáo dục tăng.
c. Hàn Quốc.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Hàn Quốc mang những nét đặc
thù riêng. Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành song song việc tăng đầu tư ngân sách vào
đào tạo người dân nông thôn với mục tiêu cao nhất là làm thay đổi suy nghĩ thụ động,
trông chờ ỷ lại của người dân vào Nhà nước đã ngự trị trong phần lớn nông dân nước này
qua nhiều thế kỷ.
Mục tiêu của chính sách đào tạo nông dân là giúp họ có niềm tin mãnh liệt vào
chính mình trước những khó khăn về vật chất và tinh thần để họ trở nên tích cực, năng
động, sáng tạo đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn trên đất nước Hàn
Quốc.
Phong trào xây dựng nông thôn mới
3
Hơn 32% chi tiêu cho nghiên cứu phát triển của Nhà nước được thực hiện bởi trường đại
học và 40% nhân lực nghiên cứu phát triển tập trung ở đây. Ngoài ra, Singapo cũng chú
trọng phát triển chương trình đào tạo ở nước ngoài.
Singapo rất coi trọng việc hoạch định phát triển nguồn nhân lực, coi đó là là chiến
lược quan trọng nhất trong tất cả các loại chiến lược. Chiến lược này cần xác định nhu
cầu về các loại nhân lực, gồm số lượng các loại nhân lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu
công việc trong tương lai. Các chiến lược về nhân lực trước hết phải tập trung vào xác
định, thu hút và giữ được những người tốt nhất trong các ngành kinh tế.
Ở Singapo, Hội đồng Nhân lực Quốc gia được thiết lập ở cấp Bộ, do Bộ trưởng
Nhân lực đứng đầu, để chỉ đạo công tác hoạch định nhân lực của quốc gia. Hội đồng này
sẽ đề ra các định hướng và giám sát công tác hoạch định nhân lực quốc gia và triển khai
các chiến lược đã được Chính phủ phe chuẩn để đáp ứng nhu cầu thay đổi của các ngành
công nghiệp ở Singapo.
Hệ thống Thông tin Quốc gia về Nhân lực được phát triển để cung cấp thông tin về
thị trường lao động hiện tại và phân tích tình hình nhân lực trong các tổ chức kinh tế và
phi kinh tế
Singapo hình thành mạng toàn cầu cung cấp dịch vụ tư vấn chất lượng nhân lực chất
lượng cao và các kênh kết nối mạng với nhân tài của thế giới, các doanh nhân, người
Singapo ở nước ngoài, người sử dụng lao động và sinh viên quan tâm đến các cơ hội hấp
dẫn về đào tạo, kinh doanh và sự nghiệp ở Singapo. Mạng có 10 văn phòng quốc tế ở Bắc
Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ và Ôxtrâylia.
Cơ quan tiếp cận Singapo được thành lập đã tổ chức nhiều hoạt động khác nhau để
duy trì quan hệ với người Singapo ở nước ngoài. Ngoài ra, Bộ Nhân lực tổ chức nhiều
hoạt động và hội thảo cung cấp thông tin cho các nhân tài nước ngoài mới đến Singapo.
Ngoài ra, Cơ quan tiếp cận Singapo đã tổ chức các chuyến đi tuyên truyền về "Kinh
nghiệm về Singapo" tới các khu vực khác nhau giúp người tham gia hiểu rõ hơn về di sản
và văn hóa Singapo.
Để cải thiện các dịch vụ thông tin và tham vấn, Bộ Nhân lực đã đổi mới các hệ
thống tham vấn thông qua e-mail, phương thức đáp ứng tương tác âm thanh và cập nhật
các băng video, cũng như các tập sách thông tin nhỏ về đời sống và làm việc ở Singapo.
Thái Lan 92%;
- Kinh phí dành cho giáo dục tiểu học do Chính phủ đảm nhận 100%;
- Nội dung giáo dục văn hóa lao động và làm việc đối với người lao động tập trung
vào gìn giữ những giá trị dân tộc và sự nghiêm túc trong làm việc. Ví dụ ở Nhật bản và
Hàn Quốc trong các trường đại học văn hoá truyền thống “tôn sư trọng đạo” của người
dân Hàn quốc được truyền nối cho các thế hệ trẻ rất tốt
4
.
