TIỂU LUẬN
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG
THÂM CANH HOA TẠI
TRIỆU SƠN – THANH HÓA
1
Mục lục
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 3
2. Tổng quan 4
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1. Đối tượng nghiên cứu 11
2.2. Phương pháp nghiên cứu 11
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 12
3.1. Khái quát về cây hoa 12
3.2. Khái quát tình hình thâm canh hoa ở Triệu Sơn, Thanh Hóa 14
3.2. Thực trạng quản lý thuốc bảo vệ thực vật ở Triệu Sơn, Thanh Hóa 16
3.2. Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong thâm canh hoa ở Triệu Sơn, Thanh Hóa 19
3.3 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong thâm canh hoa ở Triệu Sơn, Thanh Hóa 26
Mười nguyên tắc đảm bảo cho sử dụng phân bón hợp lý 28
10 nguyên tắc bón phân hợp lý 28
1. Đúng thuốc 36
2. Đúng liều lượng và nồng độ 37
4. Đúng cách 38
sTÀI LIỆU THAM KHẢO 41
2
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm trên 70% dân số cả nước. Do
vậy,nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Khi nền
nông nghiệp càng phát triển, đi vào thâm canh, sản xuất hàng hoá thì vai trò của
công tác bảo vệ thực vật, đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng quan
trọng đối với sản xuất. Thuốc BVTV đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa ở
Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai. Hoa được trồng lâu đời và tập trung
một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Tây Tựu (Hà Nội),
Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn
(Thanh hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh) với tổng diện lích trồng
khoảng 3500 ha.
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát
triển, diện tích hoa tăng nhanh. Điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng đã tạo điều
kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống trồng hoa thâm canh đã
được nhà nước quan tâm và hỗ trợ. Theo Viện Nghiên cứu Rau-Quả thì hiện nay
lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10- 15 lần so với trồng lúa và 7-8 lần
so với trồng rau.
Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy
nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt
Nam (hoa sen, hoa nhà và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong
mùa Đông (hồng, cúc ). Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước
có 9430ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng.
Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng hoa lớn sau:
4
- Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc
thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa. Hoa được trồng ở hầu hết các tỉnh
của vùng trong đó tập trong nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam
Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Hoa ở vùng này chủ yếu phục vụ tiêu thụ
trong nước,và một số chủng loại nhỏ đã xuất khẩu sang Trung Quốc (hồng, cúc ).
Hồng là loài hoa phổ biến nhất chiếm 35%, tiếp đến là hoa cúc (30%), hoa đồng
tiền (10%), còn lại là các loài hoa khác (25%).
- Vùng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện khí hậu thời tiết rất phù hợp cho trồng các
loại hoa, mặc dù diện tích không lớn nhưng đãy là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp
với chất lượng tốt: phong lan, địa lan, lấy, hồng, đồng tiền… Diện tích trồng các
loài hoa tăng 1,74 lần so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 1996-2000, chỉ riêng
Trước đây, nông dân các xã Mê Linh, Tiền Phong, Đại Thịnh, Văn Khê, Tráng Việt
trồng hoa hồng Đà Lạt, nhưng gần đây giống hoa hồng Đà Lạt bị thoái hóa, hoa
