SỐ LIỆU THỰC TẾ- ĐỀ CƯƠNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Chương I. Đại cương về Tài chính tiền tệ
*Chế độ lưu thông tiền tệ ở Việt Nam
Lịch sử tiền tệ Việt Nam đã trải qua nhiều chế độ lưu thông khác nhau
Từ thời kỳ các triều đại Phong kiến: Hầu hết các triều Vua, Chúa nước ta đều phát hành
tiền bằng hai nguyên liệu chính là đồng và kẽm. Riêng Vua Hồ Quí Ly cho phát hành tiền
giấy và chỉ tồn tại 4 năm từ 1400 đến 1404, đến 1405 lại trở về sử dụng bằng chất liệu tiền
đồng và tiền kẽm. Sau đó, chúng ta cũng đã sử dụng nhiều loại tiền khác nhau như: tiền
Đông Dương mang bản vị bạc, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,… Trải qua nhiều biến
cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên phạm vi cả nước. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, với đơn vị tiền tệ là “đồng”, ký hiệu quốc gia (viết tắt) là “đ”. Hệ thống tiền tệ của
Việt Nam đang lưu hành hiện nay bao gồm 2 loại, tiền giấy và tiền kim loại.Tiền giấy có 12
mệnh giá: 500.000đ, 200.000đ, 100.000đ, 50.000đ, 20.000đ, 10.000đ, 5.000đ, 2.000đ,
1.000đ, 500đ, 200đ và 100đ.Tiền kim loại có 5 mệnh giá: 5.000đ, 2.000đ, 1.000đ, 500đ và
200đ. Tiền giấy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn áp dụng kỹ thuật hiện đại và công
nghệ mới trong việc sản xuất tiền giấy, nhằm nâng cao chất lượng in ấn cũng như tính bảo
an của đồng tiền Việt Nam. Do đó có những thời điểm, trong lưu thông có 2 đồng tiền cùng
mệnh giá (giá trị ngang nhau), nhưng khác nhau về mẫu thiết kế (hình thức) cùng song song
lưu hành.
Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu
thông 2 đồng tiền mệnh giá 500.000đ và 50.000đ được in trên chất liệu giấy polymer.Ngày
01 tháng 9 năm 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung loại tiền giấy
polymer mệnh giá 100.000đ. Ngày 17 tháng 5 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
tiếp tục phát hành vào lưu thông đồng tiền polymer mệnh giá 20.000đ.Và ngày 30 tháng 8
năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa vào lưu thông 2 đồng tiền mệnh giá
200.000đ và 10.000đ in trên giấy polymer. Như vậy, hiện nay trong lưu thông, mệnh giá
100.000đ, 50.000đ, 20.000đ và 10.000đ có 2 mẫu thiết kế, in trên chất liệu giấy nền
polymer và cotton cùng song song lưu hành.
Việc phát hành tiền polymer đã có ảnh hưởng, tác động lớn đến nền kinh tế cũng như đời
sống của nhân dân Xuất phát từ một số đặc tính của tiền polymer trong bảo quản, sử dụng
Nam trên nền giấy polymer có những yêu cầu riêng cần được đáp ứng khi bảo quản và sử
dụng nhưng so với những lợi ích mà chúng mang lại cho từng người dân sử dụng đồng tiền
cũng như cho toàn bộ nền kinh tế là rất rõ nét . Với những ưu thế đó, đồng tiền polymer
đang dần có được lòng tin của người dân, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất, lưu thông hàng hoá và từng bước tham gia vào quá trình hiện đại hoá ngành ngân
hàng Tiền kim loại Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát
hành tiền kim loại vào lưu thông với 3 mệnh giá: 5.000đ, 1.000đ và 200đ. Ngày 01 tháng 4
năm 2004 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành thêm 2 mệnh giá: 2.000đ và 500đ.
