Một số giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá ở Công ty thực phẩm xuất khẩu BG - Pdf 10

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
1
Lời nói đầu
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CỔ
PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG
NÔNG NGHIỆP
7
1. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp
nhà nước trong nông nghiệp
7
1.1. Khái niệm kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp 8
1.2. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước trong nông
nghiệp
8
2. Nhận thức cơ bản về cổ phần hoá và Công ty cổ
phần
10
2.1. Khái niệm cổ phần hoá 10
2.2. Khái niệm về Công ty cổ phần 11
3. Những đặc điểm cơ bản của cổ phần hoá trong nông
nghiệp
11
3.1. Trong các doanh nghiệp nông nghiệp giá trị của đất
đai chiếm một tỷ trọng lớn trong giá trị doanh nghiệp
12
3.2. Nông nghiệp từ lâu nay vẫn được coi là ngành sản

giới
35
6.1. CPH ở Trung Quốc 35
6.2. CPH ở các nước ASEAN 37
6.3. Những kinh nghiệm quốc tế về CPH có thể áp dụng
trong việc thực hiện CPH DNNN chế biến thực phẩm
xuất khẩu
38

2
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN
HOÁ Ở CÔNG TY THỰC PHẨM XUẤT KHẨU BẮC
GIANG
40
I. Chủ trương của Tỉnh về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
40
1. Mục tiêu của tỉnh Bắc Giang về sắp xếp và đổi mới
doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh quản lý
40
2. Những biện pháp thực hiện 41
II. Quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Công ty thực phẩm
xuất khẩu Bắc Giang
43
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 43
1.1. Quá trình hình thành và phát triển 43
1.2. Bộ máy tổ chức 44
1.3. Hoạt động chính của Công ty hiện nay 44

69
2.1. Phương hướng CPH của Công ty 69
2.2. Mục tiêu CPH của Công ty 70
II. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy cổ phần hoá ở Công ty
thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang
70
1. Nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
70
2. Lành mạnh hoá vấn đề tài chính của Công ty trước
khi cổ phần hoá
72
2.1. Công khai hoá những vấn đề tài chính 72
2.2. Cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp 73
2.3. Tiến hành thị trường hoá các khoản nợ 75
3. Xác định đúng giá trị doanh nghiệp 75
4. Giải quyết vấn đề lợi ích cho người lao động 78
5.Tổ chức thực hiện đúng quy trình cổ phần hoá theo
các văn bản hiện hành
80

4
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
6. Hoàn thiện cơ chế chính sách 80
6.1. Cần làm rõ hơn những ưu đãi với doanh nghiệp và
người lao động trong các doanh nghiệp CPH
81
6.2.Thay đổi cơ cấu cổ phần trong các doanh nghiệp CPH
hiện nay
81

Trải qua hơn 10 năm thực hiện cổ phần hoá (CPH)
doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) những thành tựu đã đạt được đủ để chúng ta
khẳng định rằng CPH là một chủ trương đúng đắn và phù
hợp với yêu cầu khách quan. Tuy nhiên xung quanh vấn đề
CPH còn khá nhiều tồn tại như: Cơ chế chính sách chưa
đồng bộ, quy trình CPH còn phức tạp, ưu đãi dành cho
người lao động và doanh nghiệp CPH chưa thoả đáng, việc
xác định giá trị doanh nghiệp trước khi CPH còn gặp không
ít khó khăn…. Vì vậy trong thời gian tới cần phải có giải
pháp hoàn thiện để thúc đẩy CPH DNNN.
Sau một quá trình thực tập tại Công ty thực phẩm xuất
khẩu (TPXK) Bắc Giang, Công ty đang tiến hành CPH. Từ
điều kiện thực tế cộng với kiến thức hiểu biết của mình Em
chọn đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần
hoá ở Công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang” làm luận
văn tốt nghiệp đại học.

