i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
Bộ Môn Kỹ Thuật Nuôi Thuỷ Sản Nước Ngọt HUỲNH THỊ HỒNG
TIẾM
KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
TẠI TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN TỈNH ĐỒNG THÁP
2009
i
LỜI CẢM TẠ Trước hết tôi xin chân thành cám ơn quí thầy, cô Khoa Thủy Sản – Trường Đại
học Cần thơ.
Xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Minh Thành, đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Xin cảm ơn đến Ban lãnh đạo Trung Tâm Giống Thủy Sản Tỉnh Đồng Tháp, cô
Nguyễn Thị Rô, chú Huỳnh Văn Thiện các anh, chị và các bạn đồng nghiệp tại
trung tâm đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tiếp cận thực tế và thu thập số
liệu.
Xin cám ơn các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản LT-K2 đã hỗ trợ động viên em
trong quá trình hoàn thành đề tài.
Và tôi hoàn thành luận văn này là nhờ phần đóng góp không thể kể hết của gia
đình tôi, xin được cám ơn đến tất cả những người thân.
Một lần nữa, xin nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành tới tất cả mọi người đã
giúp đỡ và chia sẻ với tôi để có sự thành công như hôm nay.
Từ những quan sát trong các lần kiểm tra cho cá đẻ, Chúng tôi thấy rằng tại
Trung Tâm Giống Thủy sản tỉnh Đồng Tháp có cá bố mẹ thành thục trong suốt
thời gian từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau. Đàn cá bố mẹ có những cá thể thành
thục trong suốt thời gian nghiên cứu, phần nào chứng tỏ rằng cá tra mang đặt
điểm sinh sản quanh năm của cá vùng nhiệt đới.
Các điều kiện môi trường nuôi vỗ, cho cá đẻ và ấp trứng cá tra là thuận lợi. Các
đợt kích thích sinh sản nhân tạo cá tra đạt tỷ lệ cá đẻ từ 58,82 đến 87,5%. Sức
sinh sản của cá tra thấp nhất 69.303 trứng/kg cá cái và cao nhất là 143.040 trứng/
kg. Điều này chứng tỏ rằng vào đầu vụ cá có sức sinh sản thấp được tăng dần theo
mức độ thành thục của cá đến giữa vụ và chính vụ.
Tỷ lệ thụ tinh đạt từ 67,8 đến 83,2 %. Sau 17 – 24 giờ trứng bắt đầu nở, thời gian
để cá nở để cá nở hết có thể kéo dài đến 30 giờ.
Tỷ lệ dị hình từ 0,7 đến 1,2.
iiiMỤC LỤC
CHƯƠNG
I 1
GIỚI
THIỆU
3
2.3.2. Đặc điểm phân bố 4
2.3.3. Đặc điểm sinh trưởng 4
2.3.4. Tập tính dinh dưỡng 5
2.3.5. Đặc điểm sinh sản 9
2.4. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 10
2.4.1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ
13
2.5.1. Não thùy (Hypophysis- tuyến yên) 13
2.5.2. HCG (Human Chorionie
Gonadotropin)
13
2.6. Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá
tra
14
2.6.1. Tiêu chuẩn chọn cá bố
mẹ
14
2.6.2. Vấn đề ấp
16
3.4. Phương pháp nghiên
cứu
16
3.4.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ 16
3.4.2. Kích thích sinh sản nhân tạo cá tra 19
3.4.3. Ấp
trứng
22
3.4.4. Phương pháp thu và phân tích mẫu 22
25
4.2.1. Biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ cá bố
mẹ
25
iv4.2.2. Sự thành thục của cá
26
4.3. Kết quả kích thích cá sinh
sản 27
4.3.1. Kết quả kích thích cá sinh sản
27
4.3.2. Sự phát triển
phôi
27
CHƯƠNG V
32
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ
Hình 5: Kiểm tra cá bố mẹ trước khi cho sinh sản
19
Hình 6: Vuốt trứng cá cái
20
Hình 7: Vuốt tinh cá đực
21
Hình 8: Khử dính cho
trứng
21
Hình 9: Ấp trứng trong hệ thống bình
Weys 22
Hình 10: Trung Tâm Giống Thủy Sản Đồng
Tháp
24
Hình 11: Các giai đoạn phát triển phôi cá tra ở điều kiện nhiệt độ 28,50
C 29
1DANH SÁCH BẢNG
28
2
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