Việc phát hành trở lại tiền kim loại không chỉ đánh dấu sự ổn định về mặt giá trị của đồng
tiền Việt Nam trong thời gian qua mà còn là bước đi nhằm hoàn thiện hệ thống tiền tệ Việt
Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế, tiết giảm chi phí phát hành đối với đồng tiền có mệnh
giá nhỏ. Không như tiền polymer công tác phát hành chỉ gặp khó khăn trong một thời gian
ngắn ở giai đoạn đầu. Những nguyên nhân được đưa ra để từ chối sử dụng tiền kim loại như
: tiền kim loại nặng, dễ rơi mất, khó bảo quản hơn tiền cotton cùng mệnh giá; nhiều trường
hợp trẻ nhỏ gặp sự cố đáng tiếc do nuốt phải tiền kim loại… Tuy đây không phải là lần đầu
tiên tiền kim loại xuất hiện trong lưu thông ở nước ta nhưng sự vắng mặt quá lâu của nó đã
làm người dân mất đi thói quen sử dụng trong khi việc hình thành một thói quen mới luôn
cần có thời gian. Mặc dù có những hạn chế về mặt tâm lý người sử dụng gây khó khăn
không nhỏ cho công tác phát hành tiền kim loại hiện nay, song tiền kim loại cũng có rất
nhiều ưu thế như: sạch hơn, bền hơn và do vậy tiết kiệm được nhiều chi phí phát hành hơn
so với tiền cotton. Ngoài ra tiền kim loại cũng phù hợp với việc sử dụng các máy bán hàng
tự động là loại hình dịch vụ thuận tiện đã và đang trở thành một kênh bán hàng hiệu quả
trong hệ thống bán lẻ trên thế giới. Như vậy so với một số hạn chế trong sử dụng tiền kim
loại như đã nêu thì những lợi ích mà tiền kim loại mang đến lớn hơn rất nhiều. Đây cũng là
lý do ngày nay tiền kim loại vẫn được sử dụng rộng khắp trên thế giới ngay cả ở những
nước phát triển hiện đại. Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng chủ trương phát hành tiền
kim loại vào lưu thông là một chủ trương đúng đắn, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực về
mặt vĩ mô trong đó quan trọng nhất là tạo ra điều kiện tiền đề để tiến hành tự động hoá các
dịch vụ công cộng_ một nội dung không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
b) Tạo điều kiện hình thành và phát triển thị trường tài chính
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tài chính là
khâu trung gian gắn các khâu tài chính với nhau, có tác dụng thúc đẩy quá trình giao lưu các
nguồn lực tài chính, tăng cường sự vận động của giá trị trong nền kinh tế. Nhà nước cần hết
sức tạo điều kiện để thị trường tài chính hình thành và phát triển. Cùng với sự phát triển
kinh tế thị trường, từng bước hình thành thị trường chứng khoán, nhân tố quan trọng thu hút
vốn của xã hội và năng động hoá hoạt động đầu tư của nền kinh tế.
c) Xây dựng hệ thống thông tin, phân tích, kiểm tra, kiểm soát tài chính
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các hoạt động tài chính trong xã hội ngày
càng trở nên phức tạp. Tài chính là một lĩnh vực rất nhạy cảm, nếu không có đối sách hợp lý
và giải quyết kịp thời các vấn đề về tài chính nảy sinh thì hậu quả sẽ rất nặng nề, thậm chí
có thể gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế. Thực tế cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
cuối năm 1997 vừa qua ở châu á đã chứng tỏ điều đó. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống mạng
lưới thông tin tài chính nhanh nhạy, tăng cường khả năng phân tích, kiểm tra, kiểm soát tài
chính là nhu cầu khách quan và có tầm quan trọng đặc biệt của chính sách tài chính quốc
gia.
d) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về tài chính
Với đà phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ tài
chính nước ta ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, vì vậy xây dựng, cải tiến và hoàn
thiện luật pháp về tài chính là một nội dung lớn của chính sách tài chính. Trong thời kỳ quá
độ, luật pháp về tài chính phải tập trung vào các mục tiêu:
+ Xử lý tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, khai thác tối đa các nguồn lực tài chính
cho đầu tư phát triển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Phát triển dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn tài chính bên ngoài.
+ Nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế, tạo điều kiện cho chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
đ) Kiện toàn bộ máy quản lý tài chính
Vai trò của tài chính cao hay thấp là nhờ yếu tố chủ thể mà trước hết là bộ máy quản lý tài
chính. Trong thời kỳ quá độ, bộ máy quản lý tài chính cần được cải tiến và tổ chức cho
thích ứng với từng thời kỳ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ máy
chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ cho sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực tế trong 8 năm từ 2001 đến năm 2008, tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao, ở
mức 17-18%/ năm. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát
hằng năm (năm 2001: 0,2%; năm 2002: 1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm
2005: 9,0%; năm 2006: 11,1%; năm 2007: 7,8%).
Trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bội chi NSNN từ hai nguồn
là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép tăng tiền cung ứng thêm ra thị trường là
không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của Chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu
tư là tăng lên.
*Chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay
Ngân sách thâm hụt trầm trọng
Với bức tranh tài khóa tổng thể hiện nay, Việt Nam hiện chưa cân đối được thu chi ngân
sách. Thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỷ qua với mức độ kể
từ năm 2008 cao hơn so với những năm trước đó khi Việt Nam theo đuổi các chính sách mở
rộng tài khóa nhằm tránh suy giảm kinh tế.
Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong
giai đoạn 2003-2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng gần gấp đôi lên 2,4% GDP
theo thống kê của Bộ Tài chính và tăng gần gấp ba lần lên 3,8% GDP theo thống kê của
IMF trong giai đoạn 2008-2012.
