November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
1. Hoàng Ngọc Duy (Nhóm trưởng)
2. Đào Tú Anh
3. Nguyễn Ngọc Cường
4. Đinh Ngọc Duy
5. Nguyễn Văn Trọng Nhân
6. Võ Lê Minh Phú
7. Lê Quang Sinh
8. Hồ Văn Thái
9. Nguyễn Vĩnh Thuận
10. Keomanivong Dalouny
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
LI CM N
ể thực hiện và hoàn thành xong bài báo cáo nhóm thực tế giáo
trình này, nhóm chúng em đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp
đỡ từ phía Khoa Kế toán-Tài chính, giáo viên hướng dẫn và các
thầy cô giáo.
Với tình cảm chân thành, cho phép nhóm chúng em được bày tỏ lòng biết ơn tới
thầy cô giáo Khoa Kế toán-Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Huế đã giúp đỡ, trang bị
kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, nhóm chúng em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Trần Thị Bích
NHTM
Ngân hàng thương mại
TTCK
Thị trường Chứng khoán
TCTD
Tổ chức tín dụng
VCSH
Vốn chủ sở hữu
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
DANH MC BI
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2006
Biểu đồ 2.3: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2007
Biểu đồ 2.4: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2008
Biểu đồ 2.5: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2009
Biểu đồ 2.6: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2010
Biểu đồ 2.7: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2011
Biểu đồ 2.8: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2012
Biểu đồ 2.9: Tình hình biến động lãi suất huy động giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.10: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2006
Biểu đồ 2.11: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2007
Biểu đồ 2.12: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2008
Biểu đồ 2.13: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2009
Biểu đồ 2.14: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2010
Biểu đồ 2.15: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2011
Biểu đồ 2.16: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2012
DANH M
Sơ đồ 1.1: Mô hình quy trình nghiên cứu
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc
MC LC
LI C
DANH MC BI
DANH MC BNG BIU
DANH M
MC LC
PHT V 1
1. Lý do thực hiện đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu đề tài 3
PHN II: NI DUNG VÀ KT QU NGHIÊN CU 4
NG QUAN V LÃI SU NG CA LÃI
SUN GIÁ C PHIU 4
1. Cở sở lý luận về lãi suất 4
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu 8
3. Tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu 12
NG LÃI SUT VÀ CH S VN-
INDEX TRÊN TH NG CHNG KHOÁN VIT NAM 16
1. Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn từ 2006 - 2012 16
2. Tình hình biến động lãi suất giai đoạn từ 2006-2012 23
cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại. Không chỉ có những nhà kinh tế, các
doanh nghiệp mà các cá nhân cũng rất quan tâm. Sự biến động của lãi suất trên thị
trường tiền tệ tuy có tác động gián tiếp nhưng rất nhạy cảm đến Thị trường Chứng
khoán. Lãi suất tăng sẽ thu hút nhu cầu gửi tiền vào hệ thống ngân hàng vì mức sinh
lời khi gửi tiền tăng, khiến cho dòng tiền đổ vào Thị trường Chứng khoán bị ảnh
hưởng. Lãi suất tăng cũng khiến cho lợi suất kỳ vọng trên Thị trường Chứng khoán
phải tăng (nhà đầu tư đòi hỏi lợi suất đầu tư chứng khoán cao hơn), trong bối cảnh này
thì giá thị trường của cổ phiếu sẽ bị sụt giảm.
Mặt khác, lãi suất biến động sẽ kéo theo sự ảnh hưởng của các nhân tố khác, hệ
quả là doanh thu của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận
tương lai của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, làm giá cổ phiếu doanh nghiệp trên thị
trường sa sút. Hơn nữa, giá cổ phiếu và các tài sản tài chính là một trong những thước
đo quan trọng nhất thể hiện sức khoẻ của nền kinh tế hiện đại. Trong những năm gần
đây, sự suy giảm tăng trưởng kinh tế bởi ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
làm Thị trường Chứng khoán có nhiều biến động, đặc biệt là giá cổ phiếu có những
phiên thay đổi bất thường. Do đó, để cung cấp đầy đủ bức tranh về tình hình cũng như
mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản mà cụ thể ở đây là
lãi suất trên Thị trường Chứng khoán nước ta, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu
với đề tài “Phân tích sự tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu trên Thị trường
Chứng khoán Việt Nam” để giúp mọi người hiểu rõ hơn về những vấn đề trên.
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 2
2. Mu
Đề tài tập trung giải quyết một số mục tiêu cụ thể sau:
o Đánh giá tình hình biến động của chỉ số VN-Index và lãi suất trên Thị trường
Chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 đến 2012.
o Nghiên cứu sự ảnh hưởng và tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu bằng cách
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 3
Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ liệu phục vụ cho
mục đích nghiên cứu.Đồng thời sử dụng phương pháp xử lí số liệu chuỗi thời gian
bằng phần mềm Eviews 6 để phân tích các số liệu thu thập được và kết hợp với các
kiến thức về thống kê, kinh tế lượng,… để đưa ra những kết luận cụ thể.