Do nhu cầu của người tiêu thụ cũng như giá trị kinh tế khá cao mà cá tra
từ
lâu đã là loài cá được nuôi phổ biến ở Việt Nam và ở nhiều nơi trên
thế
giới.Trước đây nguồn giống phục vụ cho nghề nuôi hoàn toàn phụ thuộc
vào
giai đoạn đầu kỹ thuật còn chưa ổn định và có nhiều khó khăn cần tiếp
tục
nghiên cứu và hoàn thiện. Do đó mãi đến năm 1998 nước ta mới thật sự
thành
công trong việc cho sinh sản nhân tạo cá tra và đưa vào sản xuất đại trà.
Nếu
như trước đây nguồn cá giống được cung cấp chủ yếu từ hệ thống sông
tiền,
sông Hậu thì từ đây nguồn cá giống sinh sản nhân tạo trở thành nguồn
cung
cấp chính cho người nuôi. Việc sản xuất giống cá tra nhân tạo, chủ động
cung
cấp nguồn giống đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người sản xuất
và
mở ra một hướng đi mới, phát triển nhanh chóng cho nghề nuôi cá tra vốn
dĩ
là một phần cuộc sống của người dân Đồng bằng Sông Cửu
Long.Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc hạ lưu sông MeKong có nguồn
tài
nguyên nước ngọt dòi dào, phong phú, nguồn nước sông này đóng vai trò
quan
trọng đối với nghề nuôi thủy sản của cả nước, chiếm phần lớn diện tích và
sản
lượng nuôi trồng. Chế độ thổ nhưỡng và thủy văn ở ĐBSCL tương đối
thuận
lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, nhóm cá nước ngọt đặc biệt là các
loài
được lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế so với nhiều loài cá
nước
ngọt khác ở Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia…Thịt cá Tra fillet
thương
phẩm của ĐBSCL đã có mặt ở hầu hết trên nhiều thị trường của khoảng
65
nước, mang lại nguồn ngoại tệ lớn mỗi
năm.Mặc dù kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá tra được phổ biến rộng rãi ở
ĐBSCL
nhưng việc quản lý sản xuất và chất lượng con giống vẫn chưa được quan
tâm
đúng mức.Chính vì nhu cầu nuôi cá tra thương phẩm ngày càng mở rộng
diện
tích từ đó để đáp ứng nhu cầu về con giống số lượng và chất lượng nên đề
tài
“Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Tra tại Trung Tâm Giống Thủy sản
tỉnh
Đồng Tháp” tiếp tục được thực
hiện.Mục tiêu của đề
tài:Thông qua thực hiện đề tài tiếp cận thực tế sản xuất cá giống, nâng cao
kỹ
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Tình hình phát triển thủy sản trên thế
giớiNguồn lợi và sản phẩm thủy sản mang lại từ các hoạt động nuôi trồng
thủy
sản, bảo vệ và khai thác hợp lý từ con người đã đóng góp tích cực vào sự
an
toàn thực phẩm cho con người trên khắp các châu lục. Tổng sản phẩm
thủy
sản thế giới năm 2001 ước đạt 128,8 triệu tấn trong đó nuôi trồng là 37,5
triệu
tấn. Năm 2002 tổng sản lượng thủy sản thế giới là 133 triệu tấn trong đó
sản
lượng nuôi trồng là 51,4 triệu tấn (Lowther,
2004).2.2. Tình hình phát triển thủy sản Việt
NamỞ Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21, sản lượng thủy sản nuôi trồng
có
tốc độ tăng trưởng rất cao, vượt xa tốc độ tăng trưởng của khai thác. Từ
năm
Bộ:
SiluriformesHọ:
PangasiidaeGiống:
PangasianodonLoài: Pangasianodon hypophthalmus (Komarudin và
Pariselle,
2000; Tana,
2000)
5Trước đây,loài cá Tra nuôi Pangasius hypophthalmus được mô tả lần đầu
bởi
Sauvage năm 1878 ở Campuchia, tên khoa học của cá Tra còn có nhiều
tên
khác dựa trên cơ sở những tài liệu các tác giả nước ngoài mô tả cá ở các
khu
hệ cá lân cận như Thái Lan (Smith, 1945). Nhưng theo kết quả định danh
1992).Theo Cacot (1999), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ yếu thuộc
giống
Pangasius, trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lớn hơn 50cm).
