Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu cà phê tại công ty xuất nhập khẩu Intimex NOTE - Pdf 10

Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trong xu hướng toàn cầu hóa, vấn đề mở cửa và hội nhập đã và
đang cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chú trọng. Các Doanh
nghiệp nói chung không chỉ muốn phát triển ngành hàng kinh doanh của
mình trong thị trưòng nội địa mà luôn muốn tiến sâu ra thị trường quốc tế.
Thị trường Quốc tế luôn luôn biến động, hoạt động xuất nhập khẩu tuy
không còn mới mẻ song nó luôn mang tính thời sự cấp bách và là mối quan
tâm hàng đầu của các Doanh nghiệp trong nền kinh tế Quốc dân. Xuất khẩu
đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy nền sản
xuất phát triển, tạo tiền đề cho mọi ngành cùng có cơ hội phát triển, tăng
cường hiệu quả sản xuất của từng nước, giúp các nước tạo ra năng lực sản
xuất mới do có sự phân công lao động quốc tế. Đặc biệt, trong quy trình xuất
khẩu thì việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu được coi là khâu quan
trọng có tính chất quyết định đến sự thành bại của toàn bộ thương vụ xuất
khẩu của Doanh nghiệp. Đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của WTO, thì vấn đề xuất khẩu càng được chú trọng phát triển và
Nhà nước đẫ sử dụng nhiều chính sách thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nhằm
đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế nước nhà. Trong quá trình thực tập tại
công ty Xuất Nhập Khẩu Intimex, em nhận thấy đây là một doanh nghiệp
Nhà nước thực hiện chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp, với
kinh nghiệm kinh doanh quốc tế gần 30 năm Công tyđã tạo dựng được cho
mình một vị thế vững chắc trên thị trường nội địa và nước ngoài. Thực tế
cho thấy, kim ngạch cà phê xuất khẩu của Công ty rất lớn, tuy nhiên còn
nhiều vấn đề cần được nghiên cứu nhằm thúc đẩy hiệu quả thực hiện hợp
đồng xuất khẩu cà phê tại Công ty để thu được lợi nhuận cao. Bởi vậy, việc
nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực hiện hợp
đồng xuất khẩu đem lại kết quả cao trong hoạt động kinh doanh của Công ty
là rất cần thiết, xây dựng một thương hiệu Intimex uy tín trên thị trường thế
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp

I. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MỘT HỢP ĐỒNG XUẤT
KHẨU HÀNG HOÁ
1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp đồng xuất khẩu
1.1.Khái niệm hợp đồng xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các
thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một
bên gọi là Bên xuất khẩu (bên bán) có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở
hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và
Bên nhập khẩu (bên mua) có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhận
hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký
kết hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao
hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên
xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có
nghĩa vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng
quyền lợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị
đã được giao. Ngược lại, Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ
giao hàng.
1.2. Đặc điểm
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
So với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng thương mại quốc tế có
những đặc điểm khái quát như sau:
- Bản chất của hợp đồng: là sự thoả thuận ý chí của các Bên ký kết.
Đây là đặc trưng rất cơ bản của hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế nói riêng.
- Chủ thể của hợp đồng: Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu, là các
thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau. Nếu các
bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú của họ, còn quốc

kỹ, ngoài ra người bán phải cố gắng đưa vào hợp đồng điều kiện đảm bảo
thanh toán mà tốt nhất là của ngân hàng tại quốc gia người bán.
Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một
quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Phương thức thanh
toán thông qua hệ thống ngân hàng.
- Liên quan mật thiết đến hoạt động vận chuyển: theo nguyên tắc trong
hợp đồng xuất khẩu, hàng hóa-dịch vụ được vận chuyển qua biến giới ít nhất
hai quốc gia. Vì vậy điều kiện vận chuyển có vị trí rất quan trọng trong hợp
đồng.
- Quy định trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng: trong quan hệ
thương mại quốc tế, có sự rủi ro đáng kể do không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ vì những sự kiện bất thường như: thuế xuất nhập khẩu tăng cao,
nhà nước cấm vận chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, chiến tranh, thiên tai bất
ngờ…Vì vậy việc đưa vào hợp đồng những quy định để điều chỉnh sự ảnh
hưởng của các sự kiện nói trên đối với việc phân chia trách nhiệm của các
bên do hoàn toàn không thực hiện hay không thực hiện một phần nghĩa vụ có
ý nghĩa quan trọng.
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án hay
trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực
kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể.
Điều kiện này quan trọng vì thiếu điều kiện này sẽ làm cho việc giải
quyết tranh chấp giữa các bên trở nên khó khăn, phức tạp và nhiều lúc không giải
quyết được.
- Mối liên hệ chặt chẽ giữa một số loại hợp đồng xuất khẩu: việc thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương được đi kèm với việc ký kết
một loạt hợp đồng khác (hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng
vay tín dụng…). Để đảm bảo thương vụ có hiệu quả cần phải có sự thống
nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các hợp đồng này.