7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Luận văn cố gắng đi sâu nghiên cứu lí luận và tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn của cổ phần hoá DNNN đặc biệt là
cổ phần hoá trong lĩnh việc nông nghiệp. Đánh giá thực
trạng quá trình CPH ở công ty thực phẩm xuất khẩu
(TPXK) Bắc Giang làm nổi bật nên những thuận lợi và khó
khăn của Công ty trong khi tiến hành CPH. Từ đó mạnh
dạn đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy CPH ở Công
ty.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chủ trương,

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG NGHIỆP
Đổi mới, sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN,
trong đó có CPH, đang là vấn đề nóng bỏng, hết sức bức súc ở Việt Nam.
Mặc dù chủ trương tiến hành CPH DNNN đã được đưa ra và thực hiện từ
lâu, song đến nay tiến độ thực hiện còn rất chậm, ngay cả khi Chính phủ giao
chỉ tiêu CPH cụ thể cho từng Bộ, ngành, địa phương. Chính vì vậy việc
nghiên cứu về mặt lí luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn CPH DNNN trong
và ngoài nước thời gian qua để tìm ra giải pháp thúc đẩy tiến trình CPH ở
nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ góp phần thúc đẩy quá
trình CPH mà còn góp phần lí giải định hướng đổi mới DNNN và kinh tế
Nhà nước nói chung.
1. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước, DNNN trong nông
nghiệp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng và phức tạp.
Nó giữ vai trò quan trọng, quyết định và không thể thiếu được trong phát
triển kinh tế ở tất cả các nước nhất là các nước đang phát triển. Các nhà kinh
tế đã chứng minh được rằng điều kiện để phát triển kinh tế đất nước là phải
tăng được lượng cung về lương thực, thực phẩm bằng cách trực tiếp sản xuất
hoặc có thể nhập khẩu từ các nước khác nếu không thể sản xuất hoặc không

10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
có lợi thế trong sản xuất nông nghiệp. Tuy có vai trò quan trọng như vậy,
nhưng lâu nay nông nghiệp vẫn được coi là ngành sản xuất kém hiệu quả,
vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, rủi ro lớn. Vì vậy, sản xuất kinh
doanh trong nông nghiệp không hấp dẫn được nhiều thành phần kinh tế tham
gia đầu tư, cho nên việc tồn tại của kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực nông
nghiệp là yêu cầu khách quan không chỉ vai trò của nông nghiệp với sự phát

nông nghiệp luôn có vai trò đầu tầu, định hướng phát triển để xây dựng một
nền nông nghiệp phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng nên
của xã hội đối với các sản phẩm nông nghiệp và không làm giảm khả năng
cho sản phẩm trong tương lai. Kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp hiện nay
có vị trí và vai trò chủ yếu sau.
- Định hướng, tạo tiềm lực cho Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết đối
với nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Doanh nghiệp nông
nghiệp Nhà nước quyết định quỹ đạo phát triển của nông nghiệp nông thôn,
đảm bảo duy trì cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Sự
can thiệp của kinh tế Nhà nước bằng tiềm lực kinh tế của mình cũng như một
số công cụ pháp luật làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động được thông
suốt, tạo lập những cân đối lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà bản
thân kinh tế thị trường không thể tự điều tiết được. Kinh tế Nhà nước trong
nông nghiệp là lực lượng xung kích trong việc thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Để thực hiện vai trò của mình thì bản

12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
thân kinh tế Nhà nước phải đủ mạnh, có thực lực thật sự để dẫn dắt các thành
phần kinh tế khác. Chúng ta không thể định hướng nền kinh tế bằng các công
cụ phi kinh tế, bằng ý chí chủ quan và ý chí chính trị.
- Kinh tế Nhà nước nắm giữ các hoạt động quan trọng của nông
nghiệp: Nông nghiệp là ngành cung cấp những sản phẩm tối cần thiết cho
nhu cầu của con người, thiếu những sản phẩm này còn người không thể tồn
tại và phát triển được. Những sản phẩm của nông nghiệp cho dù khoa học
ngày nay rất phát triển nhưng cũng chưa thể tạo ra sản phẩm thay thế. Đối
với nước ta nông nghiệp càng có vai trò quan trọng hơn khi hơn 70% dân số
nước ta vẫn hoạt động trong nông nghiệp. Trong nông nghiệp có những lĩnh
vực rất nhạy cảm chỉ cần một sự tác động nhỏ là có thể ảnh hưởng đến kinh

