BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
"Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa xã
Quảng Phước - Quảng Điền - Thừa Thiên Huế"
MỤC LỤC
BÁO CÁO T T NGHI PỐ Ệ 1
Báo cáo 1
"Gi i pháp nâng cao hi u qu s n xu t lúa xã Qu ng Ph c - Qu ng i n - ả ệ ả ả ấ ả ướ ả Đ ề
Th a Thiên Hu "ừ ế 1
M C L CỤ Ụ 2
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi Quốc gia, mỗi thời kỳ, mỗi điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội cụ thể đều có một chiến lược cụ thể đảm bảo an ninh lương thực
khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là đảm bảo đủ nhu cầu lương thực tối
thiểu cho mọi thành viên trong xã hội. Việt Nam đi lên từ cây lúa nước, từ
một nền nông nghiệp lạc hậu, cho đến nay, lao động nông nghiệp chiếm
khoảng 75%, nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc sản xuất lương thực, coi
đây là nhiệm vụ hàng đầu cho vấn đề an ninh lương thực Quốc gia.
Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước ngày nay, diện tích sản xuất lúa
phải nhường chỗ cho các công trình xây dựng, cho phát triển công nghiệp,
cho quá trình đô thị hoá diễn ra ồ ạt, thì vấn đề về đảm bảo lương thực càng
đặt lên vai người nông dân một trọng trách hết sức lớn lao.
Xã Quảng Phước là một xã vùng ven phá của huyện Quảng Điền và
là trung tâm KT-VH-XH của huyện Quảng Điền. Trong nhiều năm qua sản
xuất nông nghiệp đã đạt được những tiến bộ đáng kể, trong đó cây lúa đóng
vai trò chủ đạo. Với lợi thế, địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, xã đã
áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, đã mạnh dạn đưa các
giống lúa mới có năng suất cao. Nhờ vậy mà những năm qua sản lượng lúa
được ổn định trong khi diện tích canh tác giảm. Bên cạnh đó vẫn còn không
và lúa gạo. Trong lúa gạo có đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương
thực khác, ngoài ra còn có các Vitamin nhóm B và một số thành phần khác.
- Về tinh bột: Là nguồn cung cấp chủ yếu Calo. Giá trị nhiệt lượng
của lúa là 3594 Calo/g, trong đó hàm lượng amyloza trong hạt quyết định
đến độ dẻo của gạo. Hàm lượng amyloza ở lúa gạo Việt nam thay đổi từ 18
- 45% đặc biệt có giống lên tới 54%.
- Prôtêin: Chiếm 6 - 8% thấp hơn so với lúa mỳ và các loại cây khác.
Giống lúa có hàm lượng prôtêin cao nhất là 12,84% và thấp nhất là 5,25%.
Phần lớn các giống Việt nam nằm vào khoảng 7 -8%.
- Lipít: Ở lúa lipít thuộc loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ
gạo.
- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1,
B2, B6…Vitamin B1 là 0,45 mg/100hạt. Từ những đặc điểm của cây lúa và
giá trị của nó, lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị
và được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống".
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có
năng suất cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng
lương thực là chủ yếu thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều
trong các lĩnh vực khác nhau.
1.1.2. Một số đặc điểm của cây lúa
1.1.2.1. Đặc điểm sinh học
Sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ
điều kiện tự nhiên, tình hình canh tác, phân bón đất đai, mùa vụ gieo trồng,
giống và thời gian sinh trưởng của từng giống lúa.Quá trình sinh trưởng của
cây lúa có thể chia ra làm hai thời kỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh
trưởng sinh thực.
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu
hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ
nhánh…
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ
+ Quá trình làm đòng: Ở thời kỳ này thân lúa chính thức mới được
hình thành, số lóng kéo dài và chiều dài các lóng quyết định chiều cao của
cây. Quá trình làm đòng là quá trình phân hoá và hình thành các cơ quan
sinh sản, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành năng suất lúa.
+ Quá trình trổ bông, nở hoa, thụ phấn: Sau khi hoàn thành quá trình
làm đòng thì cây lúa trổ ra ngoài do sự phát triển nhanh của lóng trên cùng.