tháng 3 năm 2008 (Hanoi, March 8th 2008). Cũng có nhiều trường hợp
người ta lại ghi địa điểm và ngày tháng ký kết ở phần cuối hợp đồng. Ví dụ:
Hợp đồng được lập tại Hà Nội vào ngày 8 tháng 3 thành 4 bản có hiệu lực
pháp lý như nhau, mỗi bên giữ hai bản (The present contract was made in
Danang on March 8th 2008 in quadruplicate of equal force, two of which are
kept by each party). Địa điểm ký kết hợp đồng có ý nghĩa góp phần xác định
nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nếu các bên không thoả thuận nguồn luật
điều chỉnh trong hợp đồng, đó là luật nơi ký kết hợp đồng. Thông thường
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
nếu các bên không có thoả thuận gì khác về thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng thì thời điểm này tính từ thời điểm các bên ký kết hợp đồng.
- Các bên ký kết hợp đồng: tên các bên ký kết, địa chỉ, số tel, số fax,
địa chỉ email, số tài khoản và tên ngân hàng, người đại diện ký kết hợp đồng
- Những định nghĩa dùng trong hợp đồng. Những định nghĩa này có
thể rất nhiều, ví dụ "hàng hóa" có nghĩa là..., "Thiết kế" có nghĩa là... Ít nhất
người ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây:
Công ty X, địa chỉ..., số điện thoại..., đại diện bởi Ông... dưới đây gọi là
Bên bán (X company, address..., Tel...represented by Mr. ...hereinafter
referred to as the Seller)
- Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Đây có thể là hiệp định ký kết
giữa các Chính phủ, cũng có thể là Nghị định thư ký kết giữa các Bộ thuộc
các quốc gia khác nhau. Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của các
bên khi ký kết hợp đồng. Ví dụ:
Các bên đã cùng nhau thỏa thuận rằng Bên bán cam kết bán và Bên mua
cam kết mua những hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiện sau
(It has been mutually agreed that the Seller commits to sell and the Buyer
commits to buy the undermentioned goods on the following terms and
conditions).
* Phần các điều khoản và điều kiện quy định hệ thống các điều kiện

quan trọng. Trong điều khoản này, hàng hóa phải được ghi một cách đầy đủ,
rõ ràng, chính xác, kèm theo tên thương mại. Nếu đối tượng của việc mua
bán gồm nhiều mặt hàng, chủng loại hàng hóa khác nhau thì phải ghi rõ danh
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
mục các mặt hàng đó. Danh mục hàng hóa này có thể được coi là phụ lục của
hợp đồng. Thông thường, có những cách diễn đạt tên hàng như sau:
- Ghi tên hàng theo tên thương mại nhưng kèm theo tên thông thường
và tên khoa học của nó (thông thường áp dụng cho các loại hóa chất, giống
cây).
- Ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng hóa đó (Rượu
vang Bordeaux…)
- Ghi tên hàng kèm theo hãng sản xuất ra hàng hóa đó (Tivi L/G, Điện
thoại L/G, Tủ lạnh L/G…)
- Ghi tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hóa đó (Xe tải trọng
tải 5 tấn hay 10 tấn…)
- Ghi tên hàng kèm theo nhãn hiệu của nó (Ôtô Toyota, Bia Tiger…)
- Ghi tên hàng kèm theo công dụng của hàng hóa đó (Dầu gội dưỡng
tóc, kem làm trắng da…)
- Ngoài ra, người ta còn kết hợp theo các cách trên với nhau.
Điều khoản tên hàng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng nên khi
quy định điều khoản này cần chú ý: phải phản ánh chính xác đặc điểm hàng
hóa, tránh những quy định sáo rỗng; đưa ra quy định trung thực đối với thực
tế hàng hóa; nên sử dụng tên gọi thông thường sử dụng trên thị trường quốc
tế; chú ý chọn và miêu tả tên hàng sao cho chính xác và phù hợp với danh
mục quy định.
* Điều khoản về chất lượng (Quality)
Điều khoản quan trọng nhất của mọi hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc
biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì chất lượng hàng hoá ảnh
hưởng trực tiếp đến giá trị sử dụng và giá cả hàng hóa. Điều khoản chất

