Đề tài: Tìm hiểu quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định pot - Pdf 11

đạI học TháI nguyên
Trờng đại học nông lâm

trần thị thanh thủy
Tên đề tài:
quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống
thuỷ đặc sản nam định
KHOá LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Lp : Thy sn - 39
Khóa học : 2007 2011
Thái Nguyên, năm 2011
đạI học TháI nguyên
Trờng đại học nông lâm

trần thị thanh thủy
Tên đề tài:
quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống
thuỷ đặc sản nam định
KHOá LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Lp : Thy sn - 39
Khóa học : 2007 2011
Ging viờn hng dn : 1. TS Lờ Minh
2. Th.S on Quc Khỏnh

trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc
nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác
phong làm việc đúng đắn, sáng tạo. Để khi ra trường trở thành một người cán bộ
khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự
phát triển của đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm, được sự phân công của thầy
cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Tìm hiểu quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm
(Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định”.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song do bước đầu làm quen với công
tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo và sự đóng góp quý báu của thầy cô
và bè bạn đồng nghiệp để bản khóa luận này được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 01 tháng 08 năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Thanh Thủy
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả cho đẻ một số loài cá Error: Reference source not
found
Bảng 1.2: Kết quả ương từ cá bột lên cá hương của một số loài cá . Error:
Reference source not found
Bảng 2.1 : Tỷ lệ thành thục cá bố mẹ tại ao nuôi vỗ Error: Reference
source not found
Bảng 2.2: Sức sinh sản của cá nuôi vỗ trong ao . . Error: Reference source
not found
Bảng 2.3 Tỷ lệ thụ tinh của trứng qua các đợt sinh sản Error: Reference
source not found

: Nhiệt độ
DO : Hàm lượng ôxi hòa tan
HCG : Human Chorionic Gonadotrophin
3
MỤC LỤC
4
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Nam Định là tỉnh nằm ở phía Đông Nam của vùng đồng bằng sông
Hồng. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình, ranh
giới tự nhiên là sông Hồng. Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, ranh
giới là sông Đáy. Phía Nam và Đông giáp biển. Tỉnh nằm trong tọa độ 19
o
54’-
20
o
40’ Bắc và 105
o
55’-106
o
45’ Đông, cách Hà Nội khoảng 90km. Nam Định
là tỉnh ở vị trí trung chuyển giữa bộ phận phía Nam đồng bằng châu thổ sông
Hồng và các tỉnh Bắc Trung Bộ.
1.1.1.2. Địa hình đất đai
Nam Định là tỉnh nằm ở hạ lưu của hai con sông lớn là sông
Hồng và sông Đáy. Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển. Phía Tây Bắc có
một ít đồi núi thấp như: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề

2
/năm, cán cân bức xạ cao trên 87 kcal/cm
2
/năm. Độ
ẩm trung bình năm là 84%. Mặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên
hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt
đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm.Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc
loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7 m lớn nhất là 3,31 m và
nhỏ nhất là 0,11 m.
Nhìn chung, khí hậu Nam Định có các chỉ số cao về độ ẩm, ánh sáng và
ít có sự phân hóa theo lãnh thổ. Đặc điểm khí hậu này thích hợp với việc phát
triển trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động du lịch.
1.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
* Đất
Diện tích đất tự nhiên của Nam Định là 163.740,3 ha, bao gồm các loại:
đất cát (ven sông và ven biển), đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất feralit, đất
sỏi đá và đất mới biến đổi. Trong đónguồn đất chủ yếu là đất dành cho nông
nghiệp, chiếm khoảng 65%, đất chuyên dùng chiếm khoảng 15,4%, đất thổ
cư chiếm khoảng 5,8%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 2,9%, còn lại là đất
chưa sử dụng.
2
Hàng năm, vùng ven biển Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng được bồi tụ ra biển
với tốc độ rất nhanh, bình quân mỗi năm tiến ra biển được 80 - 120 m và cứ
sau 5 năm, diện tích đất của Nam Định có khả năng tăng thêm từ
1.500 - 2.000 ha.
Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của tỉnh Nam Định rất thấp
(550 m
2
), trong khi bình quân chung của cả nước là 1.120 m
2