Đặc
biệt có 2 loài là cá Tra (Pangasianodon hypophalmus) và cá Basa
(
Pangasius
bocourti ) được nuôi rất nhiều ở đồng bằng sông Cửu
Long.2.3.3. Đặc điểm sinh
trưởngCá Tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều mùn
bã
hữu cơ, hàm lượng oxy hòa tan thấp và có thể thả nuôi với mật độ
cao.Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, là loài tăng trưởng nhanh
nhất
trong 10 loài thuộc giống Pangasius (Lazard, 1998) và Pangasianodon. Cá
Tra
bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1-1,1cm, sau 14 ngày ương
đạt
Campuchia) tăng trọng rất ít, cá nuôi trong ao 9 năm đạt 16,5 kg trong khi
cá
trong tự nhiên cỡ 20 tuổi cũng chỉ đạt 15- 17 kg (Bộ Thủy sản,
1991).2.3.4.
Tậ
p tính dinh
dưỡngCũng như các loài khác, dinh dưỡng rất cần thiết cho sự thành thục và
phát
triển của cá khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài, cá tra ăn phiêu sinh động vật.
Thức
ăn ưa thích của chúng là nhóm Cladocera, nhóm Rotifer cũng xuất hiện
nhiều
trong dạ dày nhưng do kích thước nhỏ nên vai trò dinh dưỡng của
Rotifer
không cao (Anh và Ðoan, 1997). Trong điều kiện ương nuôi trên bể, chúng
có
thể sử dụng được nhiều loại thức ăn như: Artermia, trùn chỉ, Moina,
Rotifer,
thức ăn chế biến… Tuy nhiên, ấu trùng Artemia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống
cao
và sinh trưởng của cá tốt nhất (Hùng et al,
1998).
37,83-Ốc
23,89-Thực vật
6,67-Mùn bã hữu cơ
31,61Đối với cá bố mẹ thời gian nuôi vỗ tích cực được tiến hành từ tháng 9
hoặc
tháng 10 năm trước. Thời kỳ này cá cần yên tỉnh và các môi trường ổn định
để
cá tích lũy vật chất dinh dưỡng. Do vậy thức ăn cung cấp cho cá cần có
đủ
thành phần và lượng đạm cần thiết (lượng đạm tối thiểu trong thức ăn 30
–
50%). Lượng và thành phần thức ăn được thay đổi theo giai đoạn thành
thục
của
cá
Theo Cacot (1998), trong điều kiện sinh sản nhân tạo sự thành thục cá tra
cái
cũng diễn ra vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa. Đối với con đực, việc
sinh
tinh diễn ra cùng thời gian với thành thục với cá cái. Cá basa thành thực
sớm
hơn vào khoảng tháng 1 hàng năm và chấm dứt sinh sản trong tháng 9-
10.Theo Cacot (1998), sinh sản nhân tạo cá tra lần đầu tiên được báo cáo tại
Thái
Lan vào năm 1959, sau đó là ở Indonesianăm 1981 và ở Malaysia năm
1983.
