TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHẠM THẾ HIỂN KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở TRUNG TÂM
GIỐNG CASEAMEX – TP CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. DƯƠNG NHỰT LONG
KS. NGUYỄN HOÀNG THANH
2009
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
i
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ cùng quí
Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện luận văn. Đặc biệt có sự hướng dẫn tận tình của thầy Dương Nhựt Long
và kỹ sư Nguyễn Hoàng Thanh.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ Trại Cá Thực Nghiệm – Bộ Môn Kỹ Thuật
Nuôi Thủy Sản Nước Ngọt – Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện về vật chất và
tinh thần để em hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn cô cố vấn học tập và tập thể lớp Bệnh Học Thủy Sản
K31 đã đóng góp ý và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cuối cùng xin kính chúc quí thầy cô, các anh chị và các bạn luôn dồi dào sức
khỏe và thành công trong cuộc sống.
môi trường và phôi phát triển tốt ở nhiệt độ trung bình 29,5
0
C, Oxy 4,3ppm,
NH
3
/NH
4
0,59mg/l. PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
iii
MỤC LỤC
CHƯƠNG I 1
GIỚI THIỆU 1
Mục tiêu nghiên cứu 1
Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG II 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Tra (Pangasius hypophthalmus) 3
3.3.6 Một số chỉ tiêu theo dõi trong kỹ thuật cho cá tra sinh sản nhân tạo 20
CHƯƠNG IV 21
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Kết quả của quá trình nuôi vỗ 21
4.2 Kết quả kích thích sinh sản 22
4.2.1 Kết quả kích thích sinh sản bằng kích dục tố HCG (Việt Nam) 23
4.2.2 Kết quả kích thích sinh sản bằng kích dục tố HCG (Trung Quốc) 25
4.2.3 So sánh kết quả kích thích sinh sản giữa HCG (Việt Nam) và HCG
(Trung Quốc) 28
4.3 thụ tinh nhân tạo và ấp trứng 30
4.3.1 Thụ tinh nhân tạo 30
4.3.2 Quá trình ấp trứng 31
Phần V 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34
5.1 Kết luận 34
5.2 Đề xuất 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 37
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
v
DANH SÁCH BẢNG VÀ DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ các giai đoạn thành thục của cá từ tháng 01-06/2009 19
Bảng 4.2: Đường kính trứng cá tra qua các lần tiêm kích dục tố 20
Bảng 4.3: Kết quả kích thích HCG (Việt Nam) 21
Bảng 4.4: Kết quả kích thích HCG (Trung Quốc) 24
Hình 4.4.1 – 4.4.15: Quá trình phát triển phôi cá tra 31 PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ctv: cộng tác viên
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐHCT: Đại Học Cần Thơ
KL: Khối Lượng
SSS: Sức Sinh Sản
TL: Tỉ Lệ
40-50%. Do đó để nâng cao được chất lượng cũng như hạn chế tỉ lệ hao hụt
trong việc sản xuất cá Tra giống thì đề tài “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá
Tra (Pangasius hypophthalmus) ở trung tâm giống Caseamex – Tp Cần
Thơ” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài thực hiện với mục tiêu là:
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
2
Tìm hiểu kỹ thuật kích thích cá tra sinh sản nhân tạo ở trung tâm giống
Caseamex – Tp Cần Thơ đồng thời nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh
viên.
Nội dung nghiên cứu: Nội dung đề tài nghiên cứu là:
Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo.
Kỹ thuật kích thích kích dục tố trong quá trình sinh sản nhân tạo cá tra.
hàng năm (Nguyễn Chung, 2007).
2.1.3 Hình thái, sinh lý
Cá Tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng
rộng, có 2 đôi râu dài. Cá Tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được
ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được nước phèn
với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15
o
C, nhưng chịu nóng tới 39
o
C Cá tra
có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác. Cá có cơ quan hô
hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi
trường nước thiếu oxy hòa tan. Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá Tra thấp
hơn 3 lần so với cá mè trắng (Nguyễn Chung, 2007).
