class="bi x0 y0 w1 h1"
MỤC LỤC
Canh các tiểu muc cho thống nhất, nhìn cho phù hợp
I. Đặt vấn đề.
1 Lược khảo tài liệu
I.1 Phân loại
I.2 Đặc điểm
I.3 Phân bố
I.4 Tập tính
I.5 Sinh sản
I.6 Hiện trạng
I.6.1 Sản lượng khai thác tự nhiên
I.6.2 Hiện trạng nghề nuôi tôm he chân trắng
I.6.3 Các nước nuôi chủ yếu
I.7 Đôi nết về ngoại thương tôm chân trắng
II. Sơ lược về kỹ thuật nuôi
1 Chọn địa điểm
1.1 Vị trí và chất đất
1.2 Nguồn nước cấp
2 Thiết kế và xây dựng ao
II.1 Thiết kế ao lắng
II.1.1 ý nghĩa
II.2 Thiết kế ao nuôi
II.2.1 Hình dạng ao nuôi
II.2.2 Hệ thống cánh quạt
3 Chuẩn bị ao
3.1 Ao mới
3.2 Ao cũ
3.3 Ao bị nhiễm bệnh
3.4 Hệ thống rào lưới
4 Bón vôi
8 Tài liệu tham khảo.
Đặt tên tiểu mục lại cho phù hợp với tiểu mục ở mục lục
Canh đều toàn văn bảng và canh lề đúng quy định
Đặt Vấn Đề:
Hiện nay trên thế giới, nghề nuôi tôm là một trong những nghề nuôi phát triển
nhất. Trong đó các quốc gia đứng đầu về sản lượng tôm nuôi gồm: Trung Quốc,
Thái Lan, Indonesia, Việt Nam… nghề nuôi tôm đem lại lợi nhuận cao, góp phần
nâng cao đời sống cho người dân, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế xà hội…từ
đó hạn chế sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển. Ở Việt Nam tiềm năng
nuôi tôm rất lớn. Nước ta có 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa
sông gạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển là những nơi rất thuận lợi cho việc nuôi
trồng các loại thủy sản nước lợ mặn. Tôm thẻ chân trắng lần đầu tiên gia nhập vào
Việt Nam năm 2000 và được phát triển tại nhiều địa phương như: Ninh Thuận,
Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa và lan rộng khắp cả nước. Tính đến hết tháng 6-
2008, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của Việt Nam đã đạt hơn 12.400 héc ta đổi
lại là ha và đã thu hoạch hơn 12.300 tấn. Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng
bằng châu thổ lớn, có hệ thống sông ngòi chằng chịt, bờ biển dài với những điều
kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển thủy sản và đã trở thành nơi sản xuất thủy
sản chủ lực, chiếm hơn 80% sản lượng thủy sản của cả nước. Nuôi trồng thủy sản
đang ngày càng phát triển, thành phần nuôi cũng đa dạng hơn. Hiện nay tôm thẻ
chân trắng cũng đuợc nuôi rất phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL như: Cà Mau, Bạc Liêu,
Sóc Trăng. Thẻ chân trắng (dùng thống nhất tôm thẻ chân trăng hay thẻ chân trắng)
là đối tượng có giá trị kinh tế cao thị trường tiêu thụ rộng, thời gian sinh trưởng
ngắn (3 – 3,5 tháng), năng suất trung bình đạt (trên 4 tấn/ha), thâm canh có thể đạt
đến 20 tấn/ha. Nhờ có giá trị dinh dưỡng cao mà hiện nay tôm chân trắng đang
được người tiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng. Mỹ là thị trường tiêu thụ tôm
chân trắng lớn nhất sau đó là châu âu và nhật bản. (TS. Trần Viết Mỹ, 2009)
1.Lược khảo tài liệu:
Tôm thẻ chân trắng
Tên Tiếng Anh:White Shrimp
phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến Nam Mê-hi-cô, vùng biển Equađo;
Hiện tôm chân trắng đã được di giống ở nhiều nước Đông á và Đông Nam á như
Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Malaixia và Việt Nam.
1.4 Tập tính
Ở vùng biển tự nhiên, tôm chân trắng thích nghi sống nơi đáy là bùn, độ sâu
khoảng 72 m, có thể sống ở độ mặn trong phạm vi 5 - 50‰, thích hợp ở độ mặn
nước biển 28 - 34‰, pH = 7,7 - 8,3, nhiệt độ thích hợp 25 - 32
o
C, tuy nhiên chúng
có thể sống được ở nhiệt độ 12 - 28
o
C.