Ở Việt Nam, sinh sản nhân tạo cá tra vào năm 1981 nhưng kết quả đạt
được
rất thấp. Cá bố mẹ nuôi vỗ trong ao hay bè đều cho kết quả sinh sản nhân
tạo
tốt với các loại hormon thông thường là HCG và
Ovaprim.Ở cá Tra cái xử lý 1 - 2 liều dẫn với kích dục tố HCG và sau đó dùng 1- 2
liều
quyết định (2530 UI/kg) hay (2530- 2520 UI/kg) hay 3 liều (490- 1000-
1500
giống với môi trường tự nhiên mà cá sinh sống. Theo (Nguyễn Văn
Kiễm,
82004) các yếu tố bên ngoài tạo nên môi trường cho sự phát triển của
tuyến
sinh
dục.Sự thành thục và khả năng sinh sản của cá bố mẹlà kết qủa tác động của
nhiều
yếu tố thuộc về sinh học nói chung và sinh lý sinh thái nói riêng. Đáng chú
ý
hơn là những đặc trưng sinh học cơ bản của đối tượng và sự đồi hỏi về
môi
trừong chất lượng nước phù hợp để tạo điều kiện tối ưu có thể cho cá
sinh
sống. Từ đó tạo được đàn cá bố mẹ có tỷ lệ thành thục, hệ số thành
thục,chất
lượng sản phẩm sinh dục cao phục vụ tốt cho nhu cầu sản
xuất.Theo Nguyễn Chung (2006) cá bố mẹ thành thục là những cá có tuyến
sinh
dục phát triển đầy đủ, sẵn sàng chuyển sang tình trạng sinh sản ngay khi
7-10kg/100m2.
Sau 12 giờ lấy nước vào ao đạt đúng độ sâu thích hợp thì mới thả cá bố
mẹ.2.4.2. Mùa vụ, thời gian nuôi vỗ cá bố
mẹMỗi năm sau khi kết thúc mùa sinh sản nhân tạo, đàn cá bố mẹ được đưa
vào
hồi sức, sau đó được kiểm kê, đánh giá và chọn lọc để chuẩn bị nuôi vỗ
cho
mùa sinh sản tiếp
theo.Ở các tỉnh Nam Bộ, mùa vụ nuôi vỗ bắt đầu từ tháng 10-11 năm trước
đến
tháng 3 năm sau thì thành thục trở lại và có thể tham gia sinh sản, mùa cá
đẻ
kéo dài đến tháng 9, các tỉnh miền Trung (từ Đà Nẵng trở vào) thời gian
bắt
đầu nuôi có thể chậm hơn 1 tháng nên thời gian cá thành thục và cho đẻ
muộn
hơn từ tháng tư kéo dài đến tháng 9. Các tỉnh miền Bắc do thơi tiết lạnh
hơn
nên đàn cá phải được nuôi giữ qua đông và nuôi vỗ tích cực từ tháng 3 trở
đi.
1:12.4.4. Thức ăn
nuô
i
vỗThức ăn không những là nguồn vật chất cho sự sinh trưởng, năng lượng cho
sự
trao đổi chất mà con là nguyên liệu cho sự tạo thành và phát triển của
nõan
hoàng, tinh sào. Khi môi trường thiếu thức ăn sự thành thục của cá bị
ảnh
hưởng xấu như: hệ số thành thục, tỷ lệ thành thục thấp, đặc biệt phát
triển
không đồng đều của noãn bào cũng như khả năng rối loạn thành thục của
cá
tăng lên mặc dù các điều kiện khác của môi trường sống thuận lợi
(Nguyễn
Văn Kiểm, 2004). Những cá trong thời kỳ tạo noãn hòang nếu bị đói
trong
thời gian dài thì buồng trứng có thể bị thoái hóa và tiêu biến. Chế độ
dinh
dưỡng tốt có thể làm cho cá phát dục, thành thục và sinh sản sớm
(Nguyễn
Tường Anh,
1999).