nhỏ, chóng tàn, màu sắc không đẹp, nên nông dân Mê Linh đã mạnh dạn trồng
những giống hoa hồng nhập ngoại như hoa hồng Pháp, Italia thay thế cho hoa hồng
Đà Lạt. Những giống hoa hồng nhập ngoại được trồng trên đất Mê Linh đã đem lại
giá trị thu nhập cao hơn so với trồng hoa hồng Đà Lạt, vì hoa hồng ngoại rất thích
hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở đây, nên hoa hồng ngoại vừa to, vừa đẹp và lâu
tàn hơn so với hoa hồng Đà Lạt. Mới đây, vùng hoa Mê Linh còn nhập giống hoa
đồng tiền của Trung Quốc vào trồng đã cho kết quả cao. Hoa đồng liền với nhiều
màu sắc và được khách hàng chơi hoa ở Thủ đô Hà Nội và nhiều tỉnh ở vùng đồng
bằng sông Hồng ưa chuộng. Bên cạnh những giống hoa trên, vùng hoa Mê Linh
còn trồng nhiều giống hoa như: hoa cúc Nhật Bản, hoa phăng Pháp, hoa tay Hà
Lan, hoa huệ, hoa thược dược và làm cây cảnh phục vụ đủ các loại khách hàng chơi
hoa và cây cảnh ở khắp mọi miền đất nước. Không những nhạy bén với chuyển đổi
6
cơ cấu giống hoa để phù hợp với thị trường hoa, mà nông dân ở Mê Linh còn tiếp
thu nhanh những công nghệ mới vào trồng hoa như trồng hoa theo phương pháp
cấy mô, trồng hoa trong nhà che phủ nhận và trồng hoa sạch bằng cách: tưới hoa
bằng nước sạch, bón cho hoa bằng phân vi sinh và không phun thuốc trừ sâu cho
hoa mà phòng trừ sâu bệnh cho hoa bằng phương pháp tổng hợp IPM, giúp cho
người chơi hoa sạch, không bị ô nhiễm môi trường trong phòng để hoa.
Hoa của Việt Nam cũng đã được xuất khẩu, riêng lượng hoa xuất khẩu của công ty
sản xuất hoa Hasfarm 100% vốn nước ngoài ở Đà Lạt đã đem lại doanh thu trên 4
triệu USD/năm. Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ hoa sẽ ngày
càng tăng cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế. Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị
trường, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tích trồng hoa lên khoảng 10.000 ha,
với sản lượng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệu USD vào
năm 2010. Theo đó, một số vùng sản xuất chính đã được quy hoạch, gồm Hà Nội,
TP.HCM, Sapa (Lào Cai), Đà Lạt, Đức Trọng (Lâm Đồng), Hải Phòng, Vĩnh Phúc,
Thái Bình…
urê; 1,85 triệu tấn phân NPK; DAP 0,7 triệu tấn; 1,6 triệu tấn phân lân trong nước
sản xuất và một số chủng loại phân khác (SA, Kali ).
Tuy nhiên, thị trường phân bón Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nhập
khẩu. Công nghiệp sản xuất phân bón nội địa Việt Nam mới chỉ đáp ứng được
khoảng 50-60% cầu về urê, 100% phân lân nung chảy và NPK từ lân nung chảy.
Các loại phân khác như SA, Kali hiện nay đang phải nhập khẩu 100%. Đặc biệt,
thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, chiếm tới trên 30%
tổng kim ngạch nhập khẩu.
(Nguồn: AGROINFO)
8
Các DN phân bón chưa hợp tác với nhau nên không tạo được sức mạnh chung để
đối phó với các đối tác nước ngoài.Hiện thị trường phân bón Việt Nam chưa có
chiến lược phát triển dài hạn, các văn bản quản lý điều hành còn mang tính sự vụ.
Chưa có luật phân bón và chiến lược dài hạn cho ngành phân bón Việt Nam để tạo
hành lang pháp lý và điều hành vĩ mô mang tầm chiến lược để phát triển bền vững
ngành nông nghiệp Việt Nam. Xem xét một cách hệ thống các văn bản điều hành
quản lý thị trường phân bón của các đơn vị liên quan như Bộ Nông Nghiệp, Bộ Tài
Chính, bộ Công Thương từ trước tới nay, Việt Nam chưa có chính sách, chiến
lược dài hạn đối với ngành phân bón. Theo cơ sở dữ liệu luật của AGROINFO về
ngành phân bón kể từ năm 1999 tới nay có khoảng 60 văn bản điều chỉnh ngành
phân bón, trong đó có khoảng 29 công văn, 25 quyết định và 6 thông tư, tất cả đều
là các văn bản dưới luật có hiệu lực thấp và liên tục bị thay thế.