Nam Định có hệ thống sông dày đặc. Nhìn chung, các sông đều chảy
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các sông chảy qua địa phận
Nam Định phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không
sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở cửa sông. Chịu ảnh hưởng của đặc
điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa
lũ và mùa cạn. Vào mùa lũ, lưu lượng nước sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to
kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn nước thì đồng bằng sẽ bị ngập
lụt. Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các sông chịu ảnh hưởng lớn
của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm mặn.
Các sông lớn gồm có sông Nam Định (còn gọi là sông Đào), sông Ninh
Cơ, sông Hồng. Ngoài ra, Nam Định còn có các mạng lưới sông nhỏ góp phần
vào việc tưới tiêu và cung cấp nước dùng cho người dân địa phương.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Tình hình kinh tế
- Dân số địa phương
Nam Định có diện tích là 1.676 km², bao gồm 01 thành phố và 09
huyện. Theo điều tra dân số 01/04/2009 Nam Định có 1.825.771 người, mật
độ dân số là 1.196 người/km², với hơn 84% dân số sống ở khu vực nông thôn.
- Tình hình phát triển kinh tế
Những những năm qua kinh tế tỉnh Nam Định có bước phát triển
về quy mô và hiệu quả. Trong 5 năm (2005 – 2010) tốc độ tăng trưởng bình
quân tỉnh Nam định là 10,2%, cao hơn bình quân thời kỳ 2000-2005 là 7,3%.
Quy mô nền kinh tế được mở rộng so với thời kỳ 5 năm trước: Tổng GDP
tăng hơn 1,63 lần, GDP bình quân đầu người tăng lên 2,6 lần, giá trị sản xuất
4
công nghiệp tăng hơn 2,5 lần, thu ngân sách từ kinh tế địa phương vượt mức
1.000 tỷ đồng (năm 2005 đạt 569,4 tỷ đồng).
1.1.2.2. Tình hình xã hội
Các lĩnh vực văn hoá xã hội của tỉnh Nam Định luôn đạt nhiều thành
tích, trong 4 năm (2006 – 2010) liên tục dẫn đầu toàn quốc về tỷ lệ học sinh

Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản
Năm 2010, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh Nam Định đạt 15.734ha,
trong đó, nuôi nước ngọt là 9.520ha, nuôi mặn lợ 6.214ha. Cùng với diện tích
nuôi được mở rộng, các cơ sở sản xuất con giống thủy hải sản cũng phát triển
mạnh. Toàn tỉnh hiện có 46 trại sản xuất giống (TSXG) thuỷ sản, trong đó có
24 TSXG hải sản, 22 TSXG thủy sản nước ngọt.
Năm 2010, Trung tâm giống hải sản, Trung tâm giống thủy đặc sản
tỉnh cùng với các cơ sở sản xuất con giống thuỷ sản khác trên địa bàn tỉnh đã
sản xuất được 212 triệu con tôm giống các loại; 172,5 triệu con ngao giống;
14,3 triệu cua C1; 1 tỷ 725 triệu con giống hàu và tu hài; 15 triệu con cá rô
đồng và 1,3 tỷ con cá bột cung cấp kịp thời cho các vùng nuôi trong tỉnh.
Hàng năm Trung tâm cung cấp ra thị trường trong tỉnh và một số tỉnh, thành
phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa… hơn 100
triệu con cá bột, cá hương các loại.
1.1.4. Các hoạt động chủ yếu của trung tâm
1.1.4.1. Cơ sở vật chất
Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định nằm trong hệ thống giống
Quốc gia theo quyết định số 865/QĐ-NC ngày 23/10/1996 của Bộ thủy sản.
Tổng diện tích của Trung tâm là 7,3 ha, trong đó có 6,5 ha mặt nước.
Hệ thống ao nuôi cá bố mẹ được xây bờ chắc chắn gồm 15 ao có diện tích
trung bình 2.000 m
2
, hệ thống ao ương gồm 12 ao xây bờ chắc chắn có diện
tích trung bình 800 m
2
, hệ thống cấp thoát nước riêng biệt.
Khu sinh sản nhân tạo của trung tâm bao gồm: 01 bể đẻ, 06 bể ấp, bể chứa
250 m
3
, khu sản xuất giống công nghệ cao gồm 30 bể nuôi, diện tích 15 m