Kinh nghiệm thành công ở các nước trên đã chỉ ra rằng, Chính sách giáo dục văn hóa
ứng xử, văn hóa làm việc và văn hóa học tập trong các trường học phổ thông và đại học
có ý nghĩa và vị trí vô cùng quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nguồn nhân
lực xã hội nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng có chất lượng cao, đáp ứng
ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nền kinh tế ở các quốc gia
4
Trang Web: Dân trí.com.vn ngày 22/3/2009 “ Kinh nghiệm vàng khi du học Hàn Quốc”
10
này trong những thập niên tiến hành công nghiệp hóa đất nước, không gây ra những phản
tác dụng từ phía nguồn nhân lực mà nông thôn cung cấp cho các nhu cầu lao động của
các ngành công nghiệp và dịch vụ mới.
Thiếu giáo dục đầy đủ về văn hóa mới về học tập, làm việc và ứng xử cho người lao
động nông thôn trong môi trường mới của quá trình công nghiệp hóa nông thôn khi họ
còn trên ghế nhà trường sẽ là yếu tố tạo ra những hạn chế rất lớn trong nguồn nhân lực trẻ
nông thôn và làm giảm nghiêm trọng chất lượng và sự năng động hòa nhập vào mô
trường mới của nguồn nhân lực này. Thực tiễn của Trung quốc trong những năm tiến
hành công nghiệp hóa mạnh đã phản ánh sự bất cập của nguồn nhân lực nông thôn trước
sự thay đổi của môi trường làm việc đối với họ rất đáng để Việt nam xem xét và rút kinh
nghiêm được phản ánh qua hộp tư liệu sau đây.
Hộp 2. lao động Việt Nam thiếu văn hóa nghề
Đi muộn về sớm, không làm đủ 8 giờ, thiếu trách nhiệm với công việc, bỏ việc khi không vừa ý, có
11
cơ hội là bỏ trốn (đối với lao động làm việc ở nước ngoài) Những hành vi thiếu văn hóa nghề này đã gây
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đội ngũ lao động.
Bà Nguyễn Thị Hằng, chủ tịch Hội Dạy nghề Việt Nam, cho biết Việt Nam hiện có trên 1.000 cơ sở
dạy nghề, mỗi năm đào tạo khoảng 1,5 triệu lao động, tuy nhiên vẫn thiếu lao động có chất lượng. Văn hóa
nghề chưa được trang bị đầy đủ là một trong những yếu tố tạo nên điều này.
Ông Vũ Tuấn Anh (Viện Kinh tế Việt Nam) nêu vấn đề nổi cộm trong XKLĐ, gói gọn trong "3
không" (không có nghề, không biết ngoại ngữ, không có tác phong công nghiệp). Theo ông, người
lao động đăng ký đi XKLĐ được học một khóa nghề và ngoại ngữ cấp tốc nên tác phong làm việc, kiến
thức về pháp luật và văn hóa ứng xử đều chắp vá.
Một số người không tuân thủ pháp luật nước sở tại, chơi cờ bạc, uống rượu, đánh nhau Tình trạng
lao động xuất khẩu bỏ trốn xảy ra phổ biến tới mức một số thị trường không muốn tiếp nhận lao động Việt
Nam. Đó là do người thiếu một "phông" văn hóa cần thiết.
TS Nguyễn Văn Ngàng - phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam - đề nghị Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB&XH
cần nghiên cứu đưa văn hóa nghề trở thành một môn học cơ bản để giảng dạy trong các trường nghề, có
như vậy mới giúp học sinh và người lao động lựa chọn, học và làm đúng nghề.
Về điểm này, bà Nguyễn Thị Hằng cho biết: "Hội Dạy nghề sẽ thành lập trung tâm văn hóa nghề để
khảo sát, nghiên cứu, từ đó có sự cụ thể hóa giáo dục chính trị, đạo đức đối với hệ thống các trường nghề
để hình thành bộ môn văn hóa nghề". Chỉ khi được trang bị kiến thức về văn hóa nghề, một người thợ lành
nghề mới trở thành một người lao động chuyên nghiệp.
Tiêu chí đánh giá và nhận biết văn hóa nghề gồm 5 yếu tố: kiến thức nghề; trình độ tay nghề; đạo đức
nghề; thái độ hành nghề; sự nhận biết, khả năng xây dựng và thích nghi môi trường.
Đưa văn hóa nghề trở thành bộ môn giảng dạy trong chương trình đào tạo nghề chính là sự trăn trở
của không ít nhà quản lý các cơ sở dạy nghề hiện nay.