2.1.4 Ðặc điểm dinh dưỡng
Cá Tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn
nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được
cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt
cá bột. Ngoài ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của
chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các lòai cá khác. Dạ dày của cá
phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá Tra ngắn, không gấp khúc lên
nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Dạ
dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt. Ngay khi vừa hết noãn
hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn
nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương. Trong quá trình
ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích
thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo. Khi cá lớn thể hiện
tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức
ăn. Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc
khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật. Trong ao nuôi cá
sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình
dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục
của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76-12,94 (cá cái) và từ 0,83-2,1
(cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8-11kg (Nguyễn văn Trọng,
1989). Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá Tra cái có thể đạt tới 19,5%.
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5-6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù
hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông
của Việt Nam. Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông
Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone,
nơi giáp biên giới Campuchia và Lào. Nhưng tập trung nhất từ Kampi đến hết
Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng. Tại đây có thể bắt
được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành thục. Cá đẻ trứng
dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau
24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn (Nguyễn Chung, 2007).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
6
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn
trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3
lần trong một năm.
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt
đối. Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh
sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái. Kích thước của trứng cá tra
tương đối nhỏ và có tính dính. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm.
Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5-
1,6mm (Nguyễn Chung, 2007).
2.2 Sơ lược về kích dục tố và sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá Tra:
2.2.1 Sơ lược về kích dục tố:
a.Não Thùy Thể
Người ta lấy não thùy từ những cá thuộc họ cá chép, trắm, mè, trê… đã thành
b.HCG:
Là một glycoprotein tan trong nước, việc chiết xuất HCG từ nước tiểu phụ nữ
có thai hoặc từ nhau thai dựa vào nguyên lý tách protein tan trong nước.
HCG gây được những phản ứng oxy hóa cho các enzym chuyển hóa protein và
lipid như dehydrogenaza và estaraza của cá mè trắng tương tự như tác dụng
của não thùy cá chép trên loài này.
Có thể nói HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều
loài cá nhất, ngoài cá mè, các loài cá trê. HCG còn có tác dụng gây rụng trứng
cho các loài cá khác ở nước ta như cá chày, cá vền, cá trôi, cá bống, cá
vàng….(Nguyễn Tường Anh, 1999).
c.GnRH-A
Là chất tổng hợp, có thành phần là các maminoacid trên cơ bản giống với các
GnRH tự nhiên. Có 3 loại GnRH-A: mGnRH-A (Trung Quốc), Buerelin
(Đức), và Superfact nasal (Thái Lan), trong đó sGnRH- A (cá hồi) mạnh nhất
vì có ái lực thụ thể cao nhất. Ovaprim là hỗn hợp của 2 loại chất có thành phần
là 20 mg sGnRH-A và 10 mg donperidon trong khoảng 1 ml propylene glycol,
dành riêng để kích thích cá sinh sản (Nguyễn Tường Anh,1997)
GnRH- A có tác dụng gây phóng thích kích dục tố ở cá, vì thế chúng có thể
được dùng làm chất kích thích sinh sản cho tất cả các loài
Lợi thế của GnRH-A là giá rẻ, hoạt tính ổn định nếu được bào chế bảo quản
tốt, không gây phản ứng miễn dịch.Tuy nhiên cần lưu ý khi sử dụng GnRH
cho cá đó là thời gian hiệu ứng dài, ở cá bố mẹ sau khi tiêm GnRH và đã đẻ
xong thì tuyến yên không còn kích dục tố nên thời gian tái phát dục lâu
(Nguyễn Tường Anh, 1999).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
8
d.Domperidone (DOM)
Domperidone là chất kết hợp với LnRH-A để ức chế cá tiết dopamine
(Nguyễn Tường Anh, 1999).
Giai đoạn III: Thể tích buồng trứng tăng lên, bề mặt buồng trứng có màu xám
nhạt hoặc trắng hồng nhạt. Mắt thường đã phân biệt được tế bào trứng nhưng
tế bào trứng chưa tách khỏi tấm trứng. Đường kính của tế bào trứng 0,25-0,5
mm. buông trứng ở giai đoạn này có thời gian phát triển khá dài ( từ 1-3
tháng). Về mặt tổ chức tế bào học thì tế bào trứng tăng nhanh về kích thước do
quá trình tích lũy noãn hoàng xảy ra mạnh, màng dính cũng được hình thành.