Đặc điểm sinh học tôm thẻ thích nghi với môi trường.
Tt Các chỉ tiêu Khoảng thích hợp Khoảng chịu đựng
1 Độ mặn (% o) 15 – 30 0,5 – 45
2 Nhiệt độ 25- 32 16-43
3 pH 7,5 – 8,5 6-10
4 Độ kiềm (mg/lít) 80 -150 60 – 200
5 Oxy hòa tan (mg/lít) 4 – 7 3 -7
6 NH
3
(mg/lít) < 0,1 < 0,2
7 H
2
S (mg/lít) < 0,01 < 0,03
nguồn:
Tôm chân trắng là loài ăn tạp giống như những loài tôm khác. Tôm thẻ chân
trắng là loài ăn tạp, có thể ăn loại thức ăn từ gốc động thực vật, Tôm thẻ chân
trắng là loài ăn tạp, có thể ăn loại thức ăn từ gốc động thực vật.
triển ở khu vực. Ngoài ra việc vớt tôm giống tự nhiên phục vụ nuôi tôm nhân tạo
cũng có vai trò quan trọng. Do đó các nước đã chuyển sang nuôi chủ yếu.
1.6.2 Hiện trạng nghề nuôi tôm he chân trắng
Tôm he chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biến nhất (chiếm hơn 70% các loài
tôm he Nam Mỹ) ở Tây bán cầu (Wedner và Rosenberry, 1992). Sản lượng tôm
chân trắng chỉ đứng sau tổng sản lượng tôm sú nuôi trên thế giới. Các quốc gia
châu Mỹ như Equađo, Mê-hi-cô, Pa-na-ma… là những nước có nghề nuôi tôm
chân trắng phát triển từ đầu những năm 90, trong đó Equađo là
quốc gia đứng đầu về sản lượng, riêng năm 1998 đạt 191.000 tấn. Hiện nay, giá trị
xuất khẩu tôm chân trắng ước tính trên 1 kg bằng 81% so với tôm sú (khoảng 8
USD/kg so với 10 USD/kg).
1.6.3 Các nước nuôi chủ yếu
ở châu Mỹ có 12 quốc gia nuôi tôm chân trắng. Vào thời kỳ hưng thịnh (1998) sản
lượng của chúng chiếm hơn 90% sản lượng tôm nuôi ở Tây Bán cầu. Sau đây là
các nước nuôi cho sản lượng cao.
(i). Ecuađo:
Từ lâu Equađo đã là nước nuôi tôm nổi tiếng trên thế giới và luôn luôn ở tốp dẫn
đầu cho tới năm 1999. Nuôi tôm là ngành sản xuất lớn và là nguồn xuất khẩu lớn
thứ ba của quốc gia này (đứng sau dầu khí và chuối). Công nghiệp nuôi tôm phát
triển ngay từ cuối thập kỷ trước. Đến năm 1991 sản lượng tôm nuôi (95% là tôm
chân trắng) đã là 103 nghìn tấn đứng thứ tư thế giới. Dịch bệnh tôm nuôi năm 1993
(Hội chứng Taura TSV) đã tàn phá các ao nuôi tôm tập trung dọc hai bờ con sông
Taura làm sản lượng giảm 1/3. Chỉ sau 2 - 3 năm Equađo đã khôi phục lại được
nghề nuôi tôm chân trắng và sản lượng tăng rất nhanh lên 120 nghìn tấn năm 1998
và 130 nghìn tấn năm 1999 chiếm 70% sản lượng tôm chân trắng của châu Mỹ.
Sang năm 1999 đại dịch bệnh đốm trắng phát triển và cao điểm là năm 2000.
Không chỉ Equađo bị tổn thất nặng nề mà các nước khác như Pêru, Mê-hi-cô, Pa-
na-ma, El.Sanvado… đều bị tổn thất lớn. Sản lượng tôm chân trắng bị thiệt hại do
vi rút đốm trắng khoảng 100 nghìn tấn. Sản lượng tôm chân trắng của Equađo năm
2000 chỉ còn khoảng 35 nghìn tấn. Tổn thất của Equađo ước tính khoảng 500 - 600
Nếu không sớm tìm được các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và phòng ngừa dịch
bệnh thì có thể phong trào nuôi tôm chân trắng ở khu vực vừa mới phát động rất
sôi nổi sẽ bị ảnh hưởng lớn.