sàn
cách đáy ao 25-30cm. cứ 300-400m2 đặc một sàn ăn. Cho ăn 2
lần/ngày.Kích thích nước, mỗi ngày từ 10-20% lượng nước ao, có thể lợi dụng
thủy
triều để thay nước cho
ao.Sau khi nuôi vỗ 2 tháng kiểm tra bố mẹ lần thứ nhất để đánh giá sức khỏe
và
độ béo của cá. Tháng thứ 3 dùng que thăm trứng kiểm tra trứng của cá để
đánh
giá mức độ phát dục và điều chỉnh chế độ nuôi vỗ hợp lí. Từ tháng thứ 4
trở
1
0đi, mỗi tháng 2 lần kiểm tra tình trạng phát dục của cá. Lúc này đa số cá cái
có
buồng trứng đã chuyển sang giai đoạn 4 và nhiều cá đực đã có tinh
dịch.
(Nguyễn Chung, 2007), cá đực đã chớm có
tinh.
Trần
Văn Vỹ (1983), não thùy thường lấy ở những cá đang trong thời kỳ phát
dục,
vào thời vụ cá sắp đẻ, tốt nhất là não cá chép có khối lượng cơ thể từ 0,3
kg,
cá mè từ 0,7
kg.Não cá sau khi lấy xong phải được ngâm trong lọ aceton hoặc cồn 960 để
nơi
khô ráo, thoáng mát. Theo Nguyễn Tường Anh (2005), não thùy cá cái có
họat
tính kích dục gấp 2-2,5 lần cá đực cùng loài có sự thành thục tương
ứng.
Trong quá trình sử dụng não thùy khi cho cá đẻ có thể thay đổi tùy theo
sự
thành thục của cá cho não. Song trong quá trình sử dụng cần tránh dùng ở
liều
quá cao, đặt biệt là khi tiêm sơ bộ ở một trường hợp nhất định việc tăng
liều
khi tiêm quyết định có tác dụng rút ngắn thời gian hiệu ứng. Nhưng liều
tiêm
não quá cao, đưa vào cơ thể cá một lượng lớn hormon của tuyến yên có
thể
dẫn đến sự rối loạn tình trạng sinh lý bình thường, gây chết cá mẹ và làm
giảm
chất lượng trứng của chúng (Nguyễn Tường Anh,
1999).
HCG
hiệu quả rất kém hoặc không có tác dụng (Nguyễn Văn Kiểm,
2000).3. LHRH-a và các chất kháng
dopaminLHRH-a là chất tương tự như GnRH của động vật có vú, có một số mắt
xích
aminoacid trên chuỗi peptid được thay đổi. vì thế ta gọi chúng là chất tương
tự
(a
:analog).Ngày nay LHRH-a được dùng rộng rãi trong kích thích sinh sản rất nhiều
loài
cá bởi : họat tính ổn định, giá rẻ, không gây phản ứnh miễn dịch. Song nếu
cá
bố mẹ được sử dụng LHRH-a để kích thích sinh sản thì sau khi đẻ tuyến
yên
của cá không còn kích dục tố
nửa.Dom (Domperidon) là chất cạnh tranh với thụ thể của Dopamin
(chất
antidopamin). Vì vậy mà ức chế tác dụng cản trở tiết kích dục tố của
dục.Cá đạt tiêu chuẩn cho đẻ: cá cái phải có lỗ sinh dục sưng và hồng, trứng
có
màu trắng bạc, tròn, rời, ít mạch máu, nhân đã cực hóa, kích thước trứng
1-
1,1mm. Đối với cá đực vuốt gần lỗ sinh dục thấy sẹ chảy ra. Cá phải
khỏe
mạnh.2.6.2. Vấn đề ấp