Giai đoạn IV: Thể tích buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng, hạt trứng tròn
và căng dễ tách ra khỏi tấm trứng, màu vàng nhạt. Buồng trứng trở nên mềm.
Về tổ chức tế bào học thì tế bào trứng đã hoàn thành quá trình tích lũy noãn
hoàng, có hiện tượng phân cực của trứng, nhân di chuyển về lỗ thụ tinh.
Đường kính của tế bào trứng 0,6-0,8 mm.
Giai đoạn V: Buồng trứng đang trong tình trạng sinh sản, đại đa số tế bào
trứng đã chín và rụng. Ngoài ra buồng trứng còn chứa các nang trứng và tế
bào ở các giai đoạn I, II, III. Toàn bộ buồng trứng mềm nhão, đường kính của
tế bào 0,9-1,2 mm.
Giai đoạn VI: Buồng trứng đã đẻ xong nên mềm nhão, teo nhỏ lại. Trong
buồng trứng chứa đầy các nang trứng và một số trứng rụng nhưng không được
đẻ ra cùng với các tế bào ở giai đoạn đầu của quá trình tạo trứng.
2.3.2 Sự phát triển của tuyến sinh dục đực:
Theo Nguyễn Văn kiểm (2004), buồng tinh cá đực là hai dải nhỏ nằm sát hai
bên xương sống, bên ngoài được bao phủ bởi một lớp màng mỏng, có hình
thái bên ngoài phân làm nhiều nhánh, nhiều thùy. Một đầu dính vào lỗ sinh
dục, còn đầu kia nằm tự do trong xoang nội quan.
Giai đoạn I: Tuyến sinh dục chưa phát triển, nó như hai sợi chỉ nhỏ nằm sát
hai bên xương sống.
Giai đoạn II: Tuyến sinh dục có dạng hai dải mỏng có màu hồng nhạt.
Giai đoạn III: Tuyến sinh dục có màu trắng phớt hồng, cuối giai đoạn này có
màu trắng ngà, mạch máu phân bố nhiều.
Giai đoạn IV: Buồng tinh có màu trắng sữa, quá trình tạo tinh cơ bản kết thúc.
trong ống dẫn tinh chứa đầy các tinh trùng đã chín muồi. Ở giai đoạn này tinh
nên khá phổ biến. Với loại thuốc này, người ta có thể ép cá đẻ tới 5-6 lứa/năm.
Vì cá phải đẻ quá nhiều, năm này qua năm khác, dẫn tới chất lượng cá tra
giống ngày càng xuống thấp.
Mặt khác, do hiện nay hầu hết cá tra giống đều có nguồn gốc từ sinh sản nhân
tạo, nên giống nhanh chóng bị thoái hoá. Theo ông Phạm Văn Khánh, trước
đây, cá giống lấy từ môi trường tự nhiên, phải từ 2,5 đến 3 năm tuổi mới bắt
đầu thành thục (sinh sản). Còn bây giờ, cá mới 5-6 tháng tuổi đã… thành thục
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
11
rồi. Điều đáng nói là nhiều trại cá giống vẫn cho những con cá thành thục quá
sớm này đẻ luôn, vì thế, chất lượng cá giống lại càng khó đảm bảo.
Do chất lượng cá tra giống quá thấp, kỹ thuật ương nuôi còn hạn chế, nên tỷ lệ
cá giống bị hao hụt rất lớn. Theo đánh giá của Trung tâm Quốc gia Giống thuỷ
sản nước ngọt Nam Bộ, hiện nay, từ cá bột lên cá hương, tỷ lệ hao hụt tới trên
80%. Từ cá hương lên cá giống, tỷ lệ hao hụt tới 40-50%. Do tỷ lệ hao hụt quá
lớn, nên hàng năm, để đảm bảo đủ lượng cá giống cho nhu cầu, ĐBSCL đang
phải cần tới một lượng cá bột khổng lồ khoảng vài chục tỷ con. Và để có được
lượng cá bột này, phải cần tới vài ngàn tấn cá bố mẹ. Trong khi đó, theo tính
toán của các nhà khoa học, nếu tỷ lệ cá bột, cá hương bị hao hụt không quá
cao như vậy, mỗi năm, ĐBSCL chỉ cần khoảng 60 tấn cá bố mẹ. Đây quả là sự
lãng phí quá lớn.