5. Tôm chân trắng đang được di giống từ Đông sang Tây Thái Bình Dương
Sau khi được nhiều nước châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao,
tôm chân trắng được di giống sang nuôi ở Hawai và Hoholulu của Mỹ. Từ đây tôm
chân trắng lan sang Đông á và Đông Nam á. Trung Quốc là nước châu á quan tâm
tới tôm chân trắng sớm nhất. Từ năm 1998 họ đã công bố nuôi tôm chân trắng
thành công và sẵn sàng chuyển giao công nghệ (cung cấp con giống và kỹ thuật
nuôi) cho các nước châu á nào muốn nhập nội. Năm 2000 vừa qua có thông tin nói
rằng Trung Quốc đã xuất khẩu sản phẩm tôm chân trắng, nhưng không rõ nhiều
hay ít. Tuy nhiên, ở thị trường nội địa của Trung Quốc thì người tiêu dùng chưa
mặn mà với đối tượng này. Nhiều nước châu á khác như Philippin, Inđônêxia,
Malaixia, Thái Lan và Việt Nam…. cũng đã nhập nội tôm chân trắng để nuôi với
hy vọng đa dạng hoá các sản phẩm tôm xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ
trông cậy phần lớn vào tôm sú như hiện nay.
1.7 Đôi nét về ngoại thương tôm chân trắng
Tôm chân trắng là đối tượng quý hiếm có giá trị rất cao, có thị trường lớn và đang
mở rộng. Trước khi có đại dịch bệnh đốm trắng năm 2000, sản lượng tôm chân
trắng chỉ đứng sau tôm sú và là đối tượng nuôi và xuất khẩu chủ yếu của hàng chục
nước ở châu Mỹ. Trước đây về giá trị tôm chân trắng ngang hàng với tôm sú. Tuy
nhiên, gần đây người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng tôm sú của Châu á nên giá trị của
tôm chân trắng có phần giảm sút (theo FAO năm 1999 giá trị trung bình tôm chân
trắng nguyên liệu là 5,5 USD/kg trong khi tôm sú là 6,5 USD/kg). Equađo là nước
xuất khẩu tôm chân trắng lớn nhất với khối lượng kỷ lục là 114 nghìn tấn năm
1998 với giá trị 852 triệu USD, giá trung bình xuất khẩu là 8 USD/kg. Tuy nhiên,
chỉ sau một năm xuất khẩu giảm 70%. Khối lượng tôm chân trắng xuất khẩu sang
Mỹ năm 1998 là 65 nghìn tấn sang năm 2000 chỉ còn 17 nghìn tấn.
Hầu hết các nước nuôi tôm chân trắng xuất khẩu đều bị thiệt hại lớn trong năm
2000. Trước đây hầu như chỉ có thị trường Mỹ là nơi nhập khẩu chủ yếu tôm chân
Chọn địa điểm là yếu tố quan trọng quyết định thành công vì ảnh hưởng đến chi
phí đầu tư và tính rủi ro trong quá trình nuôi.
Yêu cầu về chọn địa điểm phù hợp: (Tại sao có những chấm nhỏ ở trước đầu
dòng cần xem lại cách trình bày)
· Giá thành xây dựng giảm
• Giảm chi phí sản xuất
· Nguồn nước có chất lượng và đầy đủ
· Có giao thông và nguồn điện để giảm chi phí.
· Có thông tin liên lạc và an ninh tốt.
1.1 Vị trí và chất đất:
· Chọn vùng đất cát, đất pha cát, nền đất cứng, Ph đất > 6.0.
· Không chọn vùng bị ngập mặn, sình lầy.vùng nước bị ổ nhiễm, khu vực hay
bị lũ lụt.
1.2 Nguồn nước cấp:
· Chọn địa điểm gần nguồn nước có chất lượng tốt, nguồn nước cấp phải có
đầy đủ quanh năm để thuận lợi trong việc cấp và thay nước. Tốt nhất có nguồn
nước ngọt
· Không chọn vùng nước bị ổ nhiễm bởi chất thải nông nghiệp và công
nghiệp, khu vực hay bị lũ lụt.
2. Thiết kế và xây dựng ao
Mục tiêu thiết kế ao tốt giúp :
Quản lý chất thải tốt, chất thải thường được thu gom tại nơi giữa ao.