gìn và phát triển quỹ gen các loại thủy sản quý, có giá trị kinh tế cao.
Đào tạo, tập huấn kỹ thuật về giống và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản. Tổng
kết những kinh nghiệm của nhân dân, phối hợp với Trung tâm khuyến ngư
chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất nuôi thủy sản tại các vùng trong tỉnh.
7
Sản xuất, cung ứng cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực
đàn cá bố mẹ hậu bị đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và các giống loài thủy đặc sản
có chất lượng cao.
1.1.4.4. Nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ
Trong những năm qua, Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định đã
sản xuất ổn định giống của các đối tượng cá truyền thống và thuần dưỡng, cho
sinh sản thành công các giống cá quý hiếm như cá Lăng chấm, cá Quế, cá
Chình nước ngọt, cá Rô đầu vuông…
Năm 2005: Tổ chức sinh sản thành công cá chép lai 3 máu (V1) với ưu
thế lớn nhanh, thịt ngon, mã đẹp, thích ứng rộng
Năm 2006: Tiếp tục cho sinh sản hàng loạt cá Rô phi đơn tính đực, mỗi
cá thể nuôi thương phẩm nặng tới 0,7 - 0,8 kg với chất lượng thịt thơm ngon,
chóng lớn, không có xương dăm
Năm 2008: Thuần dưỡng, cho sinh sản nhân tạo thành công cá Lăng
chấm, là loại cá quý hiếm trước kia chỉ khai thác trên sông Đà, sông Hồng
phía thượng nguồn nước chảy xiết.
Cũng trong năm 2008, Trung tâm đã nuôi thử nghiệm thành công cá
Chình trên bể, mang lại hiệu quả kinh tế khá, nuôi thuần dưỡng cá Chày mắt
đỏ đang có nguy cơ bị tuyệt chủng để tiến tới cho sinh sản nhân tạo, nghiên
cứu sản xuất giống cua đồng và sản xuất thành công 10 triệu con cá Rô đồng
giống cung cấp cho số hộ nuôi đang được nhân rộng và hiệu quả kinh tế cao
hơn nhiều so với nuôi cá truyền thống.
Năm 2010: Tổ chức sinh sản thành công cá Rô đầu vuông Hậu Giang.
Năm 2011: Sản xuất giống một số đối tượng cá cảnh ( cá Cỏ, cá Kiếm,
cá Đỉnh hồng…).

Bộ thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định để xây dựng và phát triển thành
một mô hình sản xuất hiện đại, phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Trung tâm nằm cạnh hệ thống sông Hồng và sông Vĩnh Giang nên rất
thuận lợi cho viếc cấp thoát nước, giao thông đi lại thuận lợi, gần khu vực
điện lưới quốc gia.
Trung tâm có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân với chuyên
môn giỏi, năng động, linh hoạt trong sản xuất, nhiệt tình với công việc.
1.1.5.2. Khó khăn
9
Mặc dù có sự quan tâm của Bộ thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định
nhưng do kinh tế còn hạn chế nên cơ sở vật chất chưa được đầu tư hiện đại và
thiếu đồng bộ, các đề tài của địa phương chưa thực sự phát triển
Cao trình đáy ao cao hơn mực nước sông Hồng nên không bơm trực tiếp từ
sông Hồng mà phải bơm cùng nước nông nghiệp.
Một số giống cá đã bị thoái hóa nhưng vẫn chưa được thay thế.
1.2. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất
- Cải tạo ao C1, C4, C8, B9, A11.
- Tham gia cho cá đẻ: cá Trắm đen, cá Chép lai 3 máu, cá Trôi, cá Rô
đầu vuông.
- Tẩy vôi định kì cho các ao.
- Điều trị bệnh trùng mỏ neo, rận cá cho cá Mè, cá Chép.
- Tham gia hoạt động sản xuất cùng cán bộ, công nhân trong đơn vị.
1.2.2. Phương pháp tiến hành
- Không ngại vất và gian khổ để đi sâu vào thực tiễn sản xuất tại trung
tâm, vừa làm vừa rút ra kinh nghiệm tích luỹ thêm từ thực tiễn sản xuất.
- Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước và những cán bộ
đồng nghiệp.
- Thu thập tài liệu, đọc trước khi làm, vừa làm vừa học, bắt tay vào
thực tiễn thì nhớ lâu kỹ thuật và biết được quá trình nuôi vỗ, sinh sản và