Ông Nguyễn Minh Tâm - hiệu trưởng Trường CĐ nghề Vinashin: Giáo viên của trường tôi vẫn thường
xuyên nhắc nhở các em có ý thức về đạo đức, kỹ năng nghề. Nếu đưa văn hóa nghề thành một bộ môn
Chuyển giao kiến thức, đào nghề, kỹ năng chuyên môn cho người lao động nông
thôn để tạo ra năng lực làm việc có năng suất lao động cao là công việc chung của cả nhà
nước, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong xã hội.
Kinh nghiệm các nước về vấn đề này là rất rõ ràng. Chính phủ phải là nhà đầu tư
lớn nhất và toàn diện nhất vào xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, nâng cao nghiệp vụ, kỹ
năng cho người lao động. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế có trách nhiệm trong việc
đưa ra nhu cầu, kế hoạch về sử dụng lao động và tham gia cùng Chính phủ dưới nhiều
hình thức khác nhau trong triển khai các chương trình đạo tạo nghề cho người lao động
mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng.
Để có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế nông thôn,
Chính phủ các nước phải chủ động xây dựng và công bố các định hướng phát triển kinh
tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ
sở đó hình thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng
ngành và lĩnh vực kinh tế trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, đặc biệt trong điều
kiện nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực để thực
hiện công nghiệp hóa. Trong qua trình này Chính phủ phải thường xuyên theo dõi sự biến
chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời công tác đào tạo nguồn nhân lực mới
cho các ngành đang và sẽ hình thành và đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất
đi để giúp họ có đủ năng lực chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới.
Vì vậy, kinh nghiệm chung từ các nước cho thấy, Chính phủ phải chủ động đầu tư
vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia cho những nghề mới, bao gồm các
hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra những người lao động có trình độ chuyên môn về lý
thuyết và có tay nghề thực tiễn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nền kinh tế.
Nhà nước luôn giữ vai trò đầu tư vào xây dựng và nâng cao chất lượng hệ thống
trường và các chương trình đào tạo nghề theo đúng yêu cầu của nền kinh tế để chuyển lực
lượng lao động từ không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp sang lực lượng lao động có kỹ
năng cao là việc làm hết sức căn bản của Chính phủ mỗi một quốc gia. Thực tế cho thấy,
những lao động có trình độ tay nghề cao luôn được xã hội trọng dụng, trong khi lao động
13
điểm chính:
(1). Chú trọng đầu tư cho giáo dục-đào tạo, phát triển kỹ năng con người. Singapo
có mức đầu tư cho giáo dục đào tạo rất cao, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách quốc
gia.
(2). Đẩy mạnh việc thu hút các chuyên gia giỏi của nước ngoài tới làm việc tại
Singapo nhằm tranh thủ trí tuệ của đội ngũ này để nhanh chóng "bắt kịp" trình độ phát
triển của các nước đi trước và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở trong nước.
Chính phủ đã đầu tư mạnh để cải thiện chất lượng hệ thống trường học, thông qua
tuyển dụng nhiều giáo viên và cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất và công nghệ thông tin và
14
truyền thông. Chính phủ Singapo đặt mục tiêu phát triển các trường đại học của Singapo
thành các trường trình độ thế giới như Viện Công nghệ Masachussett (MIT), trường Đại
học Công nghệ Georgia, Đại học Kỹ thuật Eindhoven và Đại học Kỹ thuật Munich. Về
đào tạo kỹ thuật ở cấp đại học, có 5 trường bách khoa có chương trình cấp bằng diplom
về nhiều ngành nghề, từ kỹ thuật đến kinh doanh và phương tiện truyền thông đại
chúng.Chính phủ luôn luôn nhận thức rõ mục tiêu của giáo dục. Giáo dục bậc đại học
được quản lý chặt chẽ để bảo đảm sự cân bằng cơ số các sinh viên tốt nghiệp, phù hợp
với dự báo về nhu cầu sử dụng của ngành kinh tế trong nước.