· Thay nước dễ dàng
· Dễ thu hoạch
2.1 Thiết kế ao lắng
2.1.1 Ý nghĩa
· Ao lắng để cung cấp nước cho ao trong quá trình nuôi, nhất là những nơi
thường chất lượng nước không ổn định hay nguồn nước cấp không liên tục.
· Ao lắng có vai trò quan trọng giúp phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào ao
nuôi.
Để Thực hiện các bước như sau:
Bước 1: kiểm tra kỹ các bờ ao, bờ ao không được rò rỉ khi lấy nước vào.
Bước 2: san bằng đáy ao, đáy dốc về cống thóat nước hay giữa ao để dễ gom chất
thải.
Bước 3: Rữa đáy ao nhiều lần trước khi bón vôi
Bước 4: kiểm tra Ph đáy và dùng vôi bón.
Bước 5: lấy nước vào từ 1.0 – 1.2 m, ngâm 3 – 4 ngày.
Bước 6: bơm hay xả bỏ nước trong ao, phơi đáy 7 -10 ngày trước khi lấy nước vào
chuẩ bị để thả tôm.
3.2 Ao cũ
có các bước như sau
Bước 1: Tháo cạn nước
Bước 2: Lấy bớt lớp bùn đáy ao.
Bước 3: Sửa và rữa nền đáy ao bằng phương tiện cơ học.
Bước 4: Bón vôi và phơi nền đáy đến khô khoảng 5 – 7 ngày trước khi lấy nước
vào. Nếu có thời gian nên phơi đáy ao 1- 2 tháng để tiêu diệt các mầm bệnh và
khoáng hóa đáy ao.
Ao bị phèn không nên phơi khô để hạn chế hiện tượng xì phèn.
pH đất Voi CaCO
3
(tấn/ha)
Ca(OH)
2
(tấn/ha
Voi CaO
(tấn/ha
> 7 0 0 0
6 – 7 1 – 2 0.5 – 1 0.3 – 0.5
5 – 6 2 – 3 1 – 1.5 0.5 – 1
5. Chuẩn bị nước
Sau bón vôi xong, lấy nước vào qua lưới mịn hay vải kate. Cấp một lần đầy vào ao
nuôi trước khi xử lý và gây màu nước.
Bảng 1.
Thời gian Sản phẩm dùng Mục dích
Ngày 1 Lấy nước đúng như yêu cầu, mở
máy đập nước liên tục 3 ngày để
trứng các vật chủ trung gian nở
thành ấu trùng
Ngày thứ 4 MAX ZU Diệt cua còng, ghẹ, tôm bạc, tôm
đất, tép con,… mang mầm bệnh.
Sau 20 ngày dùng MAX ZU mới
thả tôm.
Ngày thứ 8 SAPONIN Ngâm saponin 12 giờ trước khi sử
dụng, 10 kg/ 1000 m3 nước, tạt đều
khắp ao, mở máy quạt.
Vớt cá chết ra.
Ngày thứ Chọn 1 trong Sát trùng nước, để tiêu diệt mầm
14 3: WUNMID,
DOHA-Iodin 6000,
BIOXIDO 150
bệnh. Nên mở máy quạt nước. Sau
24 giờ có thể tiền hành gây màu
nước và cấy vi sinh.
6. Gây màu nước:
+ Kiểm tra điều chỉnh tốt các thông số sau trước khi gây màu nước:
· Ph nước ao : 7.8 – 8.0
· Độ kiềm: > 60 mg/lít
o Những biến đổi theo mùa và khí hậu thời tiết
o Kinh nghiệm quản lý
8.Thức ăn và quản lý thức ăn.
Để giảm chi phí nên chọn thức ăn có hệ số thấp và độ đạm thấp hớn 35%.
Cách xác định thức ăn hằng ngày :
Tổng trọng lượng = trọng lượng trung bình x số tôm thực tế trên cơ sở lượng giống
thả và ước lượng tỷ lệ sống theo thời gian.
- Tổng trọng lượng trung bình và tổng trọng lượng tôm xác định được lượng thức
ăn hằng ngày. Trong tình trạng bình thường tôm cỡ 1 – 5 g cho ăn 7- 10 % trọng
lượng thân.; tôm 5 – 10 g cho ăn 4 – 7% trọng lượng thân; tôm 10 – 20 g cho ăn 3
– 4% trọng lượng thân.