- Thuốc BVTV:
Ngành sản xuất thuốc BVTV trong nước có tốc độ tăng trưởng khoảng 5%/năm về
sản lượng trong giai đoạn 2001-2008. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng
trưởng về sản lượng của ngành thuốc BVTV chỉ đạt khoảng 0,87%/năm. Nguyên
nhân giải thích cho việc sản lượng thuốc BVTV tăng trưởng chậm trong những
năm gần đây là do việc sử dụng thuốc BVTV phụ thuộc rất nhiều vào diện tích đất
nông nghiệp, vì diện tích đất nông nghiệp không tăng lên, đặc biệt là trong những
năm gần đây đã đưa tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất như 3 giảm 3 tăng, 1
- Phương pháp tính toán thống kê: Áp dụng các phần mềm tính toán thống kê
để đánh giá về hiện trạng quản lí và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong xã Tây
Tựu
- Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh danh sách thuốc BVTV thực tế
ngoài đồng ruộng, tại các cửa hàng kinh doanh và thu thập được do điều tra trực
tiếp người dân về danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng.
11
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát về cây hoa.
Nhu cầu dinh dưỡng của cây hoa
a) Bón lót khi trồng (lượng bón cho 1.000m2)
- Vôi bột hoặc đôlômít: 100-150kg.
- Phân chuồng hoai: 4-6 tấn.
b) Bón thúc cho gốc ghép (sau khi đặt gốc hồng dại):
- Compomix: 20-30 kg/1.000m2/lần. Bón 5 lần, định kỳ 1 tháng/lần kết hợp làm cỏ,
vun xới.
c) Bón thúc sau khi ghép mắt:
Sau trồng 6 tháng thì tiến hành ghép mắt, sau ghép 15 ngày sẽ hạ giàn và bón thúc
+ Thúc mầm lần 1 (sau khi ghép 30-35 ngày): 5-6 tấn phân chuồng hoai/công.
+ Thúc mầm lần 2 (sau ghép 45-50 ngày): 40-60 kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu
cho 1.000m2
+ Thúc sau mỗi lần tỉa nhánh: 15-20kg NPK 13-13-13 + TE Đầu Trâu cho
1.000m2. Kết hợp phòng ngừa sâu bệnh.
+ Thúc định kỳ 15 ngày bón 1 lần, lượng bón 50-70kg NPK 13-13-13 + TE Đầu
Trâu cho 1.000m2.
+ Bón phân magiê: Định kỳ 4-5 tháng bón 1 lần với lượng 1,5-2kg
MgSO4/1.000m2 bằng cách trộn với phân NPK bón gốc hoặc hòa với nồng độ 0,3-
0,5% để phun qua lá.
+ Phun qua lá: Phân bón thích hợp cho các thời kỳ phát triển của hồng là Đầu Trâu
501, 701 và 901, đây là loại phân có đầy đủ và cân đối đa, trung, vi lượng và các
Bệnh đốm đen:
13
+ Đặc điểm triệu chứng: Vết bệnh hình tròn hoặc hình bất định ở giữa màu xám
nhạt, xung quanh màu đen. Bệnh thường phá hại trên các lá bánh tẻ, vết bệnh xuất
hiện ở cả 2 mặt lá. Bệnh nặng làm lá vàng, rụng hàng loạt. Đây là một trong những
bệnh chủ yếu hại cây hoa hồng.
+ Nguyên nhân gây bệnh Do nấm Dipbocarpon Rose gây ra.
+ Biện pháp phòng trừ: Vườn trồng hồng thông thoáng, đất không bị ngập úng. Tỉa
bỏ những cành lá mang mầm bệnh, làm sạch cỏ và thu dọn các tàn dư gây bệnh.