Nửa đầu 2013, mặc dù nguồn thu ngân sách từ dầu thô tăng đáng kể nhờ sự lên giá của giá
dầu trên thế giới, nhưng do hoạt động kinh tế trong nước tăng chậm đã khiến tình trạng
thâm hụt ngân sách của Việt Nam trở nên trầm trọng hơn, lên tới 6,1% GDP bao gồm chi trả
nợ gốc và 4,1% GDP chưa bao gồm chi trả nợ gốc.
Tổng thu/GDP của Việt Nam trong hai năm gần đây liên tục giảm, theo thống kê của IMF,
đã giảm từ 28,6% trung bình trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn 27,7% trong năm 2011
và 25,5% trong năm 2012. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, sự giảm thu này là do suy thoái
kinh tế chứ không phải do chủ định thay đổi định hướng tài khóa của Chính phủ.
Trong cơ cấu nguồn thu NSNN của Việt Nam có nhiều khoản thu không bền vững theo
nghĩa chúng phụ thuộc vào bên ngoài hoặc có nguy cơ cạn kiệt dần theo thời gian.
một số ngành quan trọng (hệ thống giao thông đường bộ quốc gia; hệ thống cảng biển, cảng
hàng không quốc gia; hệ thống giao thông và viễn thông nông thôn; một số cơ sở đào tạo,
nghiên cứu khoa học và công nghệ quan trọng của quốc gia); duy trì và phát triển hệ thống
các cơ sở khám chữa bệnh từ Trung ương đến địa phương, bước đầu đáp ứng được một
phần nhu cầu cơ bản của xã hội; tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh chóng từ 15,5% năm 2006
xuống chỉ còn 9,45% năm 2010.
Tuy nhiên, hệ số ICOR (hệ số hiệu quả đầu tư theo hiệu suất vốn – sản lượng) tính theo tích
lũy tài sản gộp của Việt Nam đã tăng gấp đôi (từ mức 2,73 trong các năm 1990-1995 lên
đến 5,4 trong các năm 2006-2010). Điều này cho thấy hiệu suất đầu tư chưa cao, còn thất
thoát, lãng phí, không tạo ra năng lực sản xuất. Mức chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam
trong những năm gần đây lên mức khá cao, trên 30% giai đoạn 2005-2010, trong khi các
nước ở cùng mức độ phát triển trong khu vực (Indonesia, Philippin, Thái Lan), chỉ có ở mức
trên dưới 20% GDP. Tình trạng các dự án đầu tư chậm tiến độ vẫn còn phổ biến. Còn không
ít dự án đầu tư có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế và xã hội, cá biệt có những dự án, nội dung đầu tư trùng lắp, chồng chéo, gây
cản trở hoặc làm mất hiệu quả của các dự án đã được đầu tư trước đó.
Một số Bộ, ngành, địa phương trong một số dự án cụ thể đã không chấp hành nghiêm các
quy định về quản lý đầu tư sử dụng vốn nhà nước, dẫn đến tình trạng phân bổ vốn đầu tư
dàn trải, nợ đọng, kéo dài tiến độ thực hiện, gây lãng phí, thất thoát trong đầu tư. Một số các
dự án đầu tư vi phạm quy định pháp luật về đầu tư. Kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy các
công trình, dự án đều có sai phạm trong khâu lập thủ tục đầu tư, thiết kế, đấu thầu, sử dụng
vốn có đầu tư sai mục đích, nghiệm thu, thanh toán khống, quyết toán sai so với khối lượng
thực tế đã thi công, đơn giá, định mức… gây thất thoát, lãng phí.
Sự thiếu nhất quán trong cách hạch toán tài khóa khiến cho các con số thống kê không
phản ánh chính xác về thực trạng chi tiêu NSNN của Việt Nam, gây khó khăn cho việc kiểm
chứng thông tin cho những người tham gia thị trường. Đồng thời cũng khiến cho việc so
sánh quốc tế, đánh giá và quản lý tài khóa và rủi ro nợ công của Việt Nam gặp khó khăn.
Có một vấn đề đáng lo ngại là trong cơ cấu nguồn chi, trong khi chi cho đầu tư phát triển có
xu hướng giảm từ 9,3% GDP trung bình trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn 6,7% GDP
trong giai đoạn 2011-6/2013 thi chi thường xuyên lại có xu hướng gia tăng từ 19,7% GDP
án, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện 49 dự án
với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD.
Ngành năng lượng và công nghiệp có tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ 1993-2012
đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng
số nhà tài trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa phương.
Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo nhận được
nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8,85 tỷ USD (ODA vốn vay:
7,43 tỷ USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1,42 tỷ USD).
Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng đều giữa các
tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước trong đó vùng đồng bằng sông Hồng tiếp nhận
nguồn vốn ODA lớn nhất với 10,42 tỷ USD và vùng Tây Nguyên tiếp nhận nguồn vốn ODA
thấp nhất với 1,36 tỷ USD.
