tìm hiểu quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm (hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh nam định - Pdf 10

đạI học TháI nguyên
Trờng đại học nông lâm

trần thị thanh thủy
Tên đề tài:
quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống
thuỷ đặc sản nam định
KHOá LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Lp : Thy sn - 39
Khóa học : 2007 2011
Th¸i Nguyªn, n¨m 2011
2
đạI học TháI nguyên
Trờng đại học nông lâm

trần thị thanh thủy
Tên đề tài:
quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống
thuỷ đặc sản nam định
KHOá LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Lp : Thy sn - 39
Khóa học : 2007 2011
Ging viờn hng dn : 1. TS Lờ Minh

giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất. Từ đó sinh viên có thể nâng cao
trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc
nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác
phong làm việc đúng đắn, sáng tạo. Để khi ra trường trở thành một người cán bộ
khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự
phát triển của đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm, được sự phân công của thầy
cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Tìm hiểu quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm
(Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định”.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song do bước đầu làm quen với công
tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo và sự đóng góp quý báu của thầy cô
và bè bạn đồng nghiệp để bản khóa luận này được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 01 tháng 08 năm 2011
Sinh viên
5
Trần Thị Thanh Thủy
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả cho đẻ một số loài cá

Error: Reference source not
found
Bảng 1.2: Kết quả ương từ cá bột lên cá hương của một số loài cá

. Error:
Reference source not found


Error: Reference
source not found
Hình 2.2. Tỉ lệ dị hình của cá bột

Error: Reference source not found

2
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
CBCNVC – LĐ : Cán bộ công nhân viên chức – lao động
KDT : Kích dục tố
LRH – a : Luteotropin Releasing Hormoned Analog
DOM : Doperidom
UBND : Uỷ ban nhân dân
QL : Quốc lộ
TSXG : Trại sản xuất giống
pH : Nồng độ ion H
+
trong nước
Kg : Kilogam
t
o
: Nhiệt độ
DO : Hàm lượng ôxi hòa tan
HCG : Human Chorionic Gonadotrophin
3
MỤC LỤC
4
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa
Hưng; có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển
kinh tế tổng hợp ven biển. Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ: thành phố
Nam Định. Nơi đây từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của
1
cả nước và là trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng
bằng sông Hồng.
1.1.1.3. Thời tiết, khí hậu
Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí
hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với một mùa đông lạnh và một mùa hạ nóng
ẩm, nhiều mưa. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23-24
o
C. Biên độ nhiệt
trung bình trong năm khoảng 12,6
o
C.
Lượng mưa phân bố khá đều trên lãnh thổ, khoảng từ 1.750 - 1.800
mm. Mưa tập trung nhiều vào mùa hạ (nhất là các tháng 7-8-9), chiếm khoảng
70% lượng mưa cả năm. Mưa trong mùa đông thường là mưa nhỏ, mưa phùn,
tháng ít mưa nhất là tháng 1.
Hằng năm, toàn tỉnh Nam Định nhận được một lượng bức xạ phong
phú 110-120kcal/cm
2
/năm, cán cân bức xạ cao trên 87 kcal/cm
2
/năm. Độ
ẩm trung bình năm là 84%. Mặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên
hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt
đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm.Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc
loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7 m lớn nhất là 3,31 m và

Khoáng sản của Nam Định nghèo cả về chủng loại lẫn trữ lượng. Nam
Định có một số loại khoáng sản như:
- Nhiên liệu: than nâu ở Giao Thuỷ, được phát triển dưới dạng mỏ nhỏ
và nằm sâu dưới lòng đất; dầu mỏ và khí đốt ở thềm lục địa Giao Thuỷ.
- Kim loại: có các vành phân tán Inmenit, Ziarcon, mônazit, mới chỉ
tìm kiếm và phát hiện tại Hải Hậu và Nghĩa Hưng, có quy mô nhỏ. Ngoài ra,
còn có quặng titan, zicôn phân bố dưới dạng vết, trữ lượng ít.
- Nguyên liệu sét: bao gồm sét làm gốm sứ phân bố tại núi Phương Nhi
đã được khai thác phục vụ xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài, sét gạch ngói nằm rải
rác ở các bãi ven sông như Đồng Côi (Nam Trực), trữ lượng 2 triệu tấn, Sa
Cao (Xuân Trường) trữ lượng 5 – 10 triệu tấn, Hoành Lâm (Giao Thuỷ)…, sét
làm bột màu có ở Nam Hồng (Nam Trực).
1.1.1.5. Giao thông, thủy lợi
Giao thông qua Thành phố Nam Định tương đối thuận tiện: Có quốc lộ
10 từ Hải Phòng, Thái Bình đi Ninh Bình chạy qua và QL21A nối Nam Định
với QL1A. Ngoài ra còn có các tuyến QL21B đi các huyện Trực Ninh, Hải
3
Hậu, Giao Thuỷ, Xuân Trường, tỉnh lộ 55 đi Nghĩa Hưng, Tỉnh lộ 38A đi Lý
Nhân (Hà Nam). Thành phố Nam Định còn có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy
qua. Ga Nam Định là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt, thuận tiện
cho hành khách đi đến các thành phố lớn trong cả nước như Huế, Đà Nẵng,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Nam Định có hệ thống sông dày đặc. Nhìn chung, các sông đều chảy
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các sông chảy qua địa phận
Nam Định phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không
sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở cửa sông. Chịu ảnh hưởng của đặc
điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa
lũ và mùa cạn. Vào mùa lũ, lưu lượng nước sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to
kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn nước thì đồng bằng sẽ bị ngập
lụt. Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các sông chịu ảnh hưởng lớn