Khi cây lúa thoát ra khỏi bẹ lá là quá trình trổ xong. Cùng với quá trình trổ
bao phấn trên một bông các hoa ở đầu bông và đầu gié nở trước, các hoa ở
gốc bông, các hoa ở gốc bông nở cuối cùng. Khi hoa nở phơi màu, váy cá
hút nước trương to lên, đồng thời với áp lực của vòi nhị làm cho vỏ trấu nở
ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ, đó là quá trình thụ phấn. Sau quá trình thụ
phấn là quá trình thụ tinh và hình thành hạt. Trong điều kiện bình thường
hạt phấn rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra, các chất
trong hạt bắt đầu dồn về ống phấn. Sau thụ tinh là quá trình phát triển phôi
và phôi nhũ.
+ Quá trình chín hạt: Chúng ta có thể chia quá trình chín hạt ra làm
ba thời kỳ: chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn.
• Chín sữa: Sau phơi màu 6-7 ngày các chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng,
trắng như sữa, hình dạng hạt hoàn thành có màu xanh, trọng lượng hạt tăng
nhanh ở thời kỳ này.
• Chín sáp: Ở thời kỳ này chất dịch trong hạt dần dần đặc lại, hạt cứng và
màu xanh dần chuyển sang màu vàng.
• Chín hoàn toàn: Thời kỳ này hạt chắc cứng, màu vàng nhạt và trọng
lượng hạt đạt tối đa.
Quá trình lúa chín kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống, thời vụ. Đây
là quá trình quyết định năng suất lúa.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh thái
Ngoài sự tác động của con người thì khí hậu thời tiết là yếu tố quan
trọng nhất của điều kiện sinh thái, nó có ảnh hưởng lớn nhất và thường
xuyên đến quá trình sinh trưỡng và phát triển của cây lúa.
nước của cây lúa qua các thời kỳ sinh trưởng là khác nhau.
• Thời kỳ nẩy mầm: Hạt giống được bảo quản dưới độ ẩm 13%, khi
ngâm hạt, hạt hút nước đạt 22% thì có thể hoạt động và nẩy mầm tốt khi độ
ẩm của hạt đạt 25-28%.
• Thời kỳ cây con: Trong điều kiện gieo thẳng cây lúa ở giai đoạn
cây con không cần nước nhiều, ta chủ động giữ đủ ẩm và cho nước vào
ruộng từ từ khi cây được 2-4 lá.
• Thời kỳ đẻ nhánh: Ở giai đoạn này chủ động tháo nước sát gốc lúa.
Để tạo điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh, sau khi cây đẻ nhánh hữu hiệu làm
đòng trổ bông ta cần cho nước vào đầy đủ tránh bị khô nước làm ảnh hưởng
đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Để lúa sinh trưởng thuận lợi, đạt
năng suất cao cần cung cấp nước đầy đủ.
1.1.3. Một số vấn đề về hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
tế:
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà sản xuất, nhà kinh doanh và cũng là mối quan tâm chung
của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất
lượng của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và chức năng
quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy trong điều kiện
hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra là
phải kinh doanh có hiệu quả, thì doanh nghiệp mới đứng vững trên thị
trường. Với một lượng đầu vào hay tài nguyên nhất định, để tạo ra một khối
lượng sản phẩm lớn nhất có thể được là mục tiêu chung của các nhà sản
xuất và các nhà quản lý. Tuy nhiên trong thực tế nghiên cứu ta thu được kết
quả rất đa dạng và phong phú, kết quả có thể trên phương diện kinh tế - tài
chính mà cũng có thể trên phương diện KT-XH. Từ đó mà hình thành nên
khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu như sau: Giá trị
tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận tính trên lượng chi phí bỏ ra.
khác. Được xác đinh bởi công thức sau:
VA = GO - IC
+ Giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu cho biết trong một năm hoặc một
vụ thì đơn vị sản xuất tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị là bao
nhiêu, chỉ tiêu này phản ánh qui mô về giá trị sản xuất mà ngành nông
nghiệp tạo ra cho xã hội. Có công thức xác định như sau:
GO = Q * P
Trong đó : Q
:
khối lượng sản phẩm
P: giá cả của sản phẩm
+ Chi phí sản xuất: Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao
động gia đình
- Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao
gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao),
như phân bón, thuốc các loại, thuê thu hoạch, các khâu dịch vụ như thuỷ
lợi, làm đất, vận chuyển, tuốt lúa.
