TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CAO THỊ THANH TRÚC
KỸ THUẬT ƯƠNG GIỐNG CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG
THỦY SẢN ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2008
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
CAO THỊ THANH TRÚC
KỸ THUẬT ƯƠNG GIỐNG CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG
THỦY SẢN ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. PHẠM MINH THÀNH
2008
i
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản
Trường Đại Học Cần Thơ Và Ban Giám Đốc Trung Tâm Giống Thủy Sản Đồng
Tháp đã tạo điều kiện cho em học tập và thực hiện đề tài trong suốt thời gian vừa
qua.
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ và công nhân viên Trung Tâm Giống
Thủy Sản Đồng Tháp đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực tập.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn Phạm Minh Thành, đã tận
tình giúp đỡ, quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ dẫn em trong suốt quá trình
3.1. Thời gian và địa điểm 17
. 3.2. Vật liệu thí nghiệm 17
iii
3.3. Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1.Công trình ao ương………………………………………15
3.3.2.Thu và phân tích mẫu 18
3.3.3. Phương pháp sử lý số liệu 20
Chương IV: Kết quả và thảo luận 21
4.1.Bố trí cá vào ao ương…………………………………………….21
4.1.1. Điều kiện ao. ………………………………………………… 21
4.1.2. Thả cá 23
4.1.3. Chế độ cho ăn…………………………………………………24
4.1.4. Quản lý ao ương………………………………………………27
4.2. Điều kiện môi trường ao ương 28
4.3. Tốc độ tăng trưởng 30
4.4. Tỷ lệ sống 32
4.5. Hoạch tóan kinh tế 34
4.5. Bệnh ở cá tra…………………………………………………… 34
Chương V: Kết Luận và đề xuất 36
Tài liệu tham khảo 37
Phụ lục 38
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1. Điều kiện ao ương cá tra 22
Bảng 4.2. Thả cá vào ao ương 24
Bảng 4.3. Chế độ cho ăn trong ao ương cá tra 25
Bảng 4.4. Điều kiện môi trường 28
Bảng 4.5. Tốc độ tăng trưởng đợt I 30
Bảng 4.6. Tốc độ tăng trưởng đợt II 30
Bảng 4.7. Tốc độ tăng trưởng đợt III 31
đẻ thành công. Đến nay, kỹ thuật sản xuất giống cá tra nhân tạo ngày càng được
hoàn thiện hơn, nguồn giống phục vụ cho nghề nuôi cá tra dần dần chủ động hoàn
toàn và đa số được cung cấp từ sản xuất giống nhân tạo. Việc sản xuất giống nhân
tạo đã góp phần làm cho nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL phát triển rất mạnh mẽ, nhất
là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ
Mặt dù đã chủ động được nguồn giống nhưng trong quá trình ương giống
còn gặp nhiều khó khăn do cá được ương dưới ao còn quá nhỏ, dễ bị địch hại tấn
công, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường nên khi bắt đầu ương cần phải
chăm sóc kỹ lưỡng. Do đó đề tài “Kỹ thuật ương giống cá tra“ là rất cần thiết.
Mục tiêu của đề tài
Nhằm thu thập dẫn liệu về kết quả ương cá tra, góp phần làm cơ sở hòan
thiện kỹ thuật ương nuôi cá tra. Cũng qua việc thực hiện đề tài góp phần nâng cao
kiến thức thực tế của em trong quá trình ương nuôi cá tại ĐBSCL nói chung .
2
Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu về kỹ thuật ương; xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá.
Theo dõi 1 số yếu tố môi trường
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình ương
3
Chương II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Khái quát về trung tâm giống Thuỷ sản Đồng Tháp
2.1.1. Vị trí địa lý
Trung Tâm giống Thuỷ Sản Đồng Tháp có diện tích 18,74 ha thuộc ấp Bình Mỹ,
Bình Thạnh, Huyện Cao Lãnh; nằm giữa sông Tiền, cách thị xã SaĐéc 3 km về
phía Đông, cách Thành Phố Cao Lãnh 20 km về phía Đông Nam. Vị trí khu đất
có ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp kênh K4
- Phía Nam giáp kênh K2
- Phía Tây giáp kênh K3 và công ty liên doanh ISDOLSTOPIA.