Đặc biệt, Chính phủ Singapo chú trọng đào tạo khoa học và kỹ thuật. Một ủy ban
do Ng. Eng Hen-Bộ trưởng Cấp cao đứng đầu, luôn chú trọng để tránh cho Singapo khỏi
bị thiếu nhân lực kỹ thuật, như đã xảy ra ở các nước phát triển khác, và cũng để bảo đảm
cung cấp nhân lực linh hoạt (nhân lực được đào tạo về kỹ thuật có thể dễ dàng chuyển đổi
sang công việc phi kỹ thuật hơn là trong trường hợp ngược lại).
c. Kinh nghiệm Đài Loan.
Chính sách đào tạo nghề và hướng nghiệp cho nguồn nhân lực ở Đài Loan đi theo
một hướng khác, đó là Chính phủ đã định hướng cho việc học nghề cho học sinh tốt
nghiệp trung học bằng cách, trong số học sinh tốt nghiệp trung học Chính phủ đưa ra định
hướng khoảng 30% tiếp tục học đại học, còn lại 70% chuyển sang học các ngành nghề kỹ
thuật mà nền kinh tế đang cần. Chính sách này đã tạo ra nguồn nhân lực phổ thông cho
Trong giai đoạn 1995-1998, chính sách này đã thu dụng được 95 người lao động có trình
độ cao (Nhà khoa học). Chương trình này được đánh giá là chưa thành công lắm do các
điều kiện tuyển dụng chưa thật linh hoạt và điều kiện làm việc trong nước chưa phù hợp
- Chương trình hồi hương các chuyên gia Malaixia ở nước ngoài được triển khai từ
năm 2000 là biện pháp lôi kéo các trí thức Malaixia sống ở nước ngoài trở về phục vụ
cho tổ quốc, tham gia vào nguồn nhân lực trong nước và thông qua đó làm tăng chất
lượng nguồn nhân lực của đất nước. Mục tiêu của Chương trình này là tạo ra lực lượng
lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có trình độ quốc tế. Các chính sách
của chương này gồm:
+ Giảm thuế thu nhập đối với lượng kiều hối chuyển về nước trong vòng 2 năm kể từ
ngày nhập cư;
+ Giảm thuế nhập khẩu cho tất cả đồ dùng cá nhân mang về nước gồm cả 2 xe ô-tô
cho mỗi gia đình;
+ Phê chuẩn chế độ Cư trú Thường xuyên cho vợ/chồng, con cái trong vòng 6 tháng
sau khi về nước.
Hưởng ứng chính sách này, đến tháng 9 năm 2001 đã có 361 đơn đăng ký, trong đó
287 đơn đã vào làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp; tài chính kế toán; y học và các
ngành khác.
- Malaixia xác định nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa quyết định để đảm
bảo sự chuyển dịch thành công cơ cấu kinh tế từ các hoạt động kinh tế kém hiệu quả sang
các ngành nghề hiêu quả cao, xứng tầm với thế giới. Chính vì vậy để chuyển dịch cơ cấu
nông thôn thì việc đầu tiên phải làm là tạo ra cho được một nguồn nhân lực mới có chất
lượng cao, có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp một cách dễ dàng, từng bước giảm dần
hoạt động kinh tế năng suất lao động thấp, sử dụng nhiều lao động và tiền công thấp sang
các hoạt động công nghiệp dựa vào vốn và công nghệ cao hơn.
Tuy nhiên quá trình này không dễ dàng, cụ thể là hiện nay Malaysia đang đối với các
thách thức sau
+ Các trường đại học phải điều chỉnh hướng đào tạo, tăng số lượng sinh viên tốt
nghiệp thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, tỷ lệ giữa sinh viên tốt nghiệp
thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn và khoa học tự nhiên và kỹ thuật là 47,9%
- Chương trình học bổng này dành cho các cấp cử nhân khoa học, kỹ sư và kỹ thuật
viên, sẽ được cấp cho các sinh viên nghèo, nhất là học sinh nông thôn có tài năng. Những
người được lựa chọn nhất thiết phải nằm trong số 5% sinh viên tốt nghiệp đại học xuất
sắc nhất, là công dân được sinh ra tại Philippin và có sức khỏe, đạo đức tốt. Những người
được nhận học bổng phải duy trì được kết quả học tập tốt trong suốt quá trình nhận học
bổng và điều kiện tiên quyết là sau khi học xong họ sẽ phải phục vụ đất nước suốt đời ở
lĩnh vực đã được đào tạo, mà không được phép chuyển sang làm việc ở các lĩnh vực
khác, trừ các trường hợp ngoại lệ
5
. Kinh nghiệm này được đánh giá là có hiệu quả cao,
5
Theo báo cáo “Phát triển NNL khoa học va công nghệ các nước ASEAN”; Trung tâm thông tin khoa học công nghệ quốc gia; Ban
Biên tập: TS. Tạ Bá Hưng (Trưởng ban), TS Phùng Minh Lai (Phó trưởng ban), TS. Trần Thanh Phương, Kiều Gia Như, Đặng Bảo
Hà, Nguyễn Mạnh Quân
17
tiết kiệm cho phí xã hội giành cho đào tạo và đặc biệt là duy trì được đội ngũ lao động
được đào tạo, có chuyên môn cao.