Liều lượng KDT:
LRHa (ống) + DOM
(viên)
Số
lượng cá
bột thu
được
Cho cá
Chép
đẻ
28/02 11
21 * Lần 1: 1ống + 2 viên/
10 kg cá cái
* Lần 2: 1ống + 2 viên/
3,5 kg cá cái
Liều lượng cá đực bằng
1/6 liều lượng cá cái
1,6 triệu
11/03 14
23
1,1 triệu
05/04 15 24,6 1,1 triệu
Cho cá
Trắm
đen đẻ
18/05
4
16,8
* Lần 1: 1ống + 2 viên/
20 kg cá cái

5 kg cá cái
Liều lượng cá đực bằng
1/5 liều lượng cá cái.
2 triệu
21/06 18 20 2,5 triệu
11
Qua bảng 1.1 tôi nhận thấy kết quả cho đẻ một số loại cá truyền thống
là khá cao. Trong sinh sản nhân tạo cá Chép lai 3 máu nhờ áp dụng các giải
pháp mới như: nâng nhiệt độ nước bằng hệ thống nâng nhiệt, thay giá thể
bằng các sợi nilon, bổ sung tấm nhựa lót xuống đáy bể để có thể thu hết được
toàn bộ trứng cá đã đẻ nhờ đó mà năng suất cá bột thu được rất cao (trung
bình đạt 5 vạn bột/ 1kg cá cái).
Trong quá trình sinh sản nhân tạo cá Trắm đen tôi thấy kết quả sinh sản
nhân tạo chưa được cao, mặc dù chất lượng trứng của cá cái tốt, trứng rời
nhau, tròn và đều nhưng lượng tinh trùng thu được từ con đực không nhiều,
còn một số con tinh trùng loãng nên ảnh hưởng rất nhiều đến tỉ lệ thụ tinh và
năng suất của cá bột.
Trong quá trình tham gia cho cá Rô đầu vuông đẻ, tôi nhận thấy cá Rô
đầu vuông là loài có sức sinh sản tốt, năng suất cao, phương pháp cho sinh
sản nhân tạo đơn giản.
Trong quá trình tham gia cho sinh sản nhân tạo cá Trôi tôi thấy số lượng
cá bột thu được chưa thật sự cao (chỉ đạt 10-12 vạn bột/ 1kg cá cái) do chất
lượng cá bố mẹ chưa tốt, chất lượng nước không cao, lượng thuốc tiêm cho
cá chưa hợp lý nên kết quả đạt chưa cao.
1.2.3.2 Công tác ương nuôi cá bột thành cá hương
Trong quá trình tham gia công tác ương nuôi từ cá bột thành cá hương
của một số loại cá truyền thống tôi thu được một số kết quả sau:
Bảng 1.2: Kết quả ương từ cá bột lên cá hương của một số loài cá
Đối tượng
Số

đã đạt được một số kết quả sau:
- Nắm được kỹ thuật sản xuất giống một số đối tượng như: cá chép lai 3
máu, cá rô đầu vuông, cá trắm đen, cá trôi
- Biết được cách phòng và điều trị một số bệnh cho đàn cá bố mẹ, cá
giống và trong quá trình ấp trứng.
- Gắn kết được lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất.
- Tiếp cận được với khoa học kỹ thuật mới.
- Học hỏi được cách quan hệ, ngoại giao trong công tác….
- Hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp của mình.
1.3.2 Đề nghị
- Cần xây dựng trạm bơm để chủ động hơn trong việc bơm nước trực
tiếp từ sông Hồng lên trại sản xuất.
- Đảm bảo nguồn cá bố mẹ có chất lượng tốt.
- Cần có giải pháp lưu giữ cá bố mẹ qua đông tốt hơn.
- Tăng cường phát triển, mở rộng thị trường để Trung tâm phát triển
mạnh hơn bằng vốn tự có.
- Chuyển đổi cơ chế quản lý để nâng cao năng suất.
13
PHẦN 2
ĐỀ TÀI THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1.1. Đặt vấn đề
Cá Lăng Chấm Hemibagrus guttatus (Lacépede, 1803) là loài cá có giá
trị kinh tế cao của hệ thống sông Hồng, thịt cá mềm, thơm ngon, ít xương
dăm, giá bán cao, được coi là loại cá đặc sản nước ngọt hàng đầu của miền
Bắc, có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, được thị trường trong và ngoài
nước ưa chuộng. Trong những năm 1960-1970, sản lượng cá Lăng Chấm
chiếm tỷ lệ khá lớn trong sản lượng cá đánh bắt tự nhiên của một số tỉnh miền
núi (Mai đình Yên, 1983) [10]. Những năm gần đây, do điều kiện môi trường
bị suy thoái, khai thác quá mức bằng những phương tiện huỷ diệt như dùng