• Chi phí vật chất trong sản xuất lúa là các yếu tố đầu vào: giống, phân
bón, thuốc các loại…
• Chi phí dịch vụ trong sản xuất lúa:
Công lao động thuê ngoài
Các chi phí dịch vụ khác
+ Năng suất lúa (N): Chỉ tiêu này nói lên sản lượng thu được trên
một đơn vị diện tích, được xác định bằng công thức sau:
N=Q/S
Trong đó: Q: sản lượng lúa
S: diện tích gieo lúa
* Các chỉ tiêu phản ánh quy mô lợi nhuận của đơn vị sản xuất có
được trong sản xuất.
VA/IC: Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản
ha. Từ
năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 159,0 triệu ha cao
nhất kể từ năm 1995 tới nay.
- Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất lúa bình quân trên thế giới
cũng
tăng khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc
biệt sau
cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra
đời
của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu
là
giống lúa IR5, IR8. Đến những năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên
thế giới
là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990).
Từ
năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa thế giới liên
tục được
cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, tuy nhiên chỉ bằng phân nửa năng
suất của
Ai Cập (9,7 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới.
Xuất phát điểm của Việt nam là một nước nông nghiệp, cây lúa là
cây trồng chính và lâu đời, cây lúa được phân bố khắp mọi miền của đất
nước từ Bắc vào Nam, là một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận
lợi cho sự phát triển của cây lúa. Hơn 70 % dân số Việt nam sống bằng
nghề trồng lúa, nhân dân ta rất cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong
nghề trồng lúa nước, được kế thừa những kinh nghiệm của cha ông và đúc
rút nhiều thành công trong công tác chăm sóc và gieo trồng.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa nước ta qua 2 năm
Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2009/2008
± %
trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các lại cây khác có hiệu quả kinh tế hơn.
Mặc dù giảm diện tích trồng lúa nhưng do tăng năng suất lúa không những
ổn định được sản lượng lúa mà còn tăng sản lượng năm 2004 lên 246.496,6
tấn, tăng so với năm 2003 là 11.920,9 tấn, tương ứng tăng 5,1%. Đây là một
kết quả đạt được của tỉnh TT Huế
Bảng 2: diện tích, năng suất và sản lượng lúa của tỉnh TT Huế:
Chỉ tiêu Năm 2003 Cả
năm
Năm 2004 Cả
năm
2004/2003
ĐX HT mùa ĐX HT mùa +/- %
1. diện tích
gieo trồng
(ha) 26,6
47
24,14
2
625 51,68
4
26,32
3
24,30
1
692 51,31
6
- 368 -
0,7
1
2. năng
lối đổi mới của Đảng, tình hình KT-XH của huyện có bước phát triển và
mở ra một số triển vọng mới.
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Quảng Điền
Chỉ
tiêu
2003 Cả
năm
2004 Cả
năm
2004/2003
ĐX HT ĐX HT +/- %
1.
diện
tích
gieo
trồng
(ha)
4,096 3,820 7,916 4,010 3,694 7,704 -212 -2,68
2.
Năng
suất
(tạ/ha
)
53,6 46 99,6 56 50,4 106,4 +6,8 +6,8
3
3. Sản
lượng
(tấn)
21,95
5
cao ít bị ngập úng sang trồng màu, lạc, mía, hoa các loại có hiệu quả kinh tế
hơn. Hai là do xây dựng các công trình thuỷ lợi, đắp đê, mở thêm đường xá
giao thông phục vụ cho tưới, tiêu, chống úng cho vụ ĐX, cho đi lại và vận
chuyển trong mùa màng thu hoạch. Ba là do xây dựng các công trình phát
triển công nghiệp, xây dựng khu quy hoạch nhà ở vùng trung tâm của
huyện Quảng Điền - Thị Trấn Sịa.