Tôm thẻ có tập tính kiếm ăn vào ban đêm là chủ yếu. Trong nuôi nhân tạo tôm ăn
thường xuyên cả ngày lẫn đêm. Khi tôm giai đoạn 2 tháng trở lên, môi trường ao bị
ô nhiễm, lượng oxy hòa tan thấp, do đó giai đọan này chúng ta nên cho ăn vào ban
ngày , ban đêm chỉ cho ăn 1 lần hoặc ngừng hẵn.
Quản lý thức ăn:
Có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi. Quản lý tốt làm giảm chi phí, chất
lượng nước, đáy ao sạch và hạn chế dịch bệnh. Chúng ta cần làm những việc như
sau:
• Giai đoạn tôm 10 ngày nên thả tôm vào sàng để làm quen
· Bỏ thức ăn trong sàng nên căn cứ vào trọng lượng tôm và kiểm tra sàng chặt
chẽ.
Lượng thức ăn trong ngày x % thức ăn trong sàng
Thức ăn trong sàng =
Số lượng sàng
· Việc chuyển đổi mã số thức ăn nên căn cứ vào trọng lượng để làm tiêu
chuẩn theo bảng, không dựa vào tuổi tôm ( ngày tuổi). Trong thời gian chuẫn bị
chuyển đổi nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cho ăn ít nhất 3 ngày.
· Tôm 30 – 75 ngày tốc độ phát triển khá nhanh vì vậy ta có thể tăng số lần
thức ăn trong ngày (5 lần/ngày) và tăng lượng thức ăn để rút ngắn thời gian nuôi.
+ Quản lý thức ăn tốt, tránh dư thừa
+ Quản lý tảo bằng sản phẩm BKC 8000, không được để cho tảo tàn
10.2 tảo và vi sinh vật
+ Tảo phát triển quá mức : dùng BKC 8000 để hạn chế.
+ Tảo phát triển kém : thay 20 – 30% nước , cung cấp dinh dưỡng cho tảo phát
triển. DùngPREMIX 100 hoặc MIRAMIX No: 8 hoặc DOZYMER liên tục 1 – 3
ngày .
+ Trong trường hợp ao quá khó gây màu : Dùng trước X – WATER liều
250g/1600 m
3
nước , sau đó dùng kết hợp PREMIX 100 liều 1 kg/ 1000 m
3
nước
và DOZYMER liều 1 lít/ 1600 m
3
nước , dùng liên tục 1 – 3 ngày
+ Tảo tàn : dùng BACBIOZEO liều 5 kg/ 1000 m
3
nước để lắng kết
Quản lý tảo là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng nước tốt hay xấu. Vì vậy
phải thường xuyên theo dỏi sự phát triển của tảo để có biện pháp xử lý .
10.3 Quản lý sự cân bằng và ổn định các yếu tố thủy lý hóa.
Nếu ta quản lý ổn định hệ tảo và vi sinh và đáy ao thì các yếu tố pH, NH
3
, H
2
S, độ
kiềm cũng sẽ ổn định theo. Khi thay đổi thời tiết và mất cần bằng sinh học trong ao
sẽ làm cho các yếu tố này thay đổi.
xử lý diệt khuẩn ao bằng BIOXIDO 150 liều 1 lít / 2000 m
3
nước
2 BỆNH TAURA
Bệnh này xuất hiện lần đầu ở vùng Ecuado vào 1992. Việt Nam chủ yếu nhập
giống thẻ từ Trung Quốc, Đài Loan năm 1999. Đến năm 2001 đã xuất hiện tại hải
phòng, nam định, đặc biệt năm 2008 , 2009 dịch bệnh chết hàng lọat tại các tỉnh
Quang Ngãi, Quảng Nam, Quảng Bình.
Nguyên nhân: Do một loại virut hình sợi RNA, bệnh thường xuất hiện ở giai
đoạn tôm từ 14 – 40 ngày tuổi.
· Do virus Taura gây ra, Virus tồn tại trong nước khoảng 2 tuần.
· Vi khuẩn cũng là tác nhân gây ra Taura
· Nguồn tôm bố mẹ nhập từ nước ngoài
· Giáp xác
· Từ nguồn nước, chim, cò, rắn,…
· Dụng cụ dùng trong trại
Triệu chứng: Dấu hiệu thấy rỏ nhất khi tôm ở giai đoạn cấp tính và chuyển tiếp là
yếu, lờ đờ , đuôi phòng chuyển màu đỏ và hoại tử nên ngư dân gọi là bệnh đỏ đuôi.