Dùng một số thuốc đặc hiệu như Score 250 ND, Zineb 80 WP nồng độ 30- 50 g/ 10
lít nước hoặc Antracol 70 BHN pha 20-30 g thuốc/ bình 8 lit với nồng độ 4 ml
thuốc/bình 8 lít. Lượng phun 30-40 bình/ha.
- Sâu xanh (Heli coverpa armigerra Hb)
Sâu phá hại nặng trên lá non, ngọn non, nụ và hoa. Sâu trưởng thành đẻ trứng rải
rác thành từng cụm ở cả 2 mặt lá non, ở nụ hoa, đài hoa và hoa.
+ Biện pháp phòng trừ: Luân canh với cây trồng khác. Ngoài ra có thể dùng các
loại thuốc trừ sâu: pegasus 500SC liều lượng 0,5-1 lít/ha (pha 7- 10 ml/bình 8 lít)
- Rệp: (Aphis gosssypii Glover) Trên đồng ruộng thường có rệp nhảy và rệp muội.
Rệp phá hại trên thân, lá, ngọn non cây hồng. Đặc biệt rệp sáp hình bầu dục, mình
phủ sáp trắng, không thấm nước. loại rệp này thường sống cộng sinh với kiến. Có
thể dùng thuốc Ancol 20 EC phun 1 lít/ha hoặc Karate 2,5 EC nồng độ 5- 10 ml/
bình 8 lít. Supacide 40 ND liều lượng 1- 15 lít/ha.
- Nhện đỏ (Tetranychus urticae Koch)
Nhện đỏ gây hại nặng trên cây hoa hồng. Nhện thường cư trú ở mặt dưới lá chích
hút dịch bào trong mô lá hồng, tạo thành vết hại có màu sáng, dần dần các vết chích
này liên kết với nhau. Khi bị hại nặng, lá cây hồng có màu nâu vàng rồi khô và
rụng. Khi có thể dùng thuốc Ortus 5 SC hoặc Comite với liều lượng 1 lít/ ha.
3.2. Khái quát tình hình thâm canh hoa ở Triệu Sơn, Thanh Hóa
14
Diện tích đất trồng hoa của Triệu Sơn, Thanh Hóa vào khoảng 280 ha, chiếm
hoặc quá nắng sâu bệnh phát triển mạnh, nếu không phun thuốc kịp thời với liều
lượng lớn, tiêu diệt nhanh thì khi trứng nở thành sâu, hoa sẽ phải bỏ. Bên cạnh đó,
việc trừ dịch bệnh cần phải nhanh chóng và hiệu quả nên cần thuốc tác dụng nhanh
không quan tâm đến độc tính hay giá thành. Do vậy vi phạm về nồng độ phun, cách
phối trộn thuốc và thời gian phun thuốc cũng là điều dễ hiểu.
Theo kinh nghiệm thực tế, sự xuất hiện sâu bệnh trên hoa thường mang tính
chu kì nên có thể chia thời điểm phun thuốc ra làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: tháng 4 - 7, đây là giai đoạn nhiều sâu nhất, vì thế tần suất phun
thuốc cho hoa rất cao. Trung bình cách một ngày phun thuốc một lần; bên cạnh đó,
cần bổ sung dinh dưỡng cho cây để cây không phát triển chậm lại nhưng chưa cần
đầu tư mạnh với tần suất bón là 15 ngày 1 lần.
Giai đoạn 2: gồm các tháng 3, 8, 9 và tháng 10. Giai đoạn này vẫn còn nhiều
sâu nhưng ít hơn giai đoạn 1, do đó tần suất phun thuốc cũng giảm ( 5-7 ngày phun
thuốc 1 lần) so với giai đoạn 1; giai đoạn này là giai đoạn chuẩn bị cho đợt ra hoa
chính nên bổ sung dinh dưỡng là điều cần chú trọng. Những biểu hiện của cây sẽ
hướng đến cách chăm sóc và bón phân hợp lí cứ 5-8 ngày 1 lần.