Chất lượng giống cá tra thấp ảnh hưởng lớn đến năng suất và thời vụ nuôi cá
tra hiện nay. Theo Phạm Văn Khánh (2007) cho biết, trước đây, do chất lượng
giống khá tốt, người nuôi cá tra chỉ cần 5-6 tháng là đã có cá đạt kích cỡ đúng
tiêu chuẩn xuất khẩu (khoảng 1-1,1 kg/con). Còn bây giờ, chất lượng cá giống
xuống thấp, nên để đạt được kích cỡ cá trên, người nuôi phải bỏ ra tới 7-8
tháng trời. Đây chính là nguyên nhân quan trọng làm tăng chi phí sản xuất cá
Tra hiện nay.
Tình trạng sản xuất và chất lượng cá Tra giống, có thể nói đã đến mức báo
động. Thế nhưng, đến giờ, cơ quan chức năng ở các địa phương ĐBSCL hầu
đến sản xuất cá thương phẩm theo một tiêu chuẩn Quốc tế, điều này cũng đồng
nghĩa với việc sản phẩm khi đã đưa ra thị trường không chỉ được 2 bên đối tác
chấp nhận mà phải có chứng nhận của một bên thứ 3.
Sản xuất thủy sản sạch là hướng đi mà ngành thủy sản cả nước nói chung và
ĐBSCL nói riêng phải vươn tới. Mô hình liên kết 5 Nhà ( Nhà sản xuất giống
– Nhà cung cấp thức ăn – Nhà cung cấp thuốc thú y thủy sản – Nhà doanh
nghiệp và ngư dân) của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL như
Navico, Agifish, Afiex, Cataco với tên gọi "Liên hợp sản xuất cá sạch" lần
lượt ra đời là một mô hình hiệu quả và bền vững đáp ứng được yêu cầu cấp
thiết của thị trường về vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm tính
cạnh tranh lành mạnh. Các Liên hợp muốn phát triển bền vững đòi hỏi từng
thành viên trong liên hợp phải giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm của mình, để cùng tạo nên một sản phẩm chất lượng hoàn toàn có
thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Để có được một sản phẩm cá sạch đáp ứng được tiêu chuẩn Quốc tế, người sản
xuất phải thực hiện tốt nhiều khâu từ con giống, thức ăn, phương pháp phòng,
trị bệnh cho cá đến công nghệ chế biến… Một điều dễ thấy là trong chuỗi các
yếu tố cấu thành sản phẩm thì con giống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tuy
chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong chuỗi giá trị sản xuất (khoảng 10% cơ cấu
trong giá thành) nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng nuôi.
Chọn con giống tốt là biện pháp loại từ đầu một trong những rủi ro trong quá
trình nuôi, là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả sản xuất.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
13
Đồng hành cùng sự phát triển về chất lượng cũng như về quy mô của các Liên
hợp sản xuất cá sạch trong tỉnh An Giang nói riêng và trong khu vực nói
chung, để có đủ tư cách tham gia các liên hợp sản xuất cá sạch, TTNC &
SXGTS An Giang đã chọn tiêu chuẩn SQF 1000 của công ty SGS để áp dụng
cho hệ thống sản xuất giống của đơn vị. Từ tháng 9/2005 Trung tâm đã xây
dựng một hệ thống quản lý chất lượng con giống cá tra và basa theo tiêu chuẩn
TTNC&SXGTS và một số cơ sở vệ tinh làm đàn cá đực cơ bản. Đảm bảo đàn
cá sản xuất không bị đồng huyết trong di truyền. Ứng dụng kỹ thuật di truyền
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
14
phân tử đánh giá hệ số tương đồng và biến dị của các quần đàn cá bố mẹ ở
Trung Tâm và các Trại vệ tinh làm cơ sở chứng nhận chất lượng cá bột cung
cấp cho nghề nuôi và phục vụ cho công tác chọn giống lâu dài của tỉnh. Tiến
hành việc đánh dấu cá bố mẹ bằng phương pháp cấy thẻ từ dưới da. Mỗi thẻ từ
có mã số riêng để truy cập, với thẻ điện tử này sẽ nắm được quá trình sinh sản
của cá, từ đó loại cá bố mẹ kém chất lượng, biết được lý lịch cá thịt có cha mẹ
là ai, xuất xứ từ trại giống nào.