Tỷ lệ chết liên quan dến quá trình lột vỏ.
Phòng bệnh : là chủ yếu, hiện nay trên thế giới chưa có thuốc chữa.
· Xử lý nước ao lắng, ao nuôi để diệt khuẩn, virus bằng thuốc sát trùng
như: BIOXIDO 150, BKC 8000, DOHA Iodin 6000, MKC 1000,…
· Làm sạch môi trường, sạch đáy ao, khử khí độc bằng chế phẩm sinh học
như: VI SINH ONE, AQUA BIO BZT, OCAMEN, VS –STAR.
· Bổ sung dinh dưỡng để tăng sức đề kháng, giữ cho tôm luôn khỏe mạnh:
VITASOL C+ E, C MIX 25%, CALCIPHORUS, PROCOM, SAN ONE
· Bổ sung chất tăng hệ miễn dịch: MUNOMAN
· Bổ sung men tiêu hóa BIOTICBEST hoặc BIO AVhoặc SAN ZYM cho ăn
2- 3 g/kg thức ăn, 2 lần/ngày
3 BỆNH MÒN ĐUÔI, CỤT RÂU, ĐỐM ĐEN:
nuôi dày
Triệu chứng:vỏ tôm mềm, cơ thể có màu đỏ tia mang có màu đỏ hoặc trắng.
Phòng & trị bệnh :Bổ sung khoáng chất và Vitamin C
- Dùng trộn: CALCIPHORUS kết hợp trộn thêm C MIX 25% hoặc VITASOL C
+ E
- Dùng tạt : PREMIX 100 hay HI CAPHO + C .
Nguồn: P.Kỹ thuật Cty TNHH SANDO biên soạn.
II. Hình thức phương pháp nghiên cứu
1 Thời gian,địa điểm:
• Thời gian :tháng 11/2013.
• Địa điểm :công ty Trúc Anh và một số hộ nuôi tại xã Vĩnh Trạch.
2 Phương pháp nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: mô hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng.
• Phương tiện điều tra: trao đổi trực tiếp người nuôi.
• Thời gian trao đổi: khoảng 30-45 phút.
III. Kết quả trao đổi
1. Công trình nuôi
a. Phơi ao: là quá trình tạo điều kiện cho quá trình khoáng hóa và phân hủy
các hợp chat hữu cơ tích lũy ở đáy ao từ vụ nuôi trước.Thời gian phơi ao tùy
theo tính chất đất, thời gian chiếu sang, mức độ tích lũy chất dinh dưỡng hữu
cơ trong ao.Thông thường phơi ao từ 7-15 ngày,nhưng qua thực tế trao đổi
thì người dân không tiến hành phơi ao.
b. nước và xử lí nước lọc: theo hộ nuôi cho biết việc cấp nước vào ao lắng rồi
chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc xử dụng cống để xả nước vào ao
nuôi có sử dụng túi lọc bằng vải để hạn chế tôm tạp cá tạp xâm nhạp vào ao
nuôi.
- Lấy nước vào ao lắng ao chứa vì : nước đã được lắng lọc phù xa , rong tạp, cá
tạp.Nguồn nước trong ao lắng ,ao chứa đã dược lấy trước đó 10-15 ngày,các
mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giãm do không tìm được kí chủ trung
gian.
biến nhất vẩn là bán cho thương lái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Thủy sản, 2006. Phát triển nuôi tôm chân trắng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008). Chỉ thị số 228/CT – BNN&PTNT
về việc phát triển nuôi tôm chân trắng.
Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường và Lục Minh Diệp (2006). Đặc điểm sinh
học của tôm thẻ chân trắng. NBX
Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2003. Kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng, NXB Nông
nghiệp, Hà Nội, 108 trang.
Trần Viết Mỹ, 2009. Cẩm nang nuôi tôm thẻ chân trắng. Nhà xuất bản Nông
nghiệp.
Cần xem lại cách trình bày, canh đều cho cẩn thận, bài viết rất sơ sài, cần bổ
sung thêm.
Làm lại cho thật cẩn thận. Qua đi thực tế rút ra được kinh nghiệm gì giữa lý
thuyết và thực tế sản xuất của nông dân có phù hợp chưa hay cần khuyến cáo gì
thêm cho nông dân.