trợ xây mới, sửa chữa và xóa nhà dột nát. Hoàn thành tổng điều tra hộ nghèo,
hộ cận nghèo, tổ chức bình xét tại cơ sở, tổng hợp kết quả đảm bảo tính chính
xác, nghiêm túc và công bằng, kịp thời tổng kết báo cáo số liệu về Trung
ương phục vụ xây dựng chính sách giảm nghèo trong giai đoạn mới.
1.1.3. Tình hình sản xuất
Sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ khá cao: Toàn tỉnh hiện có
3.285 doanh nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,5%/ năm
(trong công nghiệp địa phương tăng 23,2%). Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng
trong GDP tăng dần, năm 2010 đạt 36,5%. Quy hoạch 12 khu công nghiệp,
giải quyết việc làm trên 120 nghìn lao động…
Sản xuất nông nghiệp ổn định và có bước phát triển: Giá trị sản xuất
bình quân tăng 3,8%, năng suất lúa bình quân đạt 118,4 tạ/ha/năm. Sản lượng
lương thực bình quân đạt 950 nghìn tấn/năm. Năm 2010 sản lượng thịt hơi đạt
110 nghìn tấn, sản lượng thủy sản đạt 89 nghìn tấn. Xã Hải Đường (Hải Hậu)
thí điểm mô hình nông thôn mới theo chỉ đạo của trung ương và 10 xã trong
tỉnh triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới.
5
Các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định. Thu ngân sách năm 2010 đạt
1.150 tỷ đồng (chỉ tiêu 1.000 tỷ đồng). Tổng giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt
230 triệu USD. Cơ cấu kinh tế năm 2010 chuyển dịch theo hướng: Nông, lâm,
thủy sản: 29,5%, công nghiệp – xây dựng: 36,5%, dịch vụ: 34% Tỷ lệ hộ
nghèo năm 2010 còn 6%
Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản
Năm 2010, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh Nam Định đạt 15.734ha,
trong đó, nuôi nước ngọt là 9.520ha, nuôi mặn lợ 6.214ha. Cùng với diện tích
nuôi được mở rộng, các cơ sở sản xuất con giống thủy hải sản cũng phát triển
mạnh. Toàn tỉnh hiện có 46 trại sản xuất giống (TSXG) thuỷ sản, trong đó có
24 TSXG hải sản, 22 TSXG thủy sản nước ngọt.
Năm 2010, Trung tâm giống hải sản, Trung tâm giống thủy đặc sản
tỉnh cùng với các cơ sở sản xuất con giống thuỷ sản khác trên địa bàn tỉnh đã