Giai đoạn 3: gồm các tháng 1, 2, 11 và tháng 12. Giai đoạn này ít sâu bệnh
nhất trong năm, tần suất phun thuốc giảm mạnh, cứ 10 - 15 ngày phun thuốc 1 lần.
Với năng suất đạt được để mang lại hiệu quả lâu dài nên cứ 20 ngày ta bón phân 1
lần.
3.2. Thực trạng quản lý thuốc bảo vệ thực vật ở Triệu Sơn, Thanh Hóa
Theo các tài liệu nghiên cứu cách đây hơn 10 năm, khi đó việc kinh doanh
hoa còn nhỏ lẻ, việc phân phối thuốc BVTV đến người dân do nhà nước quản lí.
Thuốc BVTV được đưa từ chi cục BVTV huyện xuống hợp tác xã. Hợp tác xã sẽ
chịu trách nhiệm phân phối thuốc BVTV đến từng hộ dân. Tuy nhiên, thuốc đi theo
con đường này thường thiếu về số lượng và chủng loại. Vì thế, người dân Tây Tựu
16
thường phải tích luỹ một lượng lớn thuốc “độc” trong nhà. Ví dụ: nhóm lân hữu cơ,
nhiều nhất là Wofatox. Trung bình mỗi hộ dân ở xã Tây Tựu tích trữ khoảng 0,22-
0,23 lít. Monitor là 0,86-0,13 l/hộ. Bassa 0,01-0,12 l/hộ, thậm chí có hộ còn tích trữ
nhiên, trên thực tế ở một số cửa hàng, người đứng bán không phải là người đã từng
qua lớp tập huấn về BVTV hoặc chưa có đăng kí mở cửa hàng. Mức độ tiếp cận
17
thông tin về thuốc TBVTV của người dân còn rất hạn chế. Theo các kết quả điều
tra thì tỉ lệ số người được tư vấn về cách chọn mua thuốc chỉ là 22% (10/45 người
được hỏi), không được tư vấn là 78% (35/45 người được hỏi). Thông thường người
dân được tư vấn mua loại thuốc nào hay các loại thuốc mới ngay tại cửa hàng bán
thuốc. Số người không được tư vấn về cách chọn thuốc, chủ yếu chọn thuốc theo
kinh nghiệm và theo sự mách bảo của người bên cạnh. Khi việc chuyên canh hoa
ngày càng phát triển, việc những người dân trồng hoa theo kinh nghiệm sẵn có sẽ
không bao giờ có lãi do tốn tiền đầu tư lớn mà hoa bán ra không đủ sức cạnh tranh
với thị trường. Trường hợp bà con được người bán hàng tư vấn về cách chọn thuốc
cũng còn nhiều vấn đề bất cập do nhu cầu về lợi nhuận hoặc thiếu hiểu biết về
chuyên môn. Không phải tất cả những người bán thuốc đều đã được đi tập huấn về
BVTV (có giấy chứng chỉ) mà người đứng bán có thể là người nhà của người được
cấp chứng chỉ hoặc là lao động tự do.
Chính sự thiếu hiểu biết cần thiết về chuyên môn và vì mục đích kiếm lời mà
gần đây hiện tượng thuốc giả xảy ra thường xuyên không kiểm soát được. Thuốc
giả thường do những người trong khu vực làm ra và lấy bao bì của công ty đóng
gói vào hoặc có thể do thuốc nhập lậu từ Trung Quốc.