Vì vậy, Chính sách đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nhân lực cho nông thôn nói
riêng cần tham khảo, áp dụng.
f. Kinh nghiệm Thái Lan.
- Thái Lan có kinh nghiệm trong hình thành hệ thống đào tạo nghề và hướng nghiệp
với 8 chương trình đào tạo với nội dung, thời gian và yêu cầu cần đạt là khác nhau, ứng
với từng đối tượng lao động trong các ngành kinh tế. Đào tạo người lao động nông
nghiệp được xếp vào loại ngắn hạn, các trường đại học và trung cấp về nông nghiệp có
tránh nhiệm thực hiện các khóa đào tạo nông dân theo chương trình này. Trong 4 năm
1984 đến 1988 số nông dân tham gia chương trình đào tạo ngắn hạn này đã tăng từ 49,4
ngàn người lên trên 75,6 ngàn người.
- Đào tạo nguồn nhân lực bằng ngân sách nhà nước. Chính phủ Thái thành lập
Thái Lan đã ban hành chính sách mới, trong đó đặt trọng tâm vào: (i) đào tạo lại lao động
cho sản xuất nông nghiệp, cụ thể là lao động cạo mủ cao su, sửa chữa máy móc phục vụ
nông nghiệp, trồng và thu họach nấm, nuôi ong lấy mật, nuôi tằm, chăm sóc, tỉa cành ở
các vườn cây ăn quả; (ii) đào tạo lao động cho một số nghề trong phi nông nghiệp mới
hình thành trong nông thôn ở giai đoạn này, bao gồm: chế biến, bảo quản thực phẩm,
nghề thủ công mỹ nghệ gia đình và ở các doanh nghiệp, hướng dẫn viên du lịch; (iii) đào
tạo các kỹ năng marketing và buôn bán sản phẩm nông nghiệp quy mô nhỏ; (iv) hỗ trợ
thành lập các doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ nhằm thu hút lực lượng lao
động quay về nông thôn. Bên cạnh đó, Phòng phát triển kỹ năng lao động thuộc Bộ Lao
động và Phúc lợi xã hội Thái Lan đã xây dựng chuẩn quốc gia về kỹ năng lao động với 3
mức độ từ thấp đến cao cho 43 ngành (Hanpongpandh, 2001). Nhiều họat động như: cung
cấp thông tin việc làm, hội trợ việc làm, hỗ trợ đào tạo, hội thảo về việc làm… cũng được
tổ chức nhiều hơn.
Các nước khác ở Châu Á cũng đang triển khai các chương trình đào tạo nghề cho
nguồn nhân lực theo hướng đào tạo cơ bản tại các trường rồi sau đó đào tạo nâng cao
bằng các chương trình ngắn hạn như cách làm của Philipin và Thái Lan. Chẳng hạn, theo
cách này Trung Quốc vừa đẩy mạnh giáo dục phổ thông, vừa mở rộng đào tạo nghề sau
phổ thông và gắn với sản xuất để nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngoài ra Trung Quốc còn triển khai chính sách đưa lao động có đào tạo, có tri thức về
nông thôn tham gia các hoạt động kinh tế tiêu biểu ở từng vùng, từ đó hỗ trợ thúc đẩy
nhanh phát triển kinh tế nông thôn, nhất là thu hút lao động có đào tạo về làm việc ở 15
tỉnh khó khăn và chậm phát triển về kinh tế, gồm 12 tỉnh ở miền Tây và 2 tỉnh ở Đông
Bắc.