Hai là, xây dựng ngành công nghệ sản xuất giống cá tra hiệu quả và bền vững .
Trung Tâm sẽ thực hiện kết hợp 2 phương pháp chọn giống hàng loạt và gia
đình trong chương trình tuyển chọn đàn giống bố mẹ hậu bị có chất lượng cao
cho ngành sản xuất giống. Đa dạng hóa nguồn gen trong di truyền thông qua
tiếp nhận cá giống đã được tuyển chọn (thế hệ F
1
) từ Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản II về nuôi thử nghiệm cùng với cá giống tuyển chọn của Trung
tâm, so sánh và đối chiếu các chỉ tiêu sinh học, tuyển chọn bổ sung làm đàn cá
bố mẹ hậu bị. Đào tạo, huấn luyện nâng cao kiến thức và kỹ năng sản xuất
giống cho các cán bộ kỹ thuật và ngư dân ở các Trại sản xuất cá bột và cơ sở
ương cá giống là các vệ tinh trực thuộc…làm nền tảng cho ngành công nghệ
sản xuất giống bền vững và hiệu quả. Thống nhất quản lý sản xuất giống theo
tiêu chuẩn SQF 1000. Kết thúc dự án đến năm 2009, Trung Tâm sẽ nâng cao
hơn nữa chất lượng con giống theo hướng tăng tốc độ tăng trưởng và đạt tiêu
chuẩn sạch bệnh. Về năng lực có thể đáp ứng đến 70% nhu cầu cá giống sạch
trong tỉnh.
Ngư dân ĐBSCL đang hết sức phấn khởi do giá cá liên tục tăng từ đầu năm
đến nay, cơ hội lại mở ra nhưng ẩn khuất phía sau chắc chắn sẽ có những
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ
Cá bố mẹ sau khi được lựa chọn sẽ được thả vào 4 ao (diện tích mỗi ao từ
1000-1500m
2
) với mật độ thả là 45-50kg/100m
2
, tỉ lệ đực cái là 2 cá đực và
1cái.
Thức ăn sử dụng cho quá trình nuôi vỗ có hàm lượng protein từ 32-36% và
cho ăn lượng thức ăn mỗi ngày bằng 1,5 % trọng lượng cơ thể, ngoài ra còn
phải bổ sung thêm các vitamin. Đặc biệt giai đoạn cuối của quá trình nuôi vỗ
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
16
thì lượng thức giảm còn 1% cơ thể cá một ngày nhưng lượng protein phải
tăng lên, trong giai đoạn này cần bổ sung thêm chất béo cần thiết cho quá trình
tạo trứng.
Cá bố mẹ khi được nuôi vỗ cần được tiến hành kiểm tra để chọn thời điểm cho
cá đẻ chính xác. Công việc kiểm tra cần làm:
Cân do vòng bụng hoặc chiều dài cá bằng thước dây để theo dõi sự phát triển
của buồng trứng và đo chỗ lớn nhất trên thân cá.
Dùng que thăm trứng (khoảng 100 trứng) để lấy trứng ra và quan sát về màu
sắc trứng, đánh giá mức độ rời và xác định độ đồng đều của trứng.
Quan sát độ béo của cá để điều chỉnh lượng thức ăn.
Đánh số cá (dùng vật cứng đánh số trên đầu), dùng số chẵn cho cá cái và số lẻ
cho cá đực, hoặc có thể cắt vi mỡ để để đánh dấu cá cái.
3.3.2 Chọn cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo
Chọn cá cái: Chọn cá khỏe mạnh không dị hình, dị tật, bụng to, mềm lỗ sinh
dục có màu hồng, hơi lồi.
Chọn cá đực: Chọn cá khỏe mạnh không dị hình, dị tật, vuốt nhẹ thấy có có