Quy trình nghiên cứu:
Sơ đồ 1.1: Mô hình quy trình nghiên cứu
5. Kt c tài
Nội dung đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần lớn:
Phn I: t v
Phn II: Ni dung và kt qu nghiên cu. Phần này được chia thành 3
chương chính như sau:
o Chương 1: Tổng quan về lãi suất và tác động của lãi suất đến giá cổ
phiếu
o Chương 2: Tình hình biến động lãi suất và chỉ số VN-Index trên Thị
trường Chứng khoán Việt Nam
o Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu về sự tác động của lãi suất đến
giá cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Phn III: Kt lun
Mặt khác ở tầm kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là công cụ điều tiết cho vay nhạy bén
và hiệu quả; thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất
định. Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung cầu vốn quyết định. Khi cung lớn hơn cầu
thì lãi suất giảm, khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng. Giới hạn cao nhất của lãi suất
bao giờ cũng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nếu bằng thì không có người
nào đi vay. Theo Marshall: Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị
trường bất kỳ; lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị
trường đó với lãi suất đó bằng tổng cung về vốn được cung ứng trên thị trường đó với
lãi suất đó.
o Phân loại:
Căn cứ vào hình thức tín dụng
- Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay
dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 5
- Lãi suất ngân hàng: áp dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng. Bao gồm các
loại lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu của NHTM, lãi suất chiết
khấu của NHTW, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản.
- Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể
khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
Căn cứ vào thời hạn của tín dụng
- Lãi suất ngắn hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn.
- Lãi suất dài hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn và dài hạn.
Căn cứ vào tính chất ổn định của lãi suất
- Lãi suất cố định: là lãi suất áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay.
- Lãi suất biến đổi: là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc
không báo trước. Điều chính theo biến động của lãi suất trên thị trường.
nghiệp dự tính lợi nhuận thu được lớn hơn số tiền họ phải bỏ ra để thực hiện khoản
vay đó. Khi lãi suất thấp các doanh nghiệp có xu hướng đi vay nhiều hơn để mở rộng
đầu tư và ngược lại. Ngay cả khi doanh nghiệp thừa vốn thì chính sách lãi suất vẫn ảnh
hưởng đến doanh nghiệp, vì nếu lãi suất cao doanh nghiệp sẽ tiến hành gửi vào ngân
hàng chứ không mở rộng đầu tư. Do đó lãi suất và đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
với nhau.
Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Đối với nguồn thu nhập của gia đình, số tiền này sẽ được dùng để thực hiện hai
mục tiêu: tiêu dùng và tiết kiệm. Sự phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm sẽ phụ thuộc
vào nhu cầu con người, giá cả hàng hóa và lãi suất tiền gửi. Lãi suất ảnh hưởng trực
tiếp đến giá cả hàng hóa và tỷ suất tiền gửi, do đó tác động trực tiếp đến nguồn thu
nhập. Khi lãi suất thấp, giá cả hàng hóa thấp, người ta sẽ tiêu dùng hàng hóa nhiều hơn
so với việc tiết kiệm. Ngược lại, khi lãi suất cao, con người ta có xu hướng gửi tiền
vào ngân hàng để hưởng lợi nhuận, làm tiêu dùng giảm, tiết kiệm tăng.
Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Sự thay đổi của lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ sẽ ảnh hưởng lên tỷ giá hối đoái
quốc gia. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng, chúng ta xét hai trường hợp. Thứ nhất là tăng
do tỷ lệ lạm phát tăng, lãi suất thực không đổi, thì điều này sẽ làm cho đồng nội tệ
giảm giá, tỷ giá tăng. Trường hợp thứ hai lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tăng,
lạm phát không đổi, người ta sẽ chuyển sang nắm giữ đồng nội tệ nhiều hơn làm cầu
nội tệ tăng, nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm.
Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động
xuất nhập khẩu của quốc gia. Tỷ giá tăng sẽ làm cho hàng hóa trong nước ở nước
ngoài trở nên đắt hơn và hàng nước ngoài đối với trong nước sẽ rẻ hơn, từ đó nhập
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 7
khẩu tăng, xuất khẩu giảm làm giảm xuất khẩu ròng. Tương tự khi lãi suất giảm sẽ làm
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 8
Ngoài ra, lãi suất còn là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế.
Sự biến động của lãi suất có thể dự báo được một số yếu tố của nền kinh tế. Từ đó các
ngân hàng hoặc doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn phương án kinh
doanh cho phù hợp.