bước đầu sản xuất đã đi vào ổn định, nhờ vậy đã chủ động được một số
lượng lớn giống cá Lăng Chấm phục vụ cho nhu cầu nuôi trong cả nước.
Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, khoa Chăn
nuôi – Thú y và sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Lê Minh và Th.s
Đoàn Quốc Khánh tôi thực hiện đề tài: “Quy trình sinh sản nhân tạo cá
Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản
Nam Định”.
2.1.2. Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc đề tài
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Tìm hiểu được quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm.
- Rèn luyện tay nghề, nâng cao kinh nghiệm của bản thân.
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1. Đặc điểm phân loại
Cá Lăng đã được các nhà phân loại đặt cho nhiều cái tên khác nhau.
Theo Chu Xinluo et chen Yinrui (1989, 1990) [14] thì cá Lăng xếp vào giống
Hemibagrus.
15
Dựa trên những mẫu vật thu thập được, tham khảo những tài liệu mới
công bố của Chu Xin Lua, 1990 (cá Vân Nam Trung Quốc), Robert Tyson,
1995 (Giống cá Mystus ở Thái Lan và Campuchia), thì cá Lăng vẫn xếp vào
giống Hemibagrus như của tác giả Mai Đình Yên (1978) nhưng đổi tên loài từ
Hemibagrus elongatus (Gunther, 1865) thành Hemibagrus guttatus
(Lacépède, 1803) (Phạm Báu và cs, 2000) [1].
Cá Lăng chấm thuộc:
Bộ cá nheo : Siluriformes
Họ cá Lăng: Bagridae
Giống cá Lăng: Hemibagrus
Loài cá Lăng: H.guttatus (Lacépède, 1803)
Tên thường gọi: Cá Lăng chấm (lúc lớn), cá Quất (lúc nhỏ)

xuất hiện nhiều hơn cả ở sông Gâm đoạn Na Hang - Bắc Mê, thượng nguồn
sông Đà, hồ Hoà Bình và lưu vực sông Tạ Bú.
Trên thế giới cá Lăng phân bố ở sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân
Nam – Trung Quốc) là loài cá đặc hữu của vùng Hoa Nam Trung Quốc.
2.2.1.4. Đặc điểm sinh sản
* Hình thái ngoài cơ quan sinh dục: Cá Lăng chưa phát dục khó
phân biệt đực, cái. Khi phát dục có thể phân biệt đực, cái dễ dàng hơn:
- Cá đực: Thân hình thon dài bụng cá nhỏ hơn bụng cá cái, gai sinh dục nhỏ,
nhọn và dài hơn cá cái. Khi cá phát dục cơ quan sinh dục phồng lên có màu
phớt hồng.
- Cá cái: Gai sinh dục hình bầu tròn, hơi nhọn về phía vòi trứng. Khi cá phát
dục cơ quan sinh dục phồng lên có màu đỏ. Bụng cá to, da bụng dầy (vào thời
kỳ sinh sản cá tích nhiều mỡ) nên có thể nhầm lẫn giữa bụng của cá mang
trứng và bụng của cá có chứa nhiều mỡ. (Mai Đình Yên, 2000) [11].
* Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Lăng
- Hình thái tuyến sinh dục cá Lăng cái:
Noãn sào của cá Lăng cái là 1 tuyến đôi gồm 2 nhánh có hình túi tròn,
dài nằm trong xoang bụng. Hai nhánh này nằm 2 bên ruột và ở dưới bóng hơi.
Hai nhánh của buồng trứng phát triển đồng đều, ít chênh lệch nhau về kích
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status