Đối với năng suất lúa, thì vụ HT cả hai năm đều giảm. Năm 2003,
vụ ĐX đạt 53,6 tạ/ha, vụ HT giảm xuống còn 46 tạ/ha. Năm 2004, vụ ĐX
đạt 56 tạ/ha, vụ HT giảm còn 50,4 tạ/ha. Điều này đúng như quy luật của tự
nhiên, sản xuất lúa vụ HT thường gặp nắng hạn, khó khăn trong việc tưới
nước, đặc biệt vào lúc lúa trổ gặp nhiệt độ quá cao lại thiếu nước thì sẽ có
nhiều hạt xép dẫn đến năng suất không cao. Hơn nữa, vụ HT là vụ kế tiếp
của vụ ĐX. Theo kinh nghiệm của bà con nông dân, trong vụ ĐX cây trồng
đã hút nhiều chất dinh dưỡng làm cho đất bạc màu đi, mà trong vụ HT đất
không được ngấm lâu, dinh dưỡng của đất chưa được bổ sung kịp thời, kết
quả là cây trồng sinh trưởng không tốt và năng suất thấp. Xét cả năm, thì
năng suất năm 2003 chỉ đạt 99,6 tạ/ha, năm 2004 đạt 106,4 tạ/ha. Như vậy
năm 2004 tăng so với năm 2003 là 6,8 tạ/ha tương ứng tăng 6,8%. Và đã
làm sản lượng tăng từ 39.526,6 tấn (2003) lên 41.073,8 tấn (2004). Sỡ dĩ có
được thành tích này là kết quả của quá trình không ngừng phấn đấu, chiến
lược táo bạo của huyện. Tức là, huyện đã tiếp tục phát triển theo hướng đẩy
mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thâm canh và chuyển dịch cơ cấu sản
xuất. Cây lúa tiếp tục thể hiện vai trò chủ lực. Với các biện pháp thâm canh
đồng bộ và nâng cao chất lượng giống, đã đạt được năng suất bình quân
hàng năm 49,2 tạ/ha/vụ (năm 2004 đạt 53,2 tạ). Đặc biệt là triễn khai tổ
chức sản xuất giống lúa cấp 1 với 92,5 ha ở các HTX nông nghiệp, đã góp
phần tăng năng suất lúa của huyện.
Đến đây, chúng ta hiểu rõ rằng, giảm diện tích trồng lúa không phải
là một nhược điểm của huyện mà là quyết định đúng đắn, thực hiện đường
lối chủ trương nâng cao năng suất để tăng sản lượng, ổn định được an ninh
sang trồng màu, lạc, mía có hiệu quả kinh tế hơn…và xây dựng các công
trình cầu cống chiếm nhiều diện tích.
Đối với năng suất lúa thì ổn định. Nhìn chung năng suất lúa tại địa
phương ổn định qua các năm. Năm 2007, chỉ tiêu này đạt 98,99 tạ/ha. Đến
năm 2009 chỉ tiêu này là 97.81 tạ/ha so với năm 2007 là 1,00 tạ/ha, tương
ứng 0.1%.Nhìn chung năng suất lúa la rất ổn định Có được thành tích này
là nhờ xã đã không ngừng phấn đấu vươn lên. Ngoài ra xã đã đẩy mạnh
chương trình kiên cố hoá kênh mươn, tăng tỷ lệ cơ giới hoá trong các khâu
sản xuất và thu hoạch; trình độ thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật của nông dân ngày càng tăng lên do vậy những năm qua sản lượng
nông nghiệp vẫn được ổn định trong điều kiện diện tích ngày càng thu hẹp.
Bên cạnh những thành tích đạt được, việc giảm diện tích đã làm cho
sản lượng giảm mặc dù năng suất qua các năm ổn định. Sản lượng năm
2009 đạt 4330 tấn giảm so với năm 2007 là 263.7 tấn tương ứng giảm
5,8%. Từ thực tế này cho chúng ta thấy rằng. Nếu xã chủ động giảm những
diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả để thay thế những cây trồng khác có
hiệu quả kinh tế hơn.
2.2. TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NÔNG HỘ ĐIỀU TRA
2.2.1. Tình hình nhân khẩu, lao động và quy mô đất đai của các hộ điều
tra năm 2010
Theo nguồn thông tin từ cán bộ phòng Chính sách - xã hội, UBND
Xã, chuẩn nghèo được áp dụng tại địa phương như sau: Thu nhập bình quân
đầu người dưới 100.000 đồng/người/tháng được xếp vào nhóm hộ nghèo
đói; từ 100.000 đến 200.000 đồng/người/tháng là hộ trung bình; trên
200.000 đồng/người/tháng là hộ khá giàu. Từ đó chúng tôi có bảng phân
loại dưới đây (điều tra chọn mẫu 30 hộ):
Bảng 5: Tình hình nhân khẩu, lao động và quy mô đất đai của các hộ
điều tra
Chỉ tiêu ĐVT
Nhóm hộ
đói.