tuân theo các quy luật như cung cầu, giá cả, cạnh tranh…
Trong quá trình CPH, tài sản của Nhà nước được chuyển đổi sở hữu
cho nhiều đối tượng khác nhau bao gồm: các tổ chức kinh tế xã hội, các cá
nhân trong và ngoài nước, Nhà nước cũng giữ lại một tỷ lệ cổ phần cho
chính mình ở doanh nghiệp đó. Như vậy hình thức sở hữu tại doanh nghiệp
đã chuyển từ đơn sở hữu sang đa sở hữu.
Với những đặc trưng như vậy, giải pháp CPH là giải pháp quan trọng
nhất trong công cuộc cải cách DNNN đang diễn ra hiện nay; giải tỏa được
những khó khăn cho ngân sách Nhà nước, khuyến khích người lao động
đóng góp tích cực và có trách nhiệm sức lực, trí tuệ, vốn của họ cho hoạt

14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói một cách ngắn gọn CPH là
giải pháp khắc phục những vấn đề khó khăn trong khu vực kinh tế Nhà nước.
2.2. Khái niệm về Công ty cổ phần
Công ty cổ phần với tính cách là kết quả của việc CPH DNNN là công
ty được thành lập trên cơ sở hợp tác của nhiều cá nhân bằng cách phát hành
và bán cổ phiếu có mệnh giá bằng nhau. Lợi nhuận của công ty được phân
phối giữa các cổ đông theo số lượng cổ phần mà mỗi cổ đông là chủ sở hữu.
- Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau
- CTCP có tư cánh pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm
hữu hạn, cổ đông chỉ chịu tránh nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế tối đa.
- CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định

doanh nghiệp khi CPH sẽ đẩy giá trị doanh nghiệp lên rất cao trong khi đất
đai chưa thể phát huy vai trò sinh lời ngay. Giá trị doanh nghiệp cao làm sao
có thể hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp để sản xuất kinh
doanh như vậy rất khó cho CPH trong nông nghiệp. Nếu giá trị đất đai không
tính vào giá trị doanh nghiệp CPH thì Nhà nước sẽ mất đi một khoản thu và

16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp thấp hơn
giá thực tế rất dễ nẩy sinh tiêu cực.
3.2. Nông nghiệp từ lâu nay vẫn được coi là ngành sản xuất kinh
doanh kém hiệu quả đời sống của cán bộ công nhân viên còn gặp nhiều
khó khăn.
Đầu tư vào nông nghiệp thường là đầu tư dài hạn cần nhiều vốn, khả
năng sinh lời thấp rủi ro cao do sản xuất nông nghiệp phải gắn với đất đai và
điều kiện tự nhiên. Kết quả của sản xuất phải thông qua sinh trưởng và phát
triển của cây trồng và vật nuôi. Giá của sản phẩm nông nghiệp có tính biến
động lớn và ngày càng giảm so với giá của hàng công nghiệp. Chính vì sản
xuất kém hiệu quả cho nên nông nghiệp sẽ không mấy hấp dẫn với các nhà
đầu tư vì không một nhà đầu tư nào lại bỏ tiền vào một lĩnh vực kinh doanh
chứa nhiều rủi ro mà hiệu quả lại không cao trong khi họ có thể lựa cho được
cơ hội đầu tư tốt hơn. Hiệu quả kinh doanh thấp còn là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng khó khăn trong đời sống kinh tế cán bộ công nhân viên và
những người cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp. Với thu nhập như hiện
nay thì chỉ đủ trang trải những chi phí tối cần thiết cho cuộc sống làm sao tạo
được tích luỹ. Vì vậy khi CPH nguy cơ người lao động không mua được cổ
phần và nằm ngoài quá trình CPH là rất lớn cho dù Nhà nước đã có nhiều
chính sách ưu đãi. Nếu như người lao động không mua được cổ phần thì mục
tiêu CPH có đạt được không, đời sống của người lao động có được cải thiện