Hạn chế trong đào tạo nguồn nhân lực theo phương thức của Thái Lan và Philipin
là:
- Xảy ra tình trạng thừa lao động kỹ thuật, thiếu các ngành kinh tế tương ứng để
thu dụng hết những lao động này như ở Philipin;
- Thiếu lao động có kỹ thuật cao để cung cấp cho những ngành công nghiệp mới
đòi hỏi công nhân có tay nghề cao như ở Thái Lan.
g. Kinh nghiệm Inđônêsia
họ chỉ tập trung vào giảng dạy và nhiều trường không nghiên cứu. Các giảng viên đại học
không có năng lực nghiên cứu, nhiều giảng viên chuyển việc nghiên cứu cho sinh viên
của họ mà chẳng ngó ngàng gì tới. Kết quả là họ không thể giải quyết được những vấn đề
thực tiễn về nhân lực yếu của riêng họ
+ Chính sách đào tạo không hiệu quả như chương trình giảng dạy ở đại học, thời
gian lên lớp quá nhiều, hệ thống đánh giá không phù hợp;
+ Đầu tư tài chính thấp khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc thuê nhân viên có
trình độ;
+ Thiếu sự gắn kết với khu vực tư nhân (doanh nghiệp) trong phát triển nguồn nhân
lực, hậu quả là các chương trình đào tạo nhân lực đã không đáp ứng các đòi hỏi của các
công ty và các ngành công nghiệp mà chủ yếu chỉ thực hiện các ý tưởng của những nhà
quản lý và chính trị.
2.4. Một số nhận xét tổng quát.
20
Từ các phân tích về cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng và triển
khai chính sách phát triển nguồng nhân lực ở một số nước Châu Á trên đây, chuyên đề rút
ra một số nhận xét tổng quá như sau:
Thứ nhất. Phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được đặt trong tổng thể chính
sách phát triển nguồn nhân lực cho yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên kinh tế
Nhận xét trên đây muốn đề cấp tới sự gắn kết giữa phát triển nguồn nhân lực cho
toàn nền kinh tế với phát triển nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn. Nói cách khác,
phát triển nguồn nhân lực nông thôn không thể tách rời phát triển nguồn nhân lực chung
của nền kinh tế.
Theo đó, phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được định hướng theo sự phát
triển và chuyển dịch cơ cấu toàn nền kinh tế, chứ không thể chỉ riêng cho khu vực nông
thônn, bởi vì kinh tế nông thôn không thể tách rời kinh tế chung của quốc gia và phải
hương theo sự phát triển chung đó.
Như vậy, cần hiểu rằng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn là phát triển nguồn
nhân lực chung của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa mà một quốc
thành công ở từng nước và ở từng giai đoạn phát triển.
Thứ ba. Chính sách chi tiêu cho phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân
lực nông thôn nói riêng phải được coi là một bộ phận quan trọng của chính sách đầu tư
phát triển (đầu tư công) mang tính dài hạn
Nghiên cứu kinh nghiệm các nước đã trình bày có thể thấy rất rõ vai trò của vốn đầu
tư Nhà nước vào nhiều mặt khác nhau của chương trình phát triển nguồn nhân lực nói
chung và nguông nhân lực nông thôn nói riêng. Sự thành công trong phát triển nguồn
nhân lực nông thôn phụ thuộc rất lớn vào quan điểm và mức độ chi tiêu của Nhà nước
vào giáo dục văn hóa và đào tạo nghề cho người lao động chuẩn bị bước vào nghề và
những lao động đang làm việc. Không có nước nào mà Chính phủ lại coi nhẹ chi tiêu
ngân sách vào các hoạt động giáo dục và đào tạo người lao động để có nguồn nhân lực
chất lượng cao (có sức khỏe, thể lực tốt, có văn hóa đúng về làm việc và lao động và có
kỹ năng, tay nghề chuyên môn phù hợp với yêu cầu của các ngành kinh tế mới).
Cùng với phân bổ ngân sách thỏa đáng vào giáo dục văn hóa và đào tạo nghề cho
người động xã hội nói chung và nông thôn nói riêng. Chính phủ đóng vai trò là người
định hướng các chi tiêu này sao cho nguồn nhân lực tạo ra đáp ứng được những yêu cầu
ngày càng đa dạng và tăng lên về chất lượng người lao động của các ngành, lĩnh vực kinh
tế. Vì vậy, việc sử dụng vốn ngân sách trong giáo dục, đào tạo người lao động phải được
quan tâm đúng mức và có ý nghĩa đảm bảo cho sự thành công của chính sách phát triển
nguồn nhân lực.