- Tổ cá bố mẹ: có nhiệm vụ nuôi vỗ, sinh sản nhân tạo cá tra và cá rô đồng. Trong
đó việc sinh sản nhân tạo cá tra thường xuyên hơn để tạo ra lượng cá bột lớn cung
cấp cho người nuôi cũng như yêu cầu thả bột ương giống trong trung tâm giống.
- Tổ cá giống: có nhiệm vụ ương giống từ bột lên hương, từ hương lên giống. Và
xuất bán tùy theo nhu cầu của người nuôi.
- Tổ cá thương phẩm: nuôi cá tra và cá rô đồng thương phẩm.
- Tổ bảo vệ: chia làm 2 nhóm nhỏ. Nhóm trồng trọt và nhóm bảo vệ. Chuyên bảo
vệ giữ gìn trật tự, dọn cỏ, chăm sóc và xuất bán các sản phẩm khác của trung tâm
ngoài cá như chuối, đu đủ ….
Trong thời gian qua trung tâm đã cho sinh sản cá tra và cá rô đồng, nuôi cá tra
và cá rô đồng thương phẩm, ương nuôi cá tra giống cung cấp được 1 lượng lớn
nhu cầu về cá bột cũng như con giống cho tỉnh Đồng Tháp nói chung và các tỉnh
lân cận nói riêng.
Trong thời gian tới trung tâm tăng cường đẩy mạnh việc sản xuất cá bột cũng
như ương cá tra giống đạt chất lượng cao hơn cho người nuôi.
Với cơ cấu tổ chức, điều kiện hiện có về cơ sở vật chất và nhiệm vụ đặt ra cho
Trung Tâm giống Thuỷ Sản Đồng Tháp, chúng tôi thấy rằng trung tâm có khả
năng mở rộng sản xuất và phát huy tốt hơn nữa về các mặt và cũng là 1 trong
những nơi cung cấp con giống uy tín trọng tâm của tỉnh và các tỉnh ĐBSCL
2.2. Đặc điểm sinh học của cá tra
2.2.1. Phân loại cá tra
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống : Pangasianodon
Loài cá tra: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage ,1878)
5
Trước đây, cá tra được xếp vào họ Schilbeidae với tên khoa học là Pangasius
micronemus Bleeker, 1847 (Mai Đình Yên và ctv, 1992). Theo định danh của
Rainboth (1996) thì cá tra thuộc giống Pangasianodon, loài P. hypophthalmus.
Nhìn chung, tên khoa học của cá tra thì có nhiều tài liệu công bố nhưng có sự
với mật độ cao. Tính hung dữ của cá tra giảm dần sau khoảng 10 ngày tuổi thì
khả năng sát hại nhau không đáng kể (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
2.2.5. Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài,
cá 2 tháng tuổi đã đạt chiều dài 10-12 cm nặng 14-15 g/con. Cá từ khỏang 0,3–0,4
kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như trọng lượng, cá từ khoảng 2,5 kg trở
đi mức tăng trọng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể và cá trên 10 năm tuổi
tăng trọng rất ít. Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm. Ðã gặp những con
cá có chiều dài tới 1,8 m nặng 30 kg/con. Tùy thuộc môi trường sống và sự cung
cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít mà tốc độ tăng
trưởng nhanh hay chậm. Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và
nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo
thường giảm đi khi vào mùa sinh sản (Nguyễn Chung, 2008).
Cá tra lớn nhanh khi nuôi trong ao, sau 6 tháng cá đạt trọng lượng 1–1,2 kg/con,
trong những năm sau lớn nhanh hơn. Nuôi cá trong ao đất có thể đạt đến 25kg ở
10 tuổi (Dương Nhựt Long, 2003)
2.2.6. Điều kiện môi trường
Theo Nguyễn Chung (2008), cá tra sống ở những vùng nước ấm, nhiệt độ thích
hợp là 26 – 32
o
C, cá sống ở tầng nước mặt và hoạt động ở cả tầng nước mặt, tầng
giữa và tầng đáy trong ao.
Cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bóng khí và da. Cá tiêu hao oxy và
ngưỡng oxy rất thấp nên có thể sống được ở những nơi ao hồ chặt hẹp, thiếu oxy,
ở những nơi môi trường khắc nghiệt nước bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn pH = 4 – 5
và ở nơi có độ mặn cao 7 – 10%o, chịu được nhiệt độ cao, nhưng dễ chết ở nhiệt
độ thấp dưới 15
o
C.