nghiệp hoạt động dịch vụ kĩ thuật. Các doanh nghiệp sản xuất đã quản lí và

18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
sử dụng 1,2 triệu ha đất tự nhiên trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp. Thu
hút khoảng 37 vạn lao động. Hệ thống các doanh nghiệp nông nghiệp được
phân bố rộng khắp trên mọi miền của đất nước. Tuy nhiên trong giai đoạn
hiện nay khi trình độ của lực lượng sản xuất đã được cải thiện đáng kể mà
theo như Mác thì “quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất”. Vì vậy, đã đến lúc cần phải “xã hội hoá” vấn đề sở
hữu, chuyển từ sở hữu đơn nhất sang sở hữu tập thể đó là yêu cầu khách
quan. Sự thành lập một cánh tràn lan các DNNN chỉ chú ý đến số lượng
không quan tâm đến chất lượng đã dẫn đến sự hoạt động hiệu quả của khu
vực kinh tế Nhà nước thể hiện:
- Quản lí các doanh nghiệp theo cơ chế tập trung bao cấp dẫn đến bộ
máy quản lí cồng kềnh nhưng hoạt động không hiệu quả, Nhà nước can thiệp
quá sâu vào công việc nội bộ của các doanh nghiệp trong khi lại không chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã làm giảm tính chủ
động, tăng tính ỷ lại trông chờ vào Nhà nước.
- Do được Nhà nước bao cấp nên các DNNN không có ý thức tiết kiệm
làm lãng phí nguồn lực của Nhà nước, làm tăng chi phí sản xuất, hàng hoá
làm ra không có sức cạnh tranh.

19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Bảng 1: Giá một số sản phẩm sản xuất trong nước so với các sản
phẩm nhập khẩu (quý I năm 1999)
Đơn vị: USD/tấn

phát triển được nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế ngày càng hiện rõ.
- Do hoạt động không hiệu quả nên các DNNN là gánh nặng cho ngân
sách. Hằng năm ngân sách Nhà nước phải chi một khoản không nhỏ đề bù lỗ
và duy trì hoạt động của các DNNN trong khi nhiều lĩnh vực khác như y tế,
giáo dục lại không nhận được sự đầu tư cần thiết. Trong 3 năm 1997-1999,
ngân sách Nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho các doanh nghiệp gần 8000 tỷ
đồng, trong đó có 6.482 tỷ đồng cấp bổ sung cho doanh nghiệp, 1.464,4 tỷ

20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
đồng là bù lỗ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Ngoài ra Nhà nước còn miễn
giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xoá nợ 1.088 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng,
giãn nợ 540 tỷ đồng cho vay tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng. Nhưng đáng chú
ý là việc này không mang lại hiệu quả tương ứng, số nộp vào ngân sách Nhà
nước ít hơn phần Nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp. Điều này không chỉ
tăng thâm hụt ngân sách nhà nước mà còn tạo ra sự mất cân đối nghiêm
trọng trong đầu tư phát triển kinh tế.
Đổi mới sắp xếp lại hoạt động của các DNNN là yêu cầu khách
quan phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta và xu thế của thời đại. Có
nhiều biện pháp để sắp xếp đổi mới hoạt động của DNNN như giao, khoán,
bán, cho thuê nhưng CPH là giải pháp có nhiều ưu điểm hơn cả.
4.1. CPH cho phép huy động tối đa nguồn vốn từ các tổ chức cá
nhân trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.
Vốn là điều kiện tồn tại và phát triển cho mỗi doanh nghiệp nói riêng và
cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hiện nay các DNNN nói chung và các
DNNN trong nông nghiệp nói riêng đang đứng trước thực trạng là gần như
không có vốn lưu động để hoạt động. Số vốn lưu động mà các doanh nghiệp
có thể tự chủ được chỉ chiếm 10 – 30% để đảm bảo cho hoạt động của mình
các doanh nghiệp phải thường xuyên vay của các ngân hàng Thương mại.