Thứ tư. Lực lượng lao động nông thôn chính là nguồn cung cấp nhân lực cho các
khu vực công nghiệp và dịch vụ trong quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế. Nhưng
nguồn nhân lực này thường không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các chủ thể
sử dụng, vì vậy cần có sự quan tâm lớn hơn của Nhà nước trong việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực này.
Trừ một số ngoại lệ, kinh nghiệm các nước cho thấy, nhân lực để phục vụ cho công
nghiệp hóa đều phải lấy từ khu vực nông thôn. Vì vậy, để có nhân lực chất lượng cao cho
nhu cầu công nghiệp hóa nền kinh tế thì các nước đều phải đầu từ vào nguồn nhân lực
nông thôn ngay từ khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, mà không thể để muộn hơn.
Để thực hiện được mục tiêu trên thì Chính phủ phải chủ động xây dựng chiến lược
nước dễ gặp phải, vì vậy Việt Nam cũng sẽ không phải là ngoại lệ;
- Đào tạo bất cập giữa lực lượng nhân lực tham gia sản xuất vật chất và nhân lực
tham gia các hoạt động quản lý, phi sản xuất vật chất. Kinh nghiệm này diễn ra phổ biến
ở các nước đông dân và công tác quy hoạch nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế chưa
tốt, chưa có nhiều kinh nghiệm. Việt Nam đã và sẽ tiếp tục mắc phải căn bệnh này;
- Tách rời nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế với các cơ sở giáo
dục, đào tạo. Kinh nghiệm này diễn ra ở hầu hết các nước và luôn là vấn đề phải giải
quyết. Việc kết hợp giữa đào tạo với hoạt động thường ngày ở các cơ sở kinh tế là một
công việc mà Việt Nam cần trau dồi, học hỏi các nước có khả năng tốt như Singapo;
- Đầu tư không đầy đủ và đồng bộ vào các chương trình giáo dục, đào tạo nguồn
nhân lực nông thôn, coi nhẹ các chương trình này, kể cả các chương trình đào tạo nghề
cho lao động làm nông nghiệp đã tạo ra sự thiếu hụt về kỹ năng chuyên môn và tay nghề
của người lao động xã hội. Kinh nghiệm này diễn ra ở hầu hết các nước chưa nhìn ra vai
trò của đào tạo nghề và giáo dục kỹ năng chuyên môn thường xuyên cho người lao động,
23
nhất là lao động nông thôn. Việt Nam cần trau dồi rất nhiều để hạn chế lặp lại những kinh
nghiệm này
- Dân số đông thường đi đôi với nguồn nhân lực thấp kém về mọi mặt. Đây là vấn
đề phổ biến ở các quốc gia đông dân như Indonesia, Thái lan, Philipin, ít gặp phải ở quốc
gia dân số ít như Singapo, Malaysia, Đài loan…
Lý do căn bản là thiếu nguồn lực để đào tạo số nhân lực tăng lên hàng năm, đồng
thời là kết quả của sự lười biếng hơn trong lực lượng lao động trẻ sinh ra ở các nền kinh
tế. Kinh nghiệm này gợi ra cho Việt Nam cần có một chính sách dân số thông minh,
quyết đoán theo hướng phát triển dân số phải đi đôi với khả năng đào tạo và khả năng tạo
việc làm mới của xã hội. Sự toàn dụng lao động trong đó có lao động nông nghiệp, nông
thôn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu dụng lao động phi nông nghiệp hàng năm, để
chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đáp ứng đúng yêu cầu
công nghiệp hóa nền kinh tế.
Cần phân biệt thật rõ sự khác nhau giữa số lượng dân số với sức mạnh cảu nguồn
Quc.
(5). Trang Web Sinh viờn Vit Nam ngy 17/7/2008.
(6). Trang Web Th giúi sn nghip ngy 17/4 2009.
(7).
TS. T Bỏ Hng (Trng ban), TS Phựng Minh Lai (Phú trng ban), TS. Trn
Thanh Phng v cng s; Phỏt trin NNL khoa hc v cụng ngh cỏc nc ASEAN;
Trung tõm thụng tin khoa hc cụng ngh quc gia
(8). Ths Nguyn Th Kim Dung; Chuyờn Kinh nghim quc t vờ chuyn dch
c cu lao ng nụng nghip, nụng thụn; ti cp nh nc Nghiên cứu dự báo
chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở nớc ta " mó s:
KX.02.01/06-10;