giao nhận, đơn vị tính, phương pháp xác định trọng lượng của hàng hóa.
Những điểm cần chú ý trong quy định điều khoản này: nắm chính xác
số lượng ký kết; điều khoản cần quy định cụ thể, rõ ràng để tránh gây ra
tranh chấp.
* Điều khoản về bao bì, ký mã hiệu (Packing and marking)
Bao gói ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của hàng hóa. Điều khoản
này liên quan đến lợi ích của hai bên mua bán nên cần được ghi rõ ràng, cụ
thể. Bao bì đảm bảo hàng hóa nguyên vẹn về số lượng và chất lượng trong
quá trình vận chuyển và bảo quản cũng như nâng cao tính thẩm mỹ hấp dẫn
của hàng hóa. Trong điều khoản này quy định loại bao bì, hình dáng, kích
thước, số lớp bao bì, phương thức cung cấp bao bì, giá bao bì…Quy định về
nội dung và chất lượng của ký mã hiệu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc
bốc dỡ, giao nhận và bảo quản hàng hóa. Thông tin của ký mã hiệu phải đáp
ứng được mục tiêu đề ra như: những dấu hiệu cần thiết cho người nhận hàng,
những chi tiết cần thiết cho việc vận chuyển hàng hóa, những dấu hiệu
hướng dẫn cho cách sắp xếp, bốc dỡ hàng hóa…Ký mã hiệu phải đơn giản,
dễ đọc… không ảnh hưởng đến chất lượng của hàng hóa.
* Điều khoản về giá cả (Price)
Trong TMQT, xác định giá cả hàng hóa XNK và quy định điều khoản
giá cả là một vấn đề quan trọng mà hai bên giao dịch quan tâm nhất. Giá cả
phải được xác định trên cơ sở giá quốc tế và xuất phát từ điều kiện giao
hàng. Thông thường giá thể hiện bằng ngoại tệ mạnh. Theo nguyên tắc giá
phải được quy định rõ, đúng và chính xác. Điều khoản giá cả là một trong
những điều khoản chủ yếu của hợp đồng TMQT, vì nó có mối quan hệ mật
thiết và ảnh hưởng tới các điều khoản khác của hợp đồng. Điều khoản giá cả
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
quy định mức giá cụ thể cùng đồng tiền tính giá, phương pháp quy định giá
và quy tắc giảm giá (nếu có).
Những điều cần chú ý trong quy định điều khoản giá cả hàng hóa là:

Quy định trường hợp miễn trách là điều khoản không thể thiếu được
trong các hợp đồng TMQT. Số lượng mà hai bên thỏa thuận giao nhận với
nhau là căn cứ để giao nhận hàng hóa nên việc ghi chính xác số lượng ký kết
trong hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng.
Điều khoản về trường hợp miễn trách hoặc hoãn thực hiện các nghĩa
vụ của hợp đồng cho nên thường quy định: nguyên tắc xác định các trường
hợp miễn trách, liệt kê các trường hợp miễn trách và trách nhiệm, quyền lợi
của mỗi bên khi xảy ra các trường hợp miễn trách.
* Điều khoản về khiếu nại (Claim)
Khiếu nại là việc một bên yêu cầu bên kia giải quyết những tổn thất
hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc việc bên kia vi phạm các cam kết
đã ký kết. Nội dung của điều khoản quy định thời gian khiếu nại, thể thức
khiếu nại và nghĩa vụ của các bên khi khiếu nại và cách thức giải quyết khi
xảy khiếu nại.
* Điều khoản bảo hành (Warranty)
Điều khoản này quy định trách nhiệm của người bán đối với chất
lượng của hàng hóa trong một thời gian nhất định cho người mua. Trong
điều khoản bảo hành hai bên sẽ thỏa thuận về phạm vi bảo đảm của hàng
hóa, thời hạn bảo hành, địa điểm bảo hành, nội dung bảo hành và trách
nhiệm của mỗi bên trong nội dung bảo hành.
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
* Phạt và bồi thường thiệt hại (Penalty)
Điều khoản quy định các trường hợp phạt và bồi thường, cách thức
phạt và bồi thường, trị giá phạt và bồi thường. Điều khoản này có thể kết hợp
cùng với các điều khoản khác trong hợp đồng như điều khoản thanh toán,
giao hàng hoặc độc lập thành điều khoản riêng.
* Điều khoản trọng tài (Arbitration)
Hoạt động kinh doanh quốc tế rất phức tạp nên thường có các tranh
chấp xảy ra nếu như các bên không cận thận trong kinh doanh. Khi xảy ra