Chính phủ Việt Nam có chính sách sử dụng ODA để hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địa
phương ưu tiên, nhất là đối với những địa bàn có nhiều khó khăn trong từng thời kỳ phát
triển.
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 với
khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33
tỷ USD.
WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD. Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết.
Chương 4. Tài chính doanh nghiệp
Chương 5. Thị trường tài chính
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính:
3.2.1 Về thị trường vốn:
-Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối
tượng trong nền kinh tế, phấn đấu đến năm 2010 giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán đạt
50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP, đó là một trong những mục tiêu cụ thể mà Thủ
tướng Chính phủ đề ra tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về việc phê
duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
a) Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các loại hàng hoá để đáp ứng nhu
Trung tâm Giao dịch chứng khoán thực hiện chức năng tổ chức và giám sát giao dịch chứng
khoán tập trung. Nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật của thị trường, đảm bảo khả năng liên
kết với thị trường các nước trong khu vực;
-Tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC) theo hướng có quản lý
thông qua các giải pháp: thực hiện đăng ký, lưu ký tập trung đối với các công ty cổ phần đủ
điều kiện theo quy định của Luật Chứng khoán; nghiên cứu cơ chế giao dịch đối với các
chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết theo mô hình thoả thuận thông qua các công ty
chứng khoán; các giao dịch chứng khoán tập trung thanh toán và chuyển giao thông qua
Trung tâm Lưu ký chứng khoán; đồng thời, thiết lập cơ chế giám sát của thị trường giao
dịch chứng khoán trong việc công bố thông tin để tăng cường tính công khai, minh bạch
trên thị trường, đảm bảo sự quản lý, giám sát của Nhà nước đối với các giao dịch chứng
khoán, thu hẹp hoạt động trên thị trường tự do.
c) Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trường:
-Tăng số lượng hợp lý, nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực tài chính cho các công ty
chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, Đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ cung cấp trên thị trường, nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng các dịch
vụ; đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường;
-Mở rộng phạm vi hoạt động Trung tâm Lưu ký chứng khoán, áp dụng các chuẩn mực lưu
ký quốc tế, thực hiện liên kết giao dịch thanh toán giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ;
-Từng bước hình thành thị trường định mức tín nhiệm ở Việt Nam. Cho phép thành lập các
tổ chức định mức tín nhiệm đủ điều kiện tại Việt Nam và cho phép một số tổ chức định mức
tín nhiệm có uy tín của nước ngoài thực hiện hoạt động định mức tín nhiệm ở Việt Nam.
d) Phát triển hệ thống nhà đầu tư trong và ngoài nước: -Khuyến khích các định chế đầu
tư chuyên nghiệp (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm…) tham gia đầu tư trên thị trường
theo quy định của pháp luật. Thực hiện lộ trình mở cửa đối với các nhà đầu tư chuyên
nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam theo lộ trình đã cam kết; -Đa dạng hoá các
loại hình quỹ đầu tư; tạo điều kiện cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tiết kiệm bưu điện,
… tham gia đầu tư trên thị trường vốn; từng bước phát triển, đa dạng hoá các quỹ hưu trí để
thu hút các vốn dân cư tham gia đầu tư; khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước
ngoài đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam.
những giải pháp xử lý thích hợp. Các giải pháp này được thể hiện trong văn bản quy phạm
pháp luật và công bố cho nhà đầu tư được biết và chỉ áp dụng khi có những nguy cơ ảnh
hưởng đến an ninh của hệ thống tài chính. Thực hiện cơ chế giám sát đặc biệt với các định
chế trung gian yếu kém để giảm thiểu tác động tiêu cực có tính chất dây chuyền trong toàn
hệ thống.
3.2.2 Thị trường tiền tệ:
-Văn kiện đại hội X của Đảng đã nêu rỏ quan điểm về việc việc xây dưng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó các quan điểm về việc
xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam vững mạnh được khẳng định mạnh mẽ. Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2000-2010 đã nêu rõ định hướng điều hành thị trường tiền tệ
trong thời gian tới là: “ thực thi chính sách tiền tệ bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát
lạm phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển. Sử dụng linh hoạt, có
hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở theo
nguyên tắc của thị trường. Nâng dần và tiến tới thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đồng
tiền Việt Nam”.
-Từng bước đổi mới một cách căn bản, đồng bộ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền
tệ phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó đảm bảo mức gia tăng huy động vốn luôn đáp ứng
mức gia tăng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đến năm 2010 nền kinh tế Việt Nam là
nền kinh tế được tiền tệ hóa và các nguồn vốn được thương mại hóa.(chiến lươc tiền tệ-
ngân hàng giai đoạn 2000-2010).
-Hình thành đồng bộ, thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam,
phát triển thị trường tiền tệ với các hình thức đa dạng thích hợp, bao gồm hệ thống ngân
hàng, thể chế tài chính phi ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư… và bảo lãnh đầu
tư nhằm thu hút các nguồn vốn trong xã hội, mở rộng nguồn vốn dài hạn và trung hạn.