2.3. Đặc điểm sinh sản
sinh sản nhân tạo. Do vậy nuôi vỗ cá bố mẹ là một khâu có ý nghĩa quan trọng
đối với vấn đề cho cá đẻ trong ao, các loài cá nuôi trong ao hiện nay đều có thể
thành thục tốt, có hệ số thành thục cao nếu nuôi vỗ tốt. Nhưng phương pháp nuôi
vỗ, diện tích mặt nước khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau và được thể hiện ở tỷ
lệ thành thục, tỷ lệ cá nở, sức sinh sản và chỉ tiêu sinh vật khác (Nguyễn Văn
Kiểm, 2000).
a. Ao nuôi vỗ
Ao nuôi vỗ phải đảm bảo không gian cho cá hoạt động bình thường và không
chịu ảnh hưởng xấu của sự thay đổi các yếu tố môi trường. Ngoài ra ao còn phải
được xây dựng ở những nơi có chất đất tốt, không thấm nước, gần đường giao
thông, gần nơi cho đẻ và gần ao ương. Ao nuôi vỗ cũng phải bảo đảm yên tĩnh,
thoáng mát (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
8
Diện tích ít nhất từ 500 m
2
trở lên, có độ sâu nước 1,5 – 2,0 m. Nguồn cấp nước
phải chủ động. Ao có cống tháo và cấp nước dễ dàng (Phạm Văn Khánh, 2004).
b. Thời gian nuôi vỗ
Sau khi nuôi vỗ 2 tháng, kiểm tra cá bố mẹ, quan sát ngoại hình, đánh giá sức
khỏe, độ béo của cá. Tháng thứ 3 dùng que thăm để kiểm tra trứng và tinh dịch
của cá để đánh giá mức độ phát dục và điều chỉnh chế độ nuôi vỗ hợp lý. Tháng
thứ tư trở đi, mỗi tháng 2 lần kiểm tra tình trạng phát dục của cá, lúc này đa số cá
cái có buồng trứng chuyển sang giai đoạn IV và nhiều cá đực đã có tinh dịch
(Nguyễn Chung, 2007).
c. Chọn cá bố mẹ
Phạm Văn Khánh (2004) cho rằng
- Độ tuổi: Cá đực phải từ 2 năm tuổi và cá cái 3 năm tuổi trở lên. Chọn cá
khỏe mạnh, ngoại hình hoàn chỉnh không bị dị hình, dị tật, trọng lượng cá từ 2,5 –
3 kg trở lên đưa vào ao nuôi vỗ.
- Mật độ thả nuôi vỗ: 5 m
Rau xanh 30%
Công thức 3
Bột cá lạc: 20%
Cám gạo: 20%
Bột bắp: 19%
Primix: 1%
Rau xanh 40%
Công thức 4
Bột cá lạc: 25%
Cám gạo: 15%
Bột bắp: 19%
Primix: 1%
Rau xanh 40%
2.5. Kỹ thuật kích thích cá sinh sản
a. Chọn cá bố mẹ
Phạm Văn Khánh (2004) cho rằng cá bố mẹ được tuyển chọn phải mạnh khỏe,
bơi lội nhanh nhẹn.
- Cá cái: bụng to, mềm, hạt trứng đều, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt.
- Cá đực: Khi vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục thấy tinh dịch chảy ra trắng đục và
đặc như sữa.
10
Ngoài ra để chọn cá đẻ chính xác cũng cần phải dựa vào đặc điểm của trứng
thành thục như tỷ lệ trứng phân cực, đường kính, màu sắc và mức độ rời rạc của
trứng (tỷ lệ tế bào trứng đạt kích thước cực đại 80%). Kích thước trứng đều
nhau, đa số trứng đã phân cực (>80%). Màu sắc đồng đều và sáng (Nguyễn Văn
Kiểm, 2004).
b. Kích thích tố sử dụng
Thoại Sơn (2006) cho rằng có thể sử dụng một hoặc kết hợp những loại kích dục
tố dưới đây để tiêm cho cá bố mẹ:
- HCG
và não thùy thẳng vào xoang buồng trứng. Ở các lần tiêm khác nhau nên tiêm ở vị
trí khác nhau để tránh làm cá bị thương. Khi tiêm, đặt mũi kim vào đúng vị trí đã
định, nghiêng mũi kim một gốc 45
o
so với thân cá, bơm thuốc nhanh nhưng
không vội vàng và rút ra từ từ để tránh thuốc bị trào ra ngoài.