Loại thuốc giả do người dân tự pha chế có hai loại: Một loại thường có độc
tính rất cao, khi phun sâu bệnh chết ngay, giá lại rất rẻ. Do đó, sử dụng thuốc này
cho hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được công lao động nhưng rất nguy hại đến môi
trường sinh thái và sức khoẻ người lao động. Loại thứ hai thường chứa hoá chất giả
không có tác dụng diệt sâu bệnh, loại này thường có nhãn mác giống hàng thật nên
người dân không thể biết được nhưng khi dùng thuốc sâu bệnh không chết. Hiện
nay ngoài các cửa hàng đã đăng kí kinh doanh, thuốc BVTV còn được bán ngoài
chợ. Do cơ chế thị trường nên các gia đình sẽ tự phải lo mua thuốc, pha thuốc thế
nào cho hợp lí và kinh tế nhất. Chính vì vậy, việc dùng thuốc BVTV ở Triệu Sơn
hiện nay có xu hướng “mạnh ai người ấy làm” nên có hiện tượng phun thuốc tràn
STT
Tên thuốc
BVTV
% số người
sử dụng
Được
phép sử
dụng
Cấm sử
dụng
Không có
trong danh
mục
Hạn
chế sử
dụng
1 Sherpa 85,0%
(51/60)
*
2 Selecron 63,0%
(38/60)
*
3 Score 250 ec 85,0%
(51/60)
*
4 Padan 95sp 83,3%
(50/60)
*
5 Thasodant 18,3%
(11/60)
hạn chế sử dụng, 1 loại thuốc cấm sử dụng và 3 loại không nằm trong danh mục
(bảng 4 và 5). Triệu Sơn rất phong phú về chủng loại. Chúng thuộc nhiều nhóm
thuốc như: Cacbamat, Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Pyrethroid, nhóm thuốc sinh học và
nhiều nhóm khác:
- Nhóm Cacbamat: thuộc nhóm này có 3 loại thuốc có tên thương mại là
Carbenzim (trừ bệnh), Sanedan và shachong shuang (trừ sâu), đều thuộc nhóm độc
II, chiếm 13,04% tổng số thuốc.
- Nhóm Clo hữu cơ: chỉ có 1 loại thuốc Qick (trừ sâu), thuộc nhóm hoạt chất
2,4D, nhóm độc I (rất độc).
- Nhóm Lân hữu cơ: sử dụng 2 loại thuốc là Metyl-annong và Selecron đều
có tác dụng trừ sâu và thuộc nhóm độc II.
- Nhóm Pyrethroid: có 2 loại thuốc là Sec Saigon và Sherpa cùng thuộc một
nhóm hoạt chất Cypermethrin có tác dụng trừ sâu.
- Các nhóm khác: Tiertiary amine (amin bậc 3), Chloronicotyl, Đồng, Lưu
Huỳnh dùng từ 1 đến 2 loại thuốc. Thuốc sinh học được sử dụng rất ít tại địa
phương. Đặc biệt, nhóm thuốc hỗn hợp nhiều hoạt chất đang được người dân sử
dụng nhiều (chiếm 17,4% tổng số thuốc sử dụng).
Bảng 4. Danh sách các loại thuốc BVTV đang được sử dụng thực tế trên đồng
ruộng hoa Triệu Sơn, Thanh Hóa và độc tính của chúng (kết quả thu thập thực
tế trên ruộng hoa)
Stt Tên hoạt chất Tên thương mại
Nhó
m
độc
Nhóm thuốc
1 Carbendazim Carbenzim II
Cacbamat
2 Thiosultap-Sodium Sanedan II
3 Thiosultap-Sodium Shachong shuang II
4 Fenitrothion Metyl-annong II
mục
1 Wafatox 50EC (Methyl
Parathion), nhóm độc I
*
2 Lannate 40 SP (Methomyl),
nhóm độc I
*
3 Benvil 50SC *
4 Disara 10WP *
5 Kocide 53,8 DP *
Trong 23 loại thuốc đang được sử dụng thực tế trong thâm canh hoa ở Triệu
Sơn cho thấy, chúng thuộc cả 3 nhóm có độc tính từ nhóm độc I (rất độc), nhóm
độc II (độ độc cao) và nhóm độc III (độ độc trung bình) (theo phân chia nhóm độc
của Việt Nam).