trứngCá tra là loài đẻ trứng dính (giống như cá trê, cá chép, cá basa), do đặc
tính
của loại trứng này xuất hiện tính dính khi tiếp xúc với nước cho nên tuỳ
điều
kiện cụ thể mà có phương pháp ấp khác nhau. Có 2 phương pháp ấp
trứng
dính phổ
biến.Cho trứng dính vào giá thể (rễ lục bình, xơ dừa, xơ cao, dây nylon, khung
dính của trứng thì khử dính bằng dung dịch
2.Dung dịch 2 là dung dịch Tanin (1,5g Tanin + 1 lít nước
cất).Đổ dung dịch tanin ngập trứng và đảo đều. Khoảng 3 - 5 giây, chắt bỏ
dung
dịch này và rửa lại bằng nước sạch 2-3 lần sau đó đem trứng đi ấp trong
Weys.Ấp trong bình Weys thủy tinh hoặc nhựa trong suốt có thể tích 5-10 lít, 45
lit
hoặc bình Weys composite 600-1000 lít với mật độ 20.000- 30.000
trứng/lít.Các chỉ tiêu theo
dõi.Tỷ lệ nở (%) = (Số trứng nở/số trứng thụ
tinh)*100Tỷ lệ thụ tinh (%) = (Số trứng thụ tinh/tổng số
VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian nghiên
cứuThời gian từ ngày 12/02/09 đến ngày
17/04/093.2. Địa điểm nghiên
cứuĐịa điểm thực hiện đề tài tại Trung Tâm Giống Thủy sản tỉnh Đồng
Tháp3.3. Vật liệu nghiên
cứuĐối tượng nghiên cứu: cá Tra có trọng lượng từ 05-10 kg/con, ngoại hình
tốt,
cơ thể nguyên vẹn không dị
hình.
+ Đĩa
petri+
HCG+ Que thăm
trứng+ Bể
Composite+ Bạt
nylon+ Các dụng cụ
khác3.4. Phương pháp nghiên
cứuTrực tiếp theo dõi và nghi nhận các số liệu về kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ
cũng
1
BM
C
h
ữ
n
h
ậ
t
3
1
8
0
2
,
5
-
3
2
5
BM
C
h
ữ
n
h
ậ
t
1
2
0
0
2
,
5
-
3
6
HB
khuất.Diệt tạp và loại các mầm bệnh trước khi thả cá vào ao nuôi bằng cách tháo
cạn
nước ao, rãi vôi bột từ 7-10kg/100m2. Sau 12 giờ lấy nước vào ao đạt đúng
độ
sâu thích hợp thì mới thả cá bố mẹ. Nguồn nước cấp trực tiếp từ sông
thông
qua hệ thống kênh
mương.3.4.1.2. Thả cá bố mẹ vào ao
nuôiCá bố mẹ được thả vào ao nuôi,việc bố trí như ở bảng 2
:Bảng 2 :Thả cá bố mẹ vào ao
nuôi
Số lượng cá thả Trọng lượng
cáS
T
N
h
ỏL
ớnT
r
un
g
con
kg
(con/1000 m
2
)
nhấtnhất
4
,
9
2
BM
700
6440
200
9
10
9,2
3
BM
110
528
35
85
4
6
5
6
HB
288
1382.4
82
4,4
5,2
4,8
Việ
c thả cá bố
m
ẹ được
ho
3:Bảng 3: Thành phần thức ăn chế biến nuôi vỗ cá bố
mẹS
T
T
T
h
à
n
h
ph
ầ
n
t
h
ứ
c
ă
n
t
2
Thức ăn đậm
đặc
31,83
3
C
á
m
13
,
7
5
4
Kết
dính
3,45
5
V
i
t
a
m
6
8
B
e
t
a
g
l
u
c
a
n
0
,
0
2
9
M
e
t
h
i
o
n
i
Hình 3: Thức ăn đã được trộn trước khi cho cá
ăn
15
Đối với ao nuôi cá hậu bị cho ăn 100% là thức ăn
côn
g
ngh
iệp với
26
% đạm,cho ăn với
kh
ẩu phần 3 - 4 %
trọn
g lượng
thân
.