quản lý của Sở thủy sản Nam Định, được thành lập năm 1969. Ban đầu có tên
là Trại sản xuất cá giống nước ngọt Nam Định, đến năm 1992 đổi tên thành
Trại thực nhiệm Nam Định, năm 1994 đổi tên thành Trung tâm giống thủy
đặc sản Nam Định
Trung tâm hiện có 17 CBCNVC-LĐ trong đó có 07 cán bộ đại học, 01
cán bộ cao đẳng, 04 cán bộ trung cấp, 04 kỹ thuật viên và 01 cấp dưỡng.
Về tổ chức bộ máy:
- Ban giám đốc: 02 người
- Tổ hành chính phục vụ có 04 người: kế toán, thủ quỹ, cấp dưỡng,
phụ trách vật tư kế hoạch
- Tổ phụ trách sản xuất thực nghiệm: 11 người
1.1.4.3. Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng:
Trung tâm giống có chức năng hoạt động khoa học công nghệ về giống
nuôi thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh. Trung tâm giống vừa thực hiện nhiệm vụ
của Trung tâm giống tỉnh, vừa đảm nhận nhiệm vụ của Trung tâm giống khu
vực về nuôi thủy sản.
* Nhiệm vụ:
Nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất nuôi thủy sản.
Chọn lọc, lai tạo giống mới, thực hiện khu vực hóa giống, quản lý chất lượng
giống theo tiêu chuẩn của ngành. Nuôi giữ, bảo quản giống gốc, giống thuần, giữ
gìn và phát triển quỹ gen các loại thủy sản quý, có giá trị kinh tế cao.
Đào tạo, tập huấn kỹ thuật về giống và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản. Tổng
kết những kinh nghiệm của nhân dân, phối hợp với Trung tâm khuyến ngư
chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất nuôi thủy sản tại các vùng trong tỉnh.
7
Sản xuất, cung ứng cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực
đàn cá bố mẹ hậu bị đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và các giống loài thủy đặc sản
có chất lượng cao.

Đối với các loại cá truyền thống có năng suất trung bình:
- Cá Chép: 5 vạn bột / 1 kg cá / năm
- Cá Mè, cá Trắm: 7 - 9 vạn bột / 1 kg cá / năm
- Cá Mrigan, Rôhu: 12 - 14 vạn bột / 1 kg cá / năm
Trong năm 2010 Trung tâm đã sản xuất hơn 70 triệu con giống thuỷ sản
các loại, trong đó có:
- Trên 35 triệu con cá truyền thống,
- 25 triệu con cá chép V1.
- 10 triệu con cá rô đồng vuông Hậu Giang
- 7 vạn con cá Rô phi đơn tính đực
- 5 nghìn con cá Lăng chấm
Trung tâm phấn đấu sản xuất 100 triệu con cá bột, 150 vạn cá hương và
2,5 tấn cá hậu bị chất lượng tốt. Đặc biệt năm 2011, các loại giống đặc sản
chất lượng được Trung tâm tập trung sản xuất lớn như cá rô đầu vuông Hậu
Giang, cá Lăng chấm, cá chép lai 3 máu (V1) cung cấp cho thị trường trong
và ngoài tỉnh.
1.1.5. Đánh giá chung
1.1.5.1. Thuận lợi
Ban lãnh đạo luôn quan tâm chú ý, đầu tư sản xuất, đáp ứng công tác đào
tạo ngày càng tốt hơn, đồng thời nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân
viên của Trung tâm.
Trung tâm giống thuỷ đặc sản Nam Định được sự quan tâm đầu tư của
Bộ thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định để xây dựng và phát triển thành
một mô hình sản xuất hiện đại, phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Trung tâm nằm cạnh hệ thống sông Hồng và sông Vĩnh Giang nên rất
thuận lợi cho viếc cấp thoát nước, giao thông đi lại thuận lợi, gần khu vực
điện lưới quốc gia.
Trung tâm có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân với chuyên
môn giỏi, năng động, linh hoạt trong sản xuất, nhiệt tình với công việc.
1.1.5.2. Khó khăn

máy móc trang thiết bị để hoàn thành tốt công việc.
1.2.3. Kết quả phục vụ sản xuất
10
1.2.3.1. Công tác cho cá đẻ và ấp trứng
Trong quá trình thực tập tại Trung tâm, ngoài việc tìm hiểu về quá trình
sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm, tôi còn tham gia và biết được quy trình sinh
sản nhân tạo một số loài cá khác như: cá Chép lai 3 máu, cá Rô đầu vuông, cá
Trắm đen…Trong quá trình tham gia sinh sản nhân tạo tôi thu được một số
kết quả sau:
Bảng 1.1: Kết quả cho đẻ một số loài cá
Nội
dung
Thời
gian
Số lượng cá
tham gia
sinh sản
(cặp)
Trọng
lượng
cá cái
(kg)
Liều lượng KDT:
LRHa (ống) + DOM
(viên)
Số
lượng cá
bột thu
được
Cho cá