-Ngân hàng Nhà nước sẽ nhanh chóng thực hiện các chính sách điều hành tiền tệ để có biện
pháp thích hợp kiểm soát được mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và mức huy
động tín dụng; thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền
trong lưu thông ở mức hợp lý; giữ bình ổn tỷ giá hối đoái, các lãi suất chủ đạo của đồng tiền
Việt Nam, không để xảy ra những đột biến trên thị trường tiền tệ.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối nhằm giám sát và quản lý chặt chẽ các giao dịch
trường liên ngân hàng (1993-1996) 1993 1994 1995 1996 VND USD VND
USD VND USD VND USD Doanh số 61,9 1,5 80,3 10,5 45,5 24 3,5 Trong đó
NHNN bảo lãnh 1,5 80,3 10,5 45,5 24 3,5 Lãi suất bình quân 1,63%/ tháng
5,5%/ tháng 1,77%/ tháng 6,0%/ năm 2,1%/ tháng 8%/ năm 7,2%/ năm [3, trang
198]
-Ngoài việc là trung tâm giao dịch thì Ngân hàng nhà nước còn đóng vai trò là
người cho vay cuối cùng, thực hiện cho vay trực tiếp các thành viên tại trung
tâm thị trường. Bảng số liệu vay vốn giữa các ngân hàng trên thị trường nội tệ
liên ngân hàng (1993-1996). Hoạt động 1993 1994 1995 1996 Vay Ngân hàng
nhà nước 61,9 80,3 45,5 Các NHTM vay lẫn nhau 17 14 15 NHNN bão lãnh 2,0
12 15 NHNN cho vay 44,9 66,3 30,5 Vay mượn trực tiếp lẫn nhau 10.000 9.500
[3,trang 199]
-Hiện nay, tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng
thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại
cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Qũy tín
dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo hiểm và tái bảo
hiểm, Quỹ đầu tư Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị trường liên ngân
hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị trường mở thì không
phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các NHTM NN, NHTM cổ phần đô
thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo
hiểm
-Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập trung
ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương.
Theo đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng 6-2002, Ngân hàng
Nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trước đó.
Hàng tháng Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, vẫn quy định lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; cùng với lãi suất nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ
Swap, lãi suất thị trường mở, lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà
nước tác động vào lãi suất thị trường, lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay
của các Tổ chức tín dụng.
Thương Tín đã có đơn và hồ sơ đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép vấn đề
này. -Tuy chưa chính thức niêm yết giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng
khoán, nhưng thời gian qua, cổ phiếu của nhiều NHTM cổ phần đã giao dịch
đơn lẻ, không chính thức trên thị trường phi tập trung OTC. Mệnh giá cổ phiếu
của nhiều NHTM cổ phần được giao dịch cao gấp 1,1 lần đến 2,5 lần so với
mệnh giá ban đầu. Uy tín trong và ngoài nước của nhiều ngân hàng thương mại
cổ phần ngày càng tăng lên. Nhiều tổ chức tài chính quốc tế và ngân hàng nước
ngoài đã và đang mua cổ phần, chuyển giao công nghệ ngân hàng hiện đại, hỗ
trợ về tài chính cho các ngân hàng thương mại cổ phần.
-Thủ tướng Chính phủ đã chính thức có quyết định cổ phần hóa Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam. Theo kế hoạch, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam sẽ
triển khai bước đầu tiên cổ phần hóa vào đầu năm 2006. Tổng giá trị cổ phiếu
phát hành trên hai Trung tâm giao dịch chứng khoán để tăng vốn điều lệ vào
khoảng 1.000 tỷ đồng. -Với khối lượng giá trị cổ phiếu lớn như vậy nếu được
giao dịch và niêm yết trên hai Trung tâm giao dịch chứng khoán, thì chứng
khoán giao dịch chủ yếu của hai Trung tâm này sẽ là cổ phiếu của Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam. Tiếp theo đó sẽ là Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng
sông Cửu Long và Ngân hàng Đầu tư-phát triển Việt Nam cũng đề nghị được cổ
phần hóa. Khi đó chắc chắn hoạt động của hai Trung tâm giao dịch chứng khoán
sẽ sôi động hẳn lên, tạo nền tảng mới cho sự phát triển thị trường chứng khoán
Việt Nam.
2.Thành tựu và những hạn chế cần giải quyết của thị trường tài chính: 2.1 Thành
tựu:
-Thứ nhất, trong những năm qua, cùng với quá trình cải cách kinh tế, TTTC Việt
Nam đã có những bước phát triển nhất định. Trước hết, các thị trường cấu thành
cơ bản của TTTC đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Nhiều loại hình
định chế trung gian tài chính được thành lập. Đặc biệt, thị trường chứng khoán
đã được thiết lập và có những đóng góp ban đầu trong việc huy động các nguồn
vốn dài hạn cho nền kinh tế. -Thứ hai, trong hơn 5 năm lại đây, hệ thống ngân
hàng đã được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ thống và những
được thế chấp chứng khoán tuy có tỷ trọng chưa lớn song cũng đáng lo ngại khi
năng lực của các nhà đầu tư cá nhân còn thấp và thị trường chứng khoán
(TTCK) vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến động lớn về giá cả.