Hình 4: Thức ăn công
nghiệp
ành
thục của cá
b
ằng
b
iện
ph
áp quan sát ngoại
h
ình (chủ yếu là sơ bộ
đánh
giá độ
b
éo,
gầ
y của cá) và quan
trọn
g hơn là biện pháp
dùn
g dụng
cụ
thăm trứng cá (que thăm
trứng).3.4.2. Kích thích sinh sản nhân tạo cá
tra
đực vuốt gần lỗ sinh dục thấy sẹ
chả
y ra. Cá phải
khỏ
e mạnh. Tỷ lệ
đực,
cái được chọn thường là
1
/5 – 1/3
tù
y
th
eo chất lượng cá
đực.3.4.2.2. Kích thích
tốVề việc sử
d
ụng kích thích tố
tron
g sinh sản
nh
ân tạo cá tra, theo
Phạm
kích
thích tố
tron
g
sin
h sản nhân tạo cá tra là HCG.
Tù
y
thu
ộc vào mức
độ
thành thục của cá, mùa vụ, khối lượng cá
m
à liều lượng được thay
đổi
cho phù hợp. Những đợt sinh sản cá tra trong
thờ
i gian vừa qua
Trung
Tâm sử dụng HCG với liều
lượn
g
nh
ất định là 6.500 UI/kg cá cái.
HCG
là chế phẩm
tổ
ng hợp
nh
ân tạo
từng con để
đ
ịnh liều
lượ
ng kích thích tố.
Tổn
g lượng chất kích
thích
tố sử dụng tiêm cho
1
kg thể trọng cá cái là 6.500 UI và được chia
thành
4 lần tiêm: lần tiêm thứ 1 liều 500 UI/kg, lần tiêm
th
ứ 2 liều
1000
UI/kg
m
ỗi liều cách
nh
au 24
giờ
, lần thứ 4 tiêm liều
qu
yết định
4000
UI/kg sau lần thứ 3 khoảng 7-8
hìn
h 5, 6,
7.
17Hình 6: Vuốt trứng cá
cái
Hình 7: Vuốt tinh cá
đực Hình 8: Khử dính cho
trứngSau
kh
i tiêm khi tiêm liều
qu
c
vuố
t vào
th
au nhựa
sạch
và
kh
ô sau đó vuốt tinh
củ
a cá đực vào
dùn
g lông gà
khu
ấ
y
ch
o
trứn
g
và đều nhau rồi
ch
o dung
d
ịch của hỗn hợp (NaCl 4g + Urea 3g / 1
lít
nước cất) vào
khu
trứn
g,
dùng lông gà đảo
đ
ều trứng
tron
g thời gian ngắn (1 phút) rồi được
rữa
18trứ
ng
bằn
g nước sạch. Làm như thế 2 – 3 lần cho sạch
tan
in rồi
đ
ưa
trứ
ng vào bình
we
ys đẻ
ấp.
3.4.4.1. Thời gian hiệu ứng kích dục
tố:Là
kh
oảng thời gian bắt đầu từ khi tiêm xong liều
qu
yết định đến khi
cá
bắt
đ
ầu
đ
ẻ
ho
ặc
rụ
ng trứng đồng
loạt.3.4.4.1. Chỉ tiêu theo
dõiLấy
m
nướ
c
mộ
t
lần).a. Tỷ lệ cá
đẻ:Số cá cái
đẻ
TLĐ (%) = 100 x
Tổng số cá cái được
tiêmb. Sức sinh sản thực
tế:
Tổng số trứng thu
đượcSSSTT =