2. Các nhân t ng ti giá c phiu
Rủi ro là những thiệt hại mà nhà đầu tư không muốn xảy ra trong tương lai đối
với một danh mục đầu tư. Bao gồm rủi ro không hệ thống và rủi ro có hệ thống. Cấu
thành nên rủi ro là các nhân tố trong nền kinh tế có tác động tiêu cực đến danh mục
đầu tư. Vậy những nhân tố nào ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và ảnh hưởng như thế nào?
Trong phần này, chúng ta sẽ làm rõ điều đó.
Đối với chứng khoán nói chung và từng loại cổ phiếu nói riêng, khi lưu thông
trên thị trường đều tuân theo quy luật của thị trường. Giá của cổ phiếu được hình thành
dựa trên quy luật cung-cầu và sự mất cân bằng trên thị trường sẽ dẫn đến sự biến động
về giá cả hàng hóa. Do đó mà những nhân tố làm thay đổi lượng cung-cầu của cổ
phiếu trên thị trường cũng chính là những nhân tố làm thay đổi giá cổ phiếu đó. Có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nhưng ta có thể chia làm 2 nhóm nhân tố
chính: nhóm nhân tố cơ bản và nhóm nhân tố vĩ mô. Khi tiến hành giao dịch trên thị
trường, các nhà đầu tư thường dựa trên những nhân tố cơ bản lẫn nhân tố vĩ mô để đưa
ra những quyết định mua bán với giá cả phù hợp nhất.
2.1 Nhân tố cơ bản
Trên thị trường, giá cổ phiếu được xác định dựa trên nền tảng các yếu tố cơ bản là:
(1) Tình hình lợi nhuận (ví dụ chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phiếu – EPS. EPS là
thước đo để xác định phần lợi nhuận công ty tạo ra trên mỗi cổ phiếu).
(2) Hệ số định giá (ví dụ hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu – P/E).
(3) Tính thanh khoản của một loại cổ phiếu phản ánh mức độ quan tâm của
công chúng đầu tư.
suất.
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường tài chính
và môi trường doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay
tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài. Tỷ giá hối đoái tăng cao sẽ là chất xúc tác cho TTCK,
thu hút nguồn đầu tư từ các nguồn vốn nước ngoài, tạo động lực cho thị trường phát
triển. Tuy nhiên, việc tỷ giá hối đoái tăng mạnh gây tác động tiêu cực khiến các nhà
đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường, một lượng vốn lớn nhanh chóng bị rút khỏi
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 10
thị trường sẽ làm giá chứng khoán giảm và điều này sẽ tác động làm tăng lãi suất. Nếu
lãi suất tăng sẽ trở thành gánh nặng cho kinh tế và ngược lại.
Lạm phát
Là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của
dân cư và doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới doanh nghiệp.
Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ
không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bị hạ
thấp khiến giá cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu
sẽ tăng giá và ngược lại. Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế
phát triển tốt và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút. Nếu dự đoán được xu
hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của
TTCK. Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh hưởng của nó đến giá
chứng khoán cũng rất quan trọng đối với các nhà đầu tư.
Lãi suất
Lãi suất trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay đổi trong
lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Khi lãi suất chuẩn
phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng khoán trên thị trường.
Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới
Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có
xu hướng giảm khi nền kinh tế yếu đi). Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển
vọng tốt đẹp, nguồn lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với
nhu cầu tích luỹ và như vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu.
Tâm lý nhà đầu tư
Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến động của giá cổ
phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của giá cổ phiếu,
của lợi nhuận doanh nghiệp và của lợi tức cổ phần. Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị
trường cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan.
Khi số tiền do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số
tiền bán ra của người bi quan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá. Tỷ lệ giữa 2 nhóm người
này sẽ thay đổi tuỳ theo cách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh
doanh, cũng như những đánh giá của họ về nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng.
Chính vì thế, cùng một loại chứng khoán, có người cho rằng, xấu quá cần phải
bán đi, nhưng ngược lại có người cho rằng, tương lai của nó rất sáng lạn cần phải mua
vào. Điều này cũng lý giải tại sao trên TTCK lúc nào cũng có người mua, người bán.
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 12
Ngoài ra, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn nhảm, các biện pháp kỹ thuật
của nhà điều hành thị trường, ý kiến của các nhà phân tích cũng có thể khiến thị giá
cổ phiếu biến động.
3. ng ca lãi sun giá c phiu
Như đã phân tích ở trên, TTCK là một chủ thể chịu tác động của nhiều nhân tố
Ngoài ra, khi chi phí vay vốn doanh nghiệp tăng, sẽ hạ thấp lợi nhuận mà doanh
nghiệp dùng để thanh toán cổ tức từ đó lợi tức cho các cổ đông giảm. Cùng lúc đó, cổ
tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư tìm
lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có
lãi suất cao (giả dụ lãi suất tiết kiệm). Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 13
vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền mặt
nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh doanh. Ngược lại, lãi suất
giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vì chi phí cho vay mượn xuống thấp, và giá cổ
phiếu thường tăng lên.