-Trong khi đó, năng lực giám sát, quản trị ngân hàng còn nhiều hạn chế. Công
tác giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu.Quá trình giám sát từ xa còn bất cập
trong việc tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin, đặc biệt trong bối cảnh các
chuẩn mực về kế toán, kiểm toán chưa được áp dụng thật rộng rãi, nhất quán.
Công tác giám sát tín dụng cũng chưa bao quát hết toàn bộ các định chế tài
chính có liên quan đến hoạt động tín dụng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan quản lý Nhà nước và do mô hình quản lý hệ thống tài chính hiện tại
về thực chất là quản lý theo định chế tài chính. Các quy định quản lý theo tiêu
chuẩn quốc tế như quản lý rủi ro, quản trị tài sản có, tài sản nợ, kiểm toán nội
bộ,…mới được áp dụng, nên chưa thật sự có hiệu lực và hiệu quả. Nhìn chung,
trình độ quản trị nội tại ngân hàng chưa đáp ứng tốt các chuẩn mực quốc tế như
CAMEL và BASEL. Thị trường chứng khoán vẫn còn ít các định chế tài chính
quan trọng như các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư tương hỗ và chưa có các công ty
định mức tín nhiệm. Các nhà bảo lãnh phát hành chủ yếu là các NHTM Nhà
nước. Các công ty chứng khoán chưa đóng vai trò nhà tạo lập thị trường quan
trọng trên thị trường, mới chỉ thực hiện bảo lãnh phát hành đối với trái phiếu
chính phủ. Các nhà đầu tư cá nhân nhìn chung chưa có tính chuyên nghiệp; hành
vi đầu tư thường mang tính ngắn hạn, “bầy đàn”, gây biến động mạnh về giá và
làm giảm độ tin cậy đối với thị trường, nhất là trong bối cảnh mức độ công khai,
minh bạch của thị trường chưa cao.
-Lãi suất trái phiếu chính phủ vẫn chưa tạo được đường cong lãi suất chuẩn làm
cơ sở cho việc phát hành trái phiếu công ty và các hoạt động đầu tư trên TTTC.
Cách thức huy động vốn qua phát hành trái phiếu quốc gia trên thị trường quốc
tế dường như vẫn thiếu tầm nhìn, chưa thật rõ ràng về mục tiêu dài hạn (huy
động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng hay “bảo lãnh” cho một số ngành
hàng/dự án “chiến lược” được ưu tiên?).
-Thành phần tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ trên thực tế chủ yếu vẫn là
nhiều khó khăn.
Xét về môi trường tài chính thì việc hạ lãi suất của NHNN đã phần nào cởi một nút
thắt cho thị trường tài chính vốn đang bị co thắt mạnh từ việc thắt chặt chính sách
tiền tệ trong suốt năm 2011. Đáng lưu ý là sự khởi sắc trên TTCK khi chỉ số Vnindex
đã tăng khá mạnh trong cuối quý 1 và đầu quý 2. Hiện chỉ số này đang giao dịch ở
quang mức 460 – 470 điểm, tăng khoảng 30% so với đầu năm. Thanh khoản thị
trường cải thiện đáng kể khi KLGD và GTGD trên thị trường bằng 1,7-1,8 lần so với
2 tháng đầu năm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn đang gặp nhiều khó khăn và tình hình
kinh doanh của các DN bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì đà tăng của thị trường trong thời
gian qua là chưa chắc chắn. Đối với hoạt động kinh doanh đầu tư vào vàng thì xu hướng
giá vàng thế giới giảm mạnh cũng phần nào tác động đến giá vàng trong nước. Với hình
thức chủ yếu là buôn bán vàng miếng và xu hướng đầu tư 1 chiều như hiện nay thì hiện
nay vàng không phải là kênh thu hút vốn đầu tư. Trên thị trường BĐS, việc NHNN tiến
hành giảm lãi suất đồng thời đưa ra chính sách mới trong việc nới lỏng cung cấp tín
dụng cho thị trường BĐS phần nào cũng tác động tích cực đến thị trường. Các DN sẽ
tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn để triển khai dự án trong khi người có nhu cầu mua
nhà cũng được hỗ trợ vốn vay hơn so với trước kia.