c. Vuốt trứng và thụ tinh
Hội nghề cá Việt Nam (2004) cho rằng
Đối với cá tra khi sinh sản nhân tạo phải dung phương pháp vuốt trứng và thụ tinh
khô. Trước khi tiến hành vuốt trứng đưa cá vào băng ca và nhúng cá vào dung
dịch thuốc gây mê Tricane (thường gọi là MS 222, tên hóa học là 3-amino
benzoic acid ethyl ester methanesulfonate) nồng độ 40 mg/lít trong 3 – 4 phút để
cá bị mê và không còn dãy dụa trong khi vuốt trứng. Thao tác vuốt trứng phải nhẹ
nhàng và khẩn trương tránh làm cho cá bị thương, để trứng chảy ra gọn vào trong
chậu khô, vuốt từ phần trên xuống dưới cho hết trứng đã rụng. Nếu rụng trứng tốt,
có thể vuốt 1 lần là hết trứng. Đôi khi phải vuốt 2, 3 lần do trứng cá rụng cục bộ
hoặc rụng không đồng loạt. Cá vuốt trứng xong phải lập tức ngâm vào nước sạch
sau khoảng 3 – 4 phút thì tỉnh lại.
Sức sinh sản tương đối thực tế của cá tra trong khoảng 90.000 – 130.000 trứng
(cho 1 kg cá cái).
Sau khi trứng đã vuốt xong, vuốt tinh dịch cá đực tưới trực tiếp lên trứng, dùng
lông gà khô trộn đều trứng với dung dịch khoảng 15 – 20 giây, sau đó cho nước
sạch vào ngập trứng, tiếp tục dùng lông gà khoấy đều khoảng 20 – 30 giây để
trứng hoạt hóa và thụ tinh. Tiếp theo đó đổ hết nước cũ đi và cho thêm nước mới,
chú ý cho nước từ từ, vừa cho nước vừa khoấy, sau đó đổ dung dịch khử dính vào
để khử tính dính của trứng.
12
Khử dính bằng tanin: Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Sau khi
trứng đã hoàn tất quá trình thụ tinh, dung dung dịch tanin 1,2 – 1,5% để khử dính.
Tỷ lệ giữa trứng/dung dịch là 1/1,5 – 1/2. Sau khi đổ dung dịch vào trứng phải
C tỷ lệ dị hình của phôi 60 – 70% và tỷ lệ phôi chết trước
khi nở 50 – 60%. Trong giới hạn thích hợp của nhiệt độ (282
o
C) nhưng biên độ
thay đổi lớn (T
o
2) đều có ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi (Nguyễn Văn
Kiểm, 2000).
13
Thời gian ấp để trứng nở là 22 – 24 giờ. Thời gian để cá nở hết toàn bộ có khi
kéo dài hơn 1 – 2 giờ tùy theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần thụ tinh của
trứng đưa vào bể ấp. Khi cá bắt đầu nở, cần tăng lưu lượng nước qua bể ấp đẩy
nhanh vỏ trứng và các chất thải ra ngoài. Chú ý theo dõi khi cá nở hết phải vớt giá
thể đi.
Cá tra sau khi nở 30 – 32 giờ thì hết noãn hoàn, cá bắt đầu tìm thức ăn bên ngoài.
Ở giai đoạn cá bột, cá tra thể hiện tính dữ (tính ăn thịt) và chúng tìm ăn các thức
ăn là động vật sống có kích thước vừa với cỡ miệng của chúng. Trong bể ấp do
không có thức ăn phù hợp nên xảy ra tình trạng cá tra bột ăn thịt lẫn nhau. Do đó
khi cá nở được 20 – 25 giờ nên nhanh chống đưa cá bột xuống ao ương nuôi để
tránh tình trạng ăn thịt lẫn nhau làm hao hụt nhiều cá bột.