31/05
45
14
* Cá cái: 1ống + 2 viên/
3 kg cá cái.
Liều lượng cá đực bằng
1/5 liều lượng cá cái
3,5 triệu
09/06
40
11,5 4,5 triệu
18/06
20
6 2,5 triệu
Cho cá
trôi đẻ
10/06 15 17
* Lần 1: 1ống + 2 viên /
20 kg cá cái
* Lần 2: 1ống + 2 viên /
5 kg cá cái
2 triệu
21/06 18 20 2,5 triệu
Qua bảng 1.1 tôi nhận thấy kết quả cho đẻ một số loại cá truyền thống
là khá cao. Trong sinh sản nhân tạo cá Chép lai 3 máu nhờ áp dụng các giải
pháp mới như: nâng nhiệt độ nước bằng hệ thống nâng nhiệt, thay giá thể
bằng các sợi nilon, bổ sung tấm nhựa lót xuống đáy bể để có thể thu hết được
11
toàn bộ trứng cá đã đẻ nhờ đó mà năng suất cá bột thu được rất cao (trung
bình đạt 5 vạn bột/ 1kg cá cái).

3,5 triệu 30 10 Cá đồng đều
4,5 triệu 30 30 Cá đồng đều
Cá Trôi
2 triệu 30 40 Cá không đồng đều
2,5 triệu 30 45 Cải tạo ao không tốt
Qua bảng 1.2 tôi nhận thấy kết quả ương từ cá bột lên cá hương đạt hiệu
quả không cao đặc biệt là kết quả ương từ cá bột lên cá hương của cá Rô đầu
vuông thấp chỉ đạt 10-30%.
12
Kết quả ương từ cá bột lên cá hương đạt hiệu quả không cao do: số
lượng và chất lượng thức ăn chưa phù hợp, chất lượng nước chưa đạt yêu
cầu và cá thả vào ao không đồng đều.
1.3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1.3.1. Kết luận
Trong quá trình thực tập tại Trung tâm, nhờ xác định rõ mục đích đề ra,
phương hướng công tác đúng đắn, mạnh dạn áp dụng những kiến thức đã học
ở nhà trường vào thực tiễn sản xuất. Cùng với sự quan tâm giúp đỡ của ban
lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong Trung tâm, thầy cô giáo hướng dẫn, tôi
đã đạt được một số kết quả sau:
- Nắm được kỹ thuật sản xuất giống một số đối tượng như: cá chép lai 3
máu, cá rô đầu vuông, cá trắm đen, cá trôi
- Biết được cách phòng và điều trị một số bệnh cho đàn cá bố mẹ, cá
giống và trong quá trình ấp trứng.
- Gắn kết được lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất.
- Tiếp cận được với khoa học kỹ thuật mới.
- Học hỏi được cách quan hệ, ngoại giao trong công tác….
- Hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp của mình.
1.3.2 Đề nghị
- Cần xây dựng trạm bơm để chủ động hơn trong việc bơm nước trực
tiếp từ sông Hồng lên trại sản xuất.

địa điểm nuôi thành công như Trạm Thuỷ sản Chương Mỹ - Hà Nội, Trung
tâm giống thuỷ sản cấp 1, Bắc Giang, Hoà Bình, Hải Dương…
Từ năm 2002, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiến hành đề tài
“Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm trong điều kiện nuôi”.
Năm 2003 Viện đã sản xuất được 7.800 cá bột, 5.000 cá giống. Năm 2004 sản
xuất được 20 vạn cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống Lăng Chấm. Các
chỉ tiêu khoa học kỹ thuật về sản xuất giống như tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ
14
lệ nở, tỷ lệ sống khi ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống đạt tương đối
cao. Viện đã làm chủ được kỹ thuật sinh sản của cá Lăng Chấm và chủ động
cung cấp cá giống (Nguyễn Đức Tuân và cs, 2004) [6]. Cuối năm 2007, đề tài
"Chuyển giao công nghệ sản xuất cá Lăng Chấm” được triển khai tại Trung
tâm giống thuỷ sản Hoà Bình.
Năm 2009, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ sản
Quảng Ninh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm nuôi cá Lăng
Chấm”, sau một năm nuôi thử cá Lăng Chấm sinh trưởng và phát triển tốt,
trọng lượng trung bình đạt khoảng 500g/con.
Hiện nay cá Lăng Chấm được nuôi nhiều ở một số tỉnh trong cả nước,
bước đầu sản xuất đã đi vào ổn định, nhờ vậy đã chủ động được một số
lượng lớn giống cá Lăng Chấm phục vụ cho nhu cầu nuôi trong cả nước.
Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, khoa Chăn
nuôi – Thú y và sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Lê Minh và Th.s
Đoàn Quốc Khánh tôi thực hiện đề tài: “Quy trình sinh sản nhân tạo cá
Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản
Nam Định”.
2.1.2. Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc đề tài
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Tìm hiểu được quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm.
- Rèn luyện tay nghề, nâng cao kinh nghiệm của bản thân.
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status