Tuy nhiên, hiện thị trường này vẫn còn kém thanh khoản và thị trường vẫn kỳ vọng
giá nhà sẽ tiếp tục giảm nên chính sách hỗ trợ của NHNN tạm thời sẽ chưa tác động
gì nhiều đối với thị trường BĐS. Đối với kênh tiền gửi tiết kiệm thì lãi suất huy động
giảm về 12% phần nào khiến người có tiền không mặn mà với việc gửi tiền, tuy
nhiên, xem xét trong bối cảnh môi trường đầu tư hiện nay thì tiền gửi tiết kiệm vẫn là
kênh đầu tư thu hút phần đông người gửi tiền.
Tóm lại lãi suất giảm đã tạo tín hiệu tốt cho kinh tế trong giai đoạn tới, qua đó TTCK
vẫn đang duy trì xu thế tăng điểm. Tuy nhiên, LS giảm chưa thực sự tạo tình hình khả
quan cho hoạt đồng đầu tư tài chính và đầu tư BĐS. Mặc dù LS huy động chỉ còn
12%, thậm chí giảm xuống 10% thì gửi tiền vẫn là kênh tốt nhất (kết hợp giửa an
toàn và thu nhập). Ngoài ra khi LS giảm xuống 10% thì có thể là USD trở nên hấp
dẩn và tăng tỷ giá, đó là điểm cần quan tâm trong 3 thángtới.
9,6%/năm (0,8%/tháng). Quy định này thay thế cho quy định tại văn bản số 436/2008/TTg-
KTTH ngày 25 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh lãi suất cho
vay Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
3. Lãi suất cho vay đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn là 9,6%/năm
(0,8%/tháng). Quy định này thay thế cho quy định tại khoản 1, Điều 8, Quyết định số
31/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với
hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn.
Tính theo lãi suất năm, mặt bằng lãi suất huy động giảm 7-10%, lãi suất cho vay giảm
9-12%; riêng 9 tháng năm 2013 lãi suất huy động giảm 2-3%, cho vay giảm 3-5%. Mặt
bằng lãi suất cho vay đã trở về mức của giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay đối với
các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 7-9%/năm; các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác
là 9-11,5%/năm; một số doanh nghiệp tình hình tài chính lành mạnh được vay với lãi
suất 6,5-7%/năm.
9 tháng đầu năm 2013, trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và xu hướng lạm phát
tăng ở mức thấp, ổn định của thị trường ngoại hối và tỷ giá, NHNN đã nhận định dư địa để
giảm mặt bằng lãi suất trong năm 2013 là không còn nhiều. Thực tế, NHNN đã thực hiện
giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành, cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng giảm từ 10 - 9 - 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm 9 - 8 - 7%/năm,
lãi suất tái chiết khấu giảm từ 7 - 6 - 5%/năm. NHNN chỉ điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần
trăm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi dưới 12 tháng từ cuối tháng 3/2013.
Báo cáo đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2013 của Ủy ban Giám sát tài
chính quốc gia (UBGS) nhận định, thị trường tiền tệ trong 9 tháng đầu năm 2013 tiếp tục có
những cải thiện tích cực: Thứ nhất, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được củng cố và
hiện khá dồi dào so với giai đoạn trước do tốc độ tăng huy động luôn đạt mức tăng cao hơn
nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống. Lãi suất cho vay trên thị trường liên
ngân hàng vì vậy đã duy trì được sự ổn định với mức thấp (3 - 4%/năm) trong phần lớn thời
gian của 9 tháng đầu năm; Thứ hai, tỷ lệ cho vay trên huy động trên thị trường 1 cũng như
tỷ lệ huy động từ thị trường 2 trên tổng tài sản của các TCTD đang giảm dần cho thấy
những tín hiệu tích cực khi mức độ rủi ro trong hoạt động của đa phần các TCTD và của
toàn hệ thống đã giảm đáng kể…
Một số vấn đề về lạm phát năm 2012-2013
Theo UBGSTCQG, lạm phát theo tháng có xu hướng tăng kể từ tháng 6 và đạt mức cao
trong hai tháng cuối quý 3/2013 (bình quân tháng trong quý 3 tăng 0,7% so với mức âm của
quý trước). Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) các tháng này chịu tác động chủ yếu của
việc điều chỉnh mùa vụ (giá các hàng hóa, dịch vụ công do nhà nước quản lý) chứ không
phải do các yếu tố cơ bản của lạm phát tăng, đặc biệt là tổng cầu hiện vẫn còn thấp.
Sang tháng 10, lạm phát so với cùng kỳ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010 (5,92%)
và lạm phát cơ bản cũng trong xu hướng giảm (từ mức 10% trong tháng 9 xuống còn
8,85%). So với tháng trước, CPI tăng 0,49% do sự tăng lên của nhóm hàng lương thực thực
phẩm và nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
Thông thường, quý 4 là quý có mức tăng CPI cao nhất trong năm. Các yếu tố chính gây
tăng giá trong quý này bao gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng, nhu cầu mua sắm
theo thời vụ các tháng cận Tết, khả năng điều chỉnh giá xăng dầu, gas. Tuy nhiên,
UBGSTCQG cho rằng, hiện sức cầu còn yếu nên sẽ hạn chế đáng kể đà tăng giá trong các
tháng tới.