nhập khẩu các thể nhân hoặc pháp nhân phải có Giấy phép kinh doanh xuất
nhập khẩu do Bộ thương mại cấp.
Đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu, để được cấp
Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu doanh nghiệp phải đáp ứng đủ 4 điều
kiện:
+ Là doanh nghiệp được thành lập theo đúng luật pháp và cam kết
tuân thủ các quy định của luật pháp hiện hành;
+ Hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký khi thành lập doanh
nghiệp;
+ Doanh nghiệp phải có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng tiền
Việt Nam tương đương 200 000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất
nhập khẩu. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc các tỉnh miền núi và các
tỉnh có khó khăn về kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng
cần khuyến khích xuất khẩu mà không đòi hỏi nhiều vốn, mức vốn lưu động
nêu trên được quy định tương đương 100 000 USD;
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
+ Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp
đồng mua bán ngoại thương.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, muốn được cấp Giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu cần phải:
+ Được thành lập theo đúng luật pháp;
+ Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu ổn định và có thị trường tiêu thụ ở
nước ngoài;
+ Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp
đồng mua bán ngoại thương.
Nếu có đủ 3 điều kiện trên, các doanh nghiệp sản xuất được quyền
trực tiếp xuất khẩu hàng hoá do mình sản xuất và nhập khẩu vật tư nguyên
liệu cần thiết cho sản xuất của chính doanh nghiệp.
Như vậy, theo quy định tại Nghị định này những doanh nghiệp chưa

theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Đối với những hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu
có điều kiện (hàng xuất khẩu, nhập khẩu có hạn ngạch, có giấy phép của Bộ
thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành) thì thương nhân phải được cơ
quan có thẩm quyền phân bổ hạn ngạch hoặc cấp giấy phép thì mới được tiến
hành kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được mở rộng
hơn nữa cùng với sự ra đời của Nghị định 12/2006/NĐ-CP. Nghị định
12/2006/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2006 và thay thế cho Nghị định
57/1998/NĐ-CP và Nghị định 44/2001/NĐ-CP. Theo Nghị định 12, thương
nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng
xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
3- Người ký kết hợp đồng có đủ thẩm quyền ký kết theo pháp luật của
nước mà thương nhân đó có trụ sở.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người ký kết là người đại diện
cho thương nhân đó theo luật hoặc theo ủy quyền. Đại diện theo luật là đại
diện do pháp luật quy định, là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của
điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đại
diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại
diện và người được đại diện. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập
theo sự ủy quyền và người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm
vi đại diện. Ủy quyền phải được làm bằng văn bản và người ủy quyền phải
hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của người được ủy quyền trong phạm
vi quy định của sự ủy quyền. (Điều 140-142 Bộ luật dân sự 2005)
4- Đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp. Tức là hàng hoá theo hợp
đồng phải là hàng hoá được phép mua bán theo qui định của pháp luật của
nước bên mua và nước bên bán.

của hợp đồng với việc pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền tự do thoả
thuận hợp đồng. Hơn nữa, Công ước của Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) hiện có hơn 60 nước
phê chuẩn quy định tối thiểu về các nội dung bắt buộc này, chỉ xoay quanh
ba điều khoản: tên hàng; số lượng và giá cả (Điều 14 Công ước Viên 1980).
- Vì những lý do trên, để phù hợp hơn với pháp luật quốc tế cũng như
tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận hợp đồng của các chủ thể, Bộ luật dân
sự năm 2005 đã quy định khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
những nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá cả,
phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp
đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt
vi phạm hợp đồng; các nội dung khác (Điều 402). Rõ ràng, quy định mới về
nội dung của hợp đồng là nhằm giúp các bên xác định được thoả thuận cụ
thể giữa họ chứ không phải để ràng buộc hay hạn chế quyền tự do hợp đồng
của họ.
6- Hình thức của hợp đồng phải hợp pháp. Hình thức của hợp đồng
phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Trong thực tiễn thương mại
quốc tế, phần lớn các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đều được lập
thành văn bản. Hình thức văn bản là cần thiết về phương diện chứng cứ trong
giao dịch quốc tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các
hình thức khác theo quy định của pháp luật (Điều 3, 27 Luật thương mại
2005).
4. Nguồn luật áp dụng
Theo luật thương mại 2005 tại điều 5 quy định:
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