Thuốc BVTV được sử dụng nhiều nhất là nhóm độc II (chiếm 73,7%), tiếp
đến là nhóm độc III và nhóm độc I cùng chiếm 13,2% (bảng 6). Đặc biệt, người
dân vẫn sử dụng nhiều loại thuốc đã cấm sử dụng, nhiều loại thuốc không có trong
danh mục, không rõ nguồn gốc, không có chỉ dẫn sử dụng và tác dụng của thuốc
22
như Benvil, Disara, Kocide. Thực trạng này sẽ gây ra những vấn đề khó kiểm soát
như: ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; dịch bệnh gia tăng do tính kháng
thuốc của sâu bệnh; bệnh tật của người dân trong vùng.
Bảng 6. Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc bảo vệ thực vật theo độc tính
Nhóm độc Số lượng Tỷ lệ (%)
I 3 13,1
II 17 73,7
III 3 13,2
Tổng 23 100
Việc sử dụng thuốc BVTV, nguyên tắc nhất thiết phải theo hướng dẫn trên
bao bì về thời điểm phun và liều lượng phun của thuốc. Tuy nhiên, việc sử dụng
và các vùng lân cận
Qua điều tra, khảo sát trên thực địa có thể nhận thấy ý thức về bảo hộ lao
động và bảo đảm sức khoẻ của người dân khi phun thuốc còn rất hạn chế. Khi phun
thuốc chỉ có 14% số người có đeo kính mắt; 21% số người đi ủng; 40% đeo găng
tay; 78% đội mũ và 100% số người đeo khẩu trang. Các dụng cụ bảo hộ lao động
được sử dụng ở đây quá thô sơ, không đảm bảo về mặt an toàn lao động. Ngay cả
một bộ quần áo bảo hộ lao động đơn giản, bình thường người dân cũng không có
đủ. Đây không phải người dân gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các dụng cụ bảo
hộ lao động mà do ý thức của người dân về vấn đề bảo vệ sức khoẻ không cao,
hoặc có thể biết nhưng không sâu sắc nên không có biện pháp phòng ngừa. Chính
vì vậy, việc tuyên truyền những tác hại của thuốc BVTV đến sức khoẻ người dân
24
một cách kịp thời sẽ tạo nên những thói quen thận trọng hơn khi tiếp xúc và sử
dụng thuốc BVTV.
“Khi phun thuốc nếu có biểu hiện khó chịu thì các anh (chị) sẽ làm gì?”, có
68,34% số người được trả lời phỏng vấn không quan tâm đến và vẫn phun tiếp;
23,33% số người dừng phun thuốc, nghỉ ngơi sau khi hết biểu hiện mệt mỏi sẽ phun
tiếp và 8,33% số người nói sẽ nhờ người khác phun. Như vậy, tỉ lệ số người không
quan tâm đến sức khoẻ vẫn chiếm đa số. Người dân vẫn biết, thuốc BVTV là rất
độc hại nhưng vì cuộc sống nên vẫn phải làm, bất chấp những hiểm hoạ tiềm ẩn.
Giá như người dân có ý thức hơn về việc sử dụng các dụng cụ bảo hộ lao động thì
những nguy cơ mắc bệnh chắc chắn sẽ giảm thiểu.
Đánh giá hậu quả việc sử dụng thuốc BVTV
Do lợi ích mà thuốc trừ sâu mang lại quá lớn và đáp ứng những nhu cầu của người
dân nên việc lạm dụng thuốc trừ sâu là việc không tránh khỏi. Ô nhiễm đất, nước,
không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe con người chính là hậu quả mà chùng ta
đang phải đối diện;
Vì lượng thuốc trừ sâu mà Triệu Sơn sử dụng khá lớn nên ngoài việc ảnh hưởng tới
sức khoẻ thì môi trường nơi đây cũng đang trong tình trạng kêu cứu. Nguồn nước,
bầu không khí hàng ngày phải hứng chịu những cơn “mưa” thuốc sâu.