2.7. Các biện pháp kỹ thuật ương nuôi cá con và kết quả
a. Chuẩn bị ao ương cá
Theo Trung tâm khuyến ngư quốc gia – Bộ Thủy Sản, 2005 ao có diện tích càng
lớn, càng tốt và không nhỏ dưới 200 m
2
, mực nước thích hợp 1,2 - 1,5 m. Nước
cấp cho ao phải sạch và chủ động, xa các nguồn ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt và
công nghiệp, các khu ruộng, vườn có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Trước khi thả cá cần chuẩn bị ao theo trình tự sau:
- Tát cạn ao, diệt hết cá và địch hại (rắn, cua, ếch,…), sên vét bớt bùn đáy
Tiêu hao oxy: 15 – 20 mg/gr/h
pH 7 – 8
Độ trong : 20 – 25 cm
Phytoplankton: 3 – 4 triệu tế bào/lít
Zooplankton: 250.000 – 300.000 cá thể/m
3
Hàm lượng đạm và lân: 1 – 1.5 ppm
b. Thả cá ương
Nếu mua cá tra bột nhân tạo để ương, tốt nhất nên chọn con giống từ những trại
sản xuất giống có uy tín. Cá tra bột phải cá kích cỡ tương đối đồng đều nhau, màu
sắc tươi sáng, bơi nhanh nhẹn, có lý lịch rõ ràng, cha mẹ chúng phải là loại cá có
chất lượng tốt (Thoại Sơn, 2006).
Nên thả cá vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả cá ra ao nên ngâm túi
chở cá trong nước ao 10 – 15 phút để nhiệt độ nước ngoài ao và trong bao chứa cá
cân bằng, sau đó mới mở miệng bao và thả cá từ từ ra ao (Nguyễn Văn Kiểm,
2004)
Dương Nhựt Long (2003) cho rằng, mật độ ương cá tra là 250 – 500 con/m
2
.
c. Chăm sóc và quản lý
Sau khi thả cá xong nên cho ăn ngay. Có thể dung nhiều loại thức ăn để ương cá
tra, tuy nhiên những loại thức ăn có chất lượng cao thường được ưa chuộng hơn
như lòng đỏ trứng, ốc tươi xay nhuyễn, trứng cá. Những loại thức ăn này được
xay nhuyễn chung với nhau sau đó cho cá ăn. Vì cá còn nhỏ khả năng kiếm mồi
rất hạn chế nên cần cho ăn nhiều lần trong ngày và nên tập cho cá ăn theo giờ ở 1
nơi cố định. Các loại thức ăn có mùi (mùi tanh) sẽ có tác dụng hấp dẫn cá tìm mồi
tốt hơn. Không nên cho thức ăn quá nhiều dễ gây thoái nước ảnh hưởng xấu tới
15
cá. Khi nhiệt độ thấp (do mưa kéo dài) hoặc nhiệt độ cao kéo dài nên giảm lượng
thức ăn và số lần cho ăn trong ngày (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
4,3 kg
0,8 kg
1,5 kg
0,2 kg
0,2 kg
Khi cho cá ăn cần tập trung cá lại một chỗ bằng cách tạo tiếng động (gõ vào thành
cầu, gõ vào thùng chứa thức ăn…) dần dần sẽ tạo thành phản xạ cho cá, chỉ cần
tạo tiếng động là cá sẽ tập trung về nơi cho ăn. Đối với những ao ương có diện
tích rộng có thể thiết kế nhiều sàng ăn dọc theo ao. Sàng ăn có thể giữ nổi trên
mặt nhờ các phao.
16
Thức ăn trong ương nuôi cá tra trong giai đoạn 1 tháng tuổi cần phải có hàm
lượng đạm (protein) khoảng 28 – 32% (thành phần thức ăn trong bảng 1). Có thể
sử dụng các loại thức ăn công nghiệp dạng đậm đặc trộn thêm cám. Lượng thức
ăn cho cá dao động từ 10 - 20 kg/100 kg cá, cho cá ăn 2 – 4 lần trong ngày.
Sau 1 tháng, giảm mật độ nuôi xuống 1 nửa bằng cách san thưa thành 2 ao. Lúc
này, cho cá ăn 2 lần/ngày (Phạm Thanh Liêm và Nguyễn Thanh Phương, 2003).
Cần theo dõi chất lượng nước thường xuyên và giữ nước sạch, vì cá tra rất mẫn
cảm với những biến đổi của điều kiện môi trường. Sau 2 tháng ương, cá đạt kích
cỡ 8 – 10 cm. Tỉ lệ sống trung bình đạt 40 – 60% Dương Nhựt Long, 2003).
Bảng 2. Quy cỡ cá hương, cá giống cá tra
Thời gian ương
Cao thân
Giống cá lớn
3 tuần
60 – 70 ngày
90 – 100 ngày
0,7
2
3
2
)
Độ sâu
(m)
Nguồn
nước cấp
Cảnh
quan
1
2
3
4
5
6
7
8
Chuẩn bị ao ương