những tạo điều kiện cho mình thực hiện tốt các nghĩa vụ tiếp theo mà còn tạo
điều kiện thuận cho bên đối tác thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
Mỗi bên thực hiện tốt từng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng sẽ tạo
điều kiện cho bên còn lại thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình. Mà khi đối tác
thực hiện tốt các nghĩa vụ của họ có nghĩa là mình đã thực hiện tốt các quyền
lợi của mình. Khi thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong hợp đồng còn làm
cơ sở để khiếu nại khi bên đối tác không thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình
trong hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể nảy sinh nhiều tình huống
phát sinh. Các tình huống phát sinh có thể do các bên không thực hiện tốt
nghĩa vụ của mình trong hợp đồng nhưng cũng có khi các bên thực hiện tốt
mà các tình huống vẫn phát sinh là do trước khi ký hợp đồng các bên không
thể dự đoán trước hoặc lường trước các sự việc có thể xảy ra. Các tình huống
phát sinh có thể làm tăng chi phí hoặc gây ra các tổn thất cho mỗi bên nhưng
khi có phát sinh các bên đều phải tìm ra giải pháp để giải quyết nhằm hạn
chế các chi phí và tổn thất để thực hiện hợp đồng có hiệu quả nhất.
2. Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Khi hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết thì các doanh nghiệp kinh
doanh quốc tế sẽ tiến hành tổ chức thực hiện hợp đồng. Đây là công đoạn
phức tạp, có rất nhiều công việc mà doanh nghiệp phải hoàn tất để đạt kết
quả tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp phải
thực hiện thật tốt từng khâu, từng công đoạn và nó đòi hỏi doanh nghiệp phải
có một đội ngũ cán bộ giỏi, có kinh nghiệm. Hầu hết các doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu đều tiến hành các công đoạn sau đối với hoạt động xuất
khẩu của mình.
2.1.Xin giấy phép xuất khẩu
Việc xin giấy phép xuất khẩu là một thủ tục pháp lý quan trọng, tạo
điều kiện thuận lợi để tiến hành các khâu khác trong quá trình xuất khẩu.

Chuyªn ®Ò t«t nghiÖp
thời gian quy định như trong hợp đồng TMQT. Như vậy quá trình chuẩn bị
hàng xuất khẩu bao gồm các nội dung sau: Tập trung hàng hóa xuất khẩu,
bao bì đóng gói, ký mã hiệu hàng hóa và kiểm tra hàng hóa.
2.3.1.Tập trung hàng xuất khẩu
Hàng phải tập trung đủ về số lượng, phù hợp về chất lượng và đúng
thời điểm, tối ưu hóa được chi phí. Tập trung hàng là một hoạt động rất quan
trọng của các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu. Tuy nhiên với loại
hình doanh nghiệp khác nhau thì việc tập trung hàng hóa là khác nhau để
đảm bảo cho hiệu quả quá trình xuất khẩu. Các doanh nghiệp thường tập
trung hàng từ các nguồn hàng xuất khẩu vì nó đã và có khả năng cung cấp
hàng hóa đủ điều kiện cho việc xuất khẩu. Ta có sơ đồ tập trung hàng xuất
khẩu như sau:
Nhu cầu hàng xuất khẩu
Nhận dạng và phân loại nguồn hàng XK
Nghiên cứu khái quát và chi tiết nguồn hàng XK
Lựa chọn nguồn hàng XK và hình thức giao dịch
(Sơ đồ: Quá trình tập trung hàng XK)
TrÇn ThÞ Quúnh Nga Líp: TMQT 46
Tổ chức hệ thống tập trung hàng XK

Trích đoạn Kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Kết quả xuất khẩu cà phờ trong 3 năm gần đõy Chuẩn bị và kiểm tra hàng xuất khẩu Thuờ phương tiện vận tả Làm thủ tục thanh toỏn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status