sử dụng đã khấu hao hết, 50% đã được tân trang, 38% số máy móc nằm

22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
trong tình trạng chờ thanh lí. Với công nghệ như vậy làm sao ta có thể tạo ra
những sản phẩm có sức cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước chứ chưa
nói đến thị trường nước ngoài nguy cơ mất thị trường ngày càng hiện rõ.
Thực tế hiện nay giá các mặt hàng nông sản chế biến của ta hiện nay chỉ
bằng 70-80% giá sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực và trên thế
giới. Trong xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta lại sắp trở thành thành viên của
APTA và WTO nếu duy trì tình trạng như hiện nay thì không tránh khỏi
nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. CPH đưa người lao động lên làm chủ, có
quyền quyết định mọi hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động của
doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ cho nên để tồn tại và
phát triển họ phải đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, giảm giá thành tăng
sức cạnh tranh.
4.3. Nâng cao tiềm lực của kinh tế Nhà nước
Qua bán cổ phần Nhà nước đã huy động được một lượng vốn quan
trọng từ người lao động trong doanh nghiệp, trong dân cư để đầu tư phát
triển. Tại hơn 1000 doanh nghiệp đã CPH tính đến hết ngày 20/11/2003 Nhà
nước đã thu hồi được hơn 4000 tỷ đồng để đầu tư vào các DNNN khác và
giải quyết một số chính sách cho người lao động trong DNNN thực hiện
CPH. Vốn và tài sản Nhà nước trong các CTCP không chỉ được bảo toàn mà
còn tăng lên đáng kể. Hàng năm Nhà nước thu được lợi tức từ cổ phần Nhà
nước tại CTCP, các khoản lãi do người lao động vay mua cổ phiếu, các
khoản thuế từ CTCP. Bên cạnh đó hàng năm Nhà nước không phải mất một
khoản hỗ trợ vốn hoặc bù lỗ cho các doanh nghiệp đã CPH.

23

nghiêm túc lắng nghe…Bên cạnh việc quản lí tập trung không khí sinh hoạt
dân chủ thực sự được cải thiện ở CTCP.
5. Những chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước
về CPH và quá trình thực hiện
5.1. Những chủ trương chính sách
Chủ trương CPH DNNN đã được hình thành từ cuối
những năm 80. Tại điều 22 của Quyết định số 217/HĐBT
ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng nay là Chính phủ
đã ghi “Bộ Tài chính nghiên cứu và tổ chức làm thí điểm
việc mua bán cổ phần ở một số xí nghiệp (Quốc doanh) và
báo cáo lên Hội đồng bộ trưởng vào cuối năm 1998”. Đó là
một chủ trương hoàn toàn đúng đắn nhưng có lẽ hơi sớm so
với điều kiện cụ thể lúc đó bởi vì:
- Những tiêu cực, yếu kém của khu vực Quốc doanh chưa bộc lộ một
cách đầy đủ, như là một đòi hỏi bức bách cần phải giải quyết.
- Những hiểu biết về kinh tế thị trường, đặc biệt là vấn
đề CPH của chúng ta còn ít ỏi chưa đủ sức triển khai. Vì thế
chủ trương đúng đắn đó đã bị lãng quên.
Đến năm 1989 tức hai năm sau Chính phủ lại có Quyết
định số 143/HĐBT ngày 10/05/1989 về thí điểm CPH một

25

Trích đoạn CP Hở một số nước ASEAN Những kinh nghiệm quốc tế về cổ phần hoỏ cú thể ỏp dụng trong việc cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước Những biện phỏp thực hiện Những đặc điểm kinh tế kĩ thuật của cụng ty cú ảnh hưởng đến tiến trỡnh CPH CPH nhằm thay đổi cơ chế quản lớ: Sự thay đổi cơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status