Tính đến tháng 10, CPI tăng 5,14% so với đầu năm, do đó dư địa còn lại cho lạm phát quý 4
là 1,9%, tương ứng với mức bình quân tháng khoảng 0,63%. “Lạm phát cả năm 2013 vẫn
được kiểm soát xung quanh mức 7% nếu như có sự quản lý và điều tiết tốt việc điều chỉnh
giá các mặt hàng và dịch vụ do nhà nước quản lý” UBGSTCQG dự báo.
Như vậy, lạm phát trong những tháng vừa qua tăng khá mạnh so với giai đoạn đầu năm
nhưng không phải do những yếu tố cơ bản mà chủ yếu là do việc chủ động điều chỉnh giá
các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công. Để lạm phát diễn ra như trên, UBGSTCQG khuyến
nghị, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp, tránh
việc tăng giá tùy ý (về thời điểm tăng giá, mức tăng giá…) nhằm tránh gây tác động lạm
phát tâm lý trong thời gian tới.
Nếu lạm phát diễn ra đúng như dự báo, đây sẽ là thành quả nổi bật của kinh tế Việt Nam
trong việc duy trì lạm phát ổn định liên tiếp 2 năm giúp ổn định kỳ vọng lạm phát và ổn
định kinh tế vĩ mô.
Tăng trưởng tiếp tục tăng dần qua các quý và ước đạt 5,54% trong quý III, đưa GDP 9 tháng
đầu năm tăng 5,14% cao hơn cùng kỳ năm ngoái. GDP quý IV dự báo sẽ tăng ở mức 6% do
tiền - hàng trong nền kinh tế, có thể thực hiện các giải pháp làm tăng cung như khuyến
khích phát triển sản xuất, khuyến khích cạnh tranh, mở cửa cho phép hàng hoá bên ngoài
vào trong nước (trong nước chưa sản xuất được hoặc hiệu quả sản xuất chưa cao) gắn chặt
với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nâng
cao nhịp độ tăng trưởng của các ngành sản xuất, nhất là các ngành sản xuất hàng hoá thiết
yếu và phục vụ xuất khẩu…
Tuy vậy, việc tăng sản lượng là điều không dễ, đòi hỏi phải có thời gian dài, trong khi
lạm phát luôn ở trạng thái biến động và luôn tạo ra trạng thái cầu lớn hơn cung. Do đó,
không thể thụ động đợi các biện pháp tăng cung từ sản xuất, mặc dù đó là giải pháp cơ bản
lâu dài, mà cần sử dụng các biện pháp tình thế sau: trên cơ sở nâng cao và khai thác tốt các
nguồn thu trong các thành phần kinh tế nhằm đáp ứng những nhu cầu chi thiết yếu, cơ bản
và hợp lý, cần xoá bỏ các khoản bao cấp đối với khu vực sản xuất, kinh doanh không có
hiệu quả, giảm chi ngân sách, bù đắp bội chi bằng cách phát hành công trái, tín phiếu… và
tiến tới chấm dứt bội chi ngân sách; thắt chặt tín dụng, thực hiện đúng những nguyên tắc
lưu thông tín dụng: cho vay phải có vật tư hàng hoá bảo đảm và tiền phải thường xuyên
quay về ngân hàng cả gốc lẫn lợi nhuận, thực hiện nguyên tắc cho vay bằng nguồn vay,
không dùng tiền phát hành để cho vay; sử dụng đúng đắn và linh hoạt đòn bảy lãi suất tiền
gửi và các hình thức huy động khác nhằm khuyến khích tiết kiệm trong dân chúng, giảm
lượng tiền giấy trong lưu thông.
Nỗ lực giảm chi phí sản xuất
Thực tiễn cho thấy, các giải pháp tác động chỉ riêng vào cung hoặc chỉ riêng vào cầu
không phải bao giờ cũng đưa lại một kết quả như mong đợi chủ quan, mà cần có sự tác
động đồng thời vào cả hai mặt cung và cầu.
Muốn khống chế và giảm lạm phát, trong năm 2013 cần có các giải pháp tác động để
giảm chi phí sản xuất, đó là: Thực hiện đa dạng hoá các nguồn cung ứng vật tư nguyên liệu
trên cơ sở lợi thế nhờ quy mô và lợi thế so sánh; xác lập các định mức tiêu hao vật tư
nguyên liệu có căn cứ khoa học, nhằm thực hiện việc tiết kiệm vật tư nguyên liệu trong quá
trình sản xuất. Đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, cải tiến công nghệ, chuyển giao công
nghệ để giảm thiểu tối đa chi phí các yếu tố đầu vào; khống chế, kiểm soát giá cả và tiền