2.2.2 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ:
Bên cạnh lao động, vốn, đất đai thì tư liệu sản xuất là yếu tố không
thể thiếu đối với bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào. Tư liệu sản xuất nói
lên trình độ sản xuất và quy mô sản xuất của một đơn vị, địa phương…
hiện nay, tư liệu sản xuất của các nông hộ đã được HTX cung cấp, hỗ trợ
như: trâu, bò cày kéo, máy bơm nước, máy tuốt lúa Điều quan trọng là
nông dân phải có đủ vốn để đầu tư phân, thuốc các loại, giống, đặc biệt là
phí các khâu dịch vụ như phí thuỷ lợi, làm đất, phí tuốt lúa, phí thu hoạch.
Tất cả điều này làm cho việc trang bị tư liệu sản xuất của các hộ nghèo rất
thấp.
Vì vậy, cần phải trang bị thêm phương tiện vận chuyển phục vụ mùa
màng thu hoạch. Đẩy nhanh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn, đặc
biệt là khâu vận chuyển. Một khi được ứng dụng máy móc, kỹ thuật vào
sản xuất một cách rộng rãi thì sẽ tạo điều kiện cho bà con làm kịp thời vụ,
mở rộng quy mô sản xuất, tránh được thiệt hại do thiên tai gây ra.
2.3. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC NÔNG
HỘ Ở XÃ QUẢNG PHƯỚC NĂM 2010
2.3.1. Tình hình chi phí sản xuất lúa của các nông hộ
Trong sản xuất lúa tại địa phương, một công thuê là 80.000 đồng,
công khoán thu hoạch là 100.000 đồng/sào. Trong sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất lúa nói riêng thì nông dân chủ yếu lấy công làm lãi do đó
các chi phí về công lao động chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí
sản xuất. Để thấy được tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào của các nông
hộ chúng ta xem xét bảng sau:
Bảng 6: Cơ cấu chi phí sản xuất lúa bình quân một nông hộ
ĐVT:1000đ/sào
Chỉ tiêu Nhóm hộ
nghèo
Nhóm hộ
312 57.7 288 55.2 297 56.4 298.7 56.5
Phân bón 116.3 37.3 130.4 45.3 109.0 36.7 113.7 38.1
Giống 21.4 6.9 23.3 8.1 19.7 6.6 20.6 6.7
Thuốc các loại 53.3 17.1 29.6 10.3 47.9 16.1 46.2 15.5
Thuê thu
hoạch
21.3 6.8 16.7 5.8 20.5 6.9 20.1 6.7
Các khâu dịch
vụ
92.7 29.7 81.0 28.1 92.9 31.3 91.1 30.5
2.lao động gia
đình
228.7 42.3 233.3 44.8 229.5 43.6 229.9 43.5
Qua phân tích tình hình chi phí sản xuất trên của các nhóm hộ thì
nhóm hộ nào cũng có mức chi phí về lao động gia đình chiếm tỷ trọng rất
lớn. Mà mục đích của các hộ sản xuất là làm thế nào để hiệu quả kinh tế
cao nhất. Do vậy vấn đề phải đặt ra là ngoài việc tiết kiệm, sử dụng hợp lý,
đúng kỹ thuật các yếu tố đầu vào như phân thuốc, điều quan trọng nhất là
phải làm thế nào để giảm được công lao động. Để làm được điều này thì
quá trình sản xuất cần phải được cơ giới hoá, tập trung ruộng đất để nâng
cao hiệu quả sử dụng đất, tăng năng suất, xoá bỏ lối canh tác truyền thống.
Như vậy sẽ càng thuận tiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu.
2.3.2. Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất lúa của
các nông hộ:
Kết quả là chỉ tiêu nói lên giá trị được tạo ra của quá trình hoạt động
sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Để đánh giá lợi ích mang lại
cho quá trình hoạt động sản xuất đó là bao nhiêu thì căn cứ vào chỉ tiêu
hiệu quả. Chỉ tiêu này là cơ sở cho việc lựa chọn phương án sản xuất tối ưu.
Nó phản ánh được lượng kết quả hữu ích cuối cùng đạt được và phần hao
đạt 222,00.
Bảng 13: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh tế của các
hộ điều tra năm 2010
(Bình quân 1 vụ) Kg/sào.
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm hộ
Khá Giàu
Nhóm hộ
Trung
Bình
Nhóm hộ
Nghèo Đói
BQ
chung/hộ
Năng suất Kg/sào 264,76 253,75 222,00 249,67
GO 1000đ 267,62 552,63 451,17 553,51