LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình cung ứng các nguồn vốn cho hoạt động của các doanh nghiệp
được gọi là sự tài trợ, bao gồm toàn bộ các hoạt động tạo nguồn và đảm bảo
các nguồn lực tài chính để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Như vậy tài
trợ ở đây khác với hoạt động tài trợ mang tính trợ cấp, trợ giúp hoặc cho
không.
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trong điièu kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của
doanh nghiệp đựoc đa dạng hóa. Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường
tài chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc
điểm hoạt động kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có phương thức tạo vốn và
huy động vốn khác nhau.
Vì vậy để lựa chọn được nguồn vốn và phương thức huy động vốn phù
hợp có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn đó em đã chọn đề tài: “Nguồn vốn và
phương thức huy động vốn của doanh nghiệp”. Đề tài gồm có hai chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung.
Chương II: Thực trạng và giải pháp.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
A. TỔNG QUAN VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu
và nợ. Mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy
theo tính chất của chúng.Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh
nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố
như:
-Trạng thái của nền kinh tế.
-Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
-Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
-Trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý.
doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận
lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ
vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính
sách tái đầu tư của Nhà nước.
- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái
đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông
không được nhân tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ
phần tăng lên của công ty. Điều này một mặt, khuyến khích các cổ đông giữ
cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu
trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn.
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự tài trợ
của doanh nghiệp. Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau:
* Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng...)
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân
hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh,
tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo.
* Nhược điểm:
Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có
thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh
nghiệp.
Thực tế ở Việt Nam, do TTCK VN được thành lập rất muộn so với các
nước, nên nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm và trình độ cao trong đầu tư, bên
cạnh đó lại chủ yếu là các nhà đầu tư ngắn hạn.Nếu công ty cổ phần niêm yết
không thanh toán cổ tức lập tức sẽ có sự phản ứng tức thời trên thị trường, giá
cổ phiếu sẽ giảm. Vì thế, nguồn tài trợ từ nguồn lợi nhuận giữ lại của các công
đủ các điều kiện sau:
- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký
phát hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam.
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải
có lãi.
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ
phiếu.
+ Thủ tục phát hành
Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu (được quy định chi
tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp cho Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước.
b) Quy mô phát hành cổ phiếu
Doanh nghiệp chỉ được quyền phát hành một lượng cổ phiếu tối đa và
được gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép.
c) Thời hạn và lãi suất.
- Cổ phiếu không có thời gian đáo hạn.
- Cổ đông được doanh nghiệp trả cổ tức nhưng doanh nghiệp không
phải trả một mức cổ tức cố định và cũng không bắt buộc phải trả cổ tức cho cổ
đông mà có thể giữ lại để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
d) Quản lý và giám sát
Quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông gắn bó chặt chẽ với nhau do đó
doanh nghiệp phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cổ đông. Ngoài ra
doanh nghiệp cũng phải chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
Cổ đông có quyền tham gia biểu quyết những vấn đề quan trọng của
doanh nghiệp.
e) Áp lực thanh toán
Doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán đối với cổ đông.
f) Phương thức, phương tiện thanh toán
Doanh nghiệp được quyền lựa chọn phương thức thanh toán 6 tháng hay
1 năm trả cổ tức một lần. Phương tiện thanh toán cổ tức có thể là tiền mặt hay
quan hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng
không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác.
1.2. Chi phí của tín dụng thương mại
Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh
lệch, thường là chênh lệch phải chịu gía cao hơn thì chi phí tín dụng thương
mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay.
Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết
khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền. Ví dụ, một giao dịch tín dụng
thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá đơn, có nghĩa
là người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua hàng nếu người
mua trả tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày giao hàng. Ngưới mua
sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày.
Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi
người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu.
Trong trường hợp này người mua đã mất khoản chiết khấu mà có thể coi là chi
phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền mua hàng
trong thời gian kể từ sau ngày được hưởng chiết khấu. Chi phí này tính cho 1
năm, có thể được tính như sau:
Tỷ lệ chi phí =
i
i
−100
x
tn −
360
Trong đó: i - tỷ lệ chiết khấu
n - số ngày mua chịu
t - thời gian hưởng chiết khấu (ngày)
Ví dụ: tín dụng thương mại với điều kiện "3/10 net 45", ta có:
b) Nhược điểm.
- Hạn chế về quy mô tín dụng :
+ Số lượng mua chịu
+ Khả năng của nhà cung ứng.
- Hạn chế về đối tượng vay mượn
- Hạn chế về không gian vay mượn
- Hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳ sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế về thời hạn vay.
- Phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường.
- Có thể gặp rủi ro khi buộc phải thay đổi nhà cung ứng và phụ thuộc
nhiều vào sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng.
- Dễ gặp rủi ro dây chuyền.
2.Tín dụng thuê mua
2.1. Khái niệm chung
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại
tài sản, máy móc thiết bị. Nó có lịch sử khá lâu đời, song chỉ phát triển mạnh
ở những nước có nền kinh tế phát triển. Đây là một hình tức tín dụng trung và
dài hạn đặc biệt rất thông dụng trong việc tài trợ các doanh nhiệp. Ở nước ta
hình thức tín dụng này mới được hình thành và phát triển.
Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa
người đi thuê tài sản và người cho thuê. Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng
giữa hai hay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người cho thuê
sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê trong một khoảng thời gian nhất định.
Đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền
sử dụng.
Có hai phương thức giao dich chủ yếu là phương thức thuê vận
hành(operating lease) và phương thức thuê tài chính
a) Thuê vận hành
Theo Điều 2 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các
công ty cho thuê tài chính ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Thống đốc Ngân
- Số tiền trả gốc theo mỗi kỳ tính theo phương pháp này như
sau:
M=
N
A
Trong đó:
M: Là số nợ gốc tiền thuê phải trả mỗi kỳ thanh toán.
A: Tổng số nợ gốc tiền thuê
N: Số kỳ thanh toán.
- Phí cho thuê tài chính mỗi kỳ như sau:
Dư nợ tiền thuê x Phí cho thuê tháng x Số ngày dư nợ
+ Phương pháp 2: Xác định số tiền trả đều nhau (cả gốc và phí)
cho mỗi kỳ thanh toán
Mỗi kỳ thanh toán, bên thuê trả cho bên cho thuê một số tiền
cụ thể được xác định trước, bên cho thuê sẽ tính toán cụ thể để thu gốc và phí.
Tiền thuê trả mỗi kỳ tính theo phương pháp 2 như sau:
P=
1)1(
)1.(.
−+
+
n
n
r
rrA
Trong đó:
P: là số tiền thuê trả cho mỗi kỳ thanh toán ( cả gốc và phí)
A: là tổng số nợ gốc tiền thuê.
r: là phí cho thuê mỗi kỳ thanh toán
n: là số kỳ thanh toán.