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 14
khá ổn định và chưa cho thấy khả năng biến động mạnh khi lạm phát tại Việt Nam
được kiềm chế và thặng dư cán cân thanh toán của Việt Nam vẫn khá tốt, do đó kênh
đầu tư ngoại tệ hiện tại cũng không tiềm năng. Với các lý do trên, cộng thêm xu hướng
hồi phục của nền kinh tế Việt Nam thì một phần dòng tiền tiết kiệm đã chuyển vào
chứng khoán.
Tuy nhiên chúng ta phải luôn nhớ rằng, lãi suất không phải là yếu tố có tính
quyết định đối với giá chứng khoán và có rất nhiều cách thức khác nhau để xem xét sự
thay đổi của giá chứng khoán và khuynh hướng thị trường. Do vậy, không ai có thể tự
tin nói rằng một công bố gia tăng lãi suất huy động của ngân hàng có thể tạo nên ảnh
hưởng xấu đến toàn bộ giá chứng khoán.
Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô mà cụ thể là nhân tố lãi suất với chỉ số
chứng khoán – đại diện cho tình hình của TTCK – cũng đã được nhiều sinh viên và
các chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Mỹ – Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
đã sử dụng phương pháp tập hợp các thông tin thứ cấp và những nhận định của chuyên
gia về chứng khoán để thực hiện đề tài “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ
phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh HOSE”. Tác giả cho rằng 3 nhân
tố tác động đến giá cổ phiếu bao gồm: nhân tố ngoại sinh (lãi suất, lạm phát ), nhân tố
nội sinh (gắn với công ty cổ phần) và nhân tố can thiệp (tâm lý nhà đầu tư, đầu cơ).
Công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên của nhóm sinh
viên Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh đã sử dụng mô hình OLS, GARCH,
EGARCH để nghiên cứu “Mối liên hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và Thị trường
Chứng khoán Việt Nam” và nhóm cũng chỉ ra rằng lãi suất có sự tác động ngược chiều
đến giá cổ phiếu trên TTCK.
Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến Thị trường Chứng
vay liên, ở một mức độ bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ.
Hsing (2004) thông qua một mô hình VAR cấu trúc cho phép xác định đồng
thời nhiều biến nội sinh như đầu ra, lãi suất thực suất, tỷ giá , chỉ số TTCK và phát
hiện ra rằng có một mối quan hệ nghịch đảo giữa giá chứng khoán và lãi suất.
November 1, 2013
[BÀI BÁO CÁO NHÓM THC T GIÁO TRÌNH]
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS. Trần Thị Bích Ngọc Page 16
HÌNH BING LÃI SUT VÀ CH S
VN-INDEX TRÊN TH NG CHNG KHOÁN VIT NAM
1. Tình hình bing ch s VN-n t 2006 - 2012
Giai đoạn từ năm 2000 - 2005:
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
(Nguồn: cophieu68.com)
- Giai đoạn đầu: Từ khi ra đời cho đến hết năm 2000, chỉ số chứng khoán VN-
Index đã tăng “phi mã” từ 100 điểm lên 571 điểm – gấp 5,7 lần trong vòng 6 tháng.
- Giai đoạn thứ 2: bắt đầu từ năm 2001 đến giữa năm 2004, chỉ số VN-Index gần
như “rơi tự do” từ 571 điểm xuống còn trên 130 điểm.
- Giai đoạn thứ 3: từ nửa cuối năm 2004, chỉ số VN-index tăng dần lên trên 200
điểm và đến hết năm 2005 đã vượt qua mốc 300 điểm.
Giai đoạn từ năm 2006 - 2012
N 2006
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2006
(Nguồn: cophieu68.com)
0
200
Tiếp nối thành công của năm 2006, TTCK Việt Nam tiếp tục có những bước
chuyển mình trong năm 2007. Với những phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng,
TTCK đã và đang chứng minh vị thế và tẩm ảnh hướng đáng phải có của nó với đời
sống kinh tế đất nước.
TTCK chính thức có một bước nhảy vọt cả về số lượng các công ty niêm yết,
chất lượng hàng hóa và quy mô giao dịch trong năm 2007. Làn sóng các công ty niêm
yết cuối năm 2006 nhằm hưởng ưu đãi thuế đã không gây ra khủng hoảng như một số
chuyên gia dự báo, mà trái lại, đã trở thành một lực đẩy tích cực. Với sự góp mặt của
FPT, PVD, PPC, SSI, DPM,…, số lượng các cổ phiếu lớn có ảnh hưởng liên thông gần
với VN-Index tăng lên. Thị trường không còn chịu tác động chỉ từ một hai mã cổ
phiếu nên độ cân bằng cao hơn.