Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến và thay
đổi to lớn, từ nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu sang nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần phát triển năng động, tăng trưởng nhanh và ngày càng
hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế,
đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng ngày càng
được nâng cao. Những năm qua nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khích
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam. Việt Nam đã trở
thành thị trường hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Chính vì vậy mà
có rất nhiều nhà đầu tư lớn đầu tư vào thị trường Việt Nam và đã tạo ra một thị
trường sôi động, cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, trong những năm qua
các doanh nghiệp trong nước đã tìm ra được hướng đi đúng đắn của mình và
ngày càng khẳng định được uy tín, vị thế trên thị trường. Nhưng bên cạnh những
thuận lợi mà thị trường mang lại, thì cũng có nhiều khó khăn, thách thức mà các
doanh nghiệp phải đương đầu, cạnh tranh với các công ty nước ngoài, các tập
đoàn bán lẻ trên thế giới.
Cũng như các công ty trong nước khác, công ty TNHH thương mại Tuấn
Minh là công ty kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hóa tiêu dùng trên thị
trường Hà Nội và khu vực miền Bắc. Hoạt động phân phối của công ty là quá
trình thực hiện giá trị của hàng hóa, quá trình chuyển hóa hình thái giá trị của
hàng hóa từ hàng sang tiền và là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh. Do đó hoạt động phân phối sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của công ty. Nhận thức được vai trò của hoạt động phân
phối những năm qua công ty đã áp dụng nhiều phương thức kinh doanh linh
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hoạt, đặc biệt tăng chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh và kết quả đem
lại hết sức khả quan. Nhưng cùng với sự phát triển, không chỉ có công ty mà các
đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.2. Hiệu quả kinh doanh và phân loại hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất kinh
doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất có thể, hiệu quả phải gắn liền
với thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp (trích từ giáo trình kinh tế
thương mại).
1.1.2.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh
* Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội
+ Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Biểu hiện của hiệu quả kinh tế cá biệt đó là doanh
thu từ các hoạt động kinh doanh và lợi nhuận thu về sau những đợt kinh doanh
của doanh nghiệp.
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
+ Hiệu quả kinh tế - xã hội: Thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh
của từng doanh nghiệp đã trực tiếp đóng góp vào nền kinh tế quốc dân như:
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tích lũy ngoại tệ, giải quyết việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân, tăng nguồn thu ngân sách … vì vậy mỗi doanh nghiệp khi tham
gia vào hoạt động kinh doanh thì không những đặt vấn đề hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp mà còn phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế của xã hội mà doanh
nghiệp mang lại.
+ Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp luôn đặt vấn đề hiệu quả lên hàng đầu. Việc kinh doanh của doanh nghiệp
có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh và mở rộng quy mô
kinh doanh. Ngược lại việc kinh doanh của doanh nghiệp không mang lại hiệu
quả thì dẫn đến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và có thể bị phá sản nếu doanh
bằng giữa lượng tiền phải trả với hàng hóa nhận được tương ứng. Đối với các
doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh để đạt được hiệu quả cao thì các
doanh nghiệp cần phải quan tâm tính toán cụ thể chi tiết từng loại chi phí như:
chi phí đầu vào, chi phí quản lý, chi phí lưu thông hàng hóa và các khoản chi phí
khác. Vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải đánh
giá hiệu quả tổng hợp các loại chi phí và đánh giá hiệu quả từng chi phí trên cơ
sở các định mức, dự tính đã đặt ra. Từ đó có những phương hướng, biện pháp
làm giảm chi phí kinh doanh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại cần phân tích đánh giá và có các biện pháp làm giảm chi phí lưu
thông trong kinh doanh sao cho có hiệu quả. Việc phân tích và có các biện pháp
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
làm giảm chi phí trong kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng lợi nhuận và
kinh doanh có hiệu quả.
* Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh.
Đối với các doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều đặt ra những mục
tiêu khác nhau và trong kinh doanh thương mại mục tiêu là tạo ra lợi nhuận cao.
Nhưng đối với từng doanh nghiệp đều có mục tiêu cụ thể, gần gũi nhất, có khả
năng thực hiện nhất, có thể thực hiện trên cơ sở nguồn lực hiện có của doanh
nghiệp và các nguồn lực của doanh nghiệp cần được sử dụng sao cho hiệu quả
đạt được mục tiêu đã đề ra. Do đó để kinh doanh đạt hiệu quả cao các doanh
nghiệp cần tiến hành xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và đánh giá hiệu quả
kinh doanh từ đó tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất, tối ưu nhất trên
cơ sở chi phí và lợi nhuận của các phương án.
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án
cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Hiệu quả
tuyệt đối được xác định thông qua chi phí bỏ ra để thực hiện một thương vụ và
lượng chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích gì, mục tiêu cụ thể sẽ đạt được
trong thương vụ đó. Do đó trong hoạt động hạch toán quản lý kinh doanh, bất kỳ
khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội được tiền tệ hóa,
với những đặc trưng vốn có như: mọi hoạt động mua bán theo giá cả thị trường,
sản xuất và bán hàng hóa theo nhu cầu của thị trường, cạnh tranh là môi trường
của kinh tế thị trường, quyền tự do, quyền tự chủ của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp đều có quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh trên thị trường,
Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
để các doanh nghiệp tự do kinh doanh. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường được xem như một cá thể trong một quần thể, cá thể nào yếu kém sẽ bị
đào thải ra khỏi quần thể. Vì vậy việc kinh doanh có hiệu quả hay không sẽ
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy
buộc các doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh phải tính đến hiệu quả kinh
doanh cụ thể. Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp, thể hiện ở những mặt sau:
+ Nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp cho doanh nghiệp tồn tại, đứng
vững trên thị trường, có đủ điều kiện phát triển và mở rộng quy mô kinh doanh.
Đứng vững và tồn tại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt là vấn đề
hàng đầu đối với mỗi doanh nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này thì các
doanh nghiệp phải đảm bảo doanh thu bù được chi phí bỏ ra trong quá trình kinh
doanh. Do đó trong quá trình kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải xây dựng các
chiến lược và các phương án kinh doanh hợp lý nhất. Khi đã đảm bảo được mục
tiêu trên thì doanh nghiệp mới tính toán đến vấn đề phát triển thị trường, mở
rộng quy mô kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
+ Nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nâng cao được
khả năng cạnh tranh trên thị trường, là nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp ứng
dụng các kiến thức kinh doanh tiên tiến và là nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp áp
dụng trình độ khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kinh doanh trên thị trường là sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh
cầu mua các sản phẩm đó. Vì vậy có thể nói thị trường là cầu nối giữa doanh
nghiệp và khách hàng, sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
trường thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi, ngược lại doanh
nghiệp sẽ bị thị trường đào thải.
Quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật tất yếu của thị trường.
Nếu doanh nghiệp có đủ điều kiện cạnh tranh, có chiến lược kinh doanh hợp lý,
có sản phẩm có chất lượng tốt phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng thì
doanh nghiệp sẽ tồn tại, đứng vững và phát triển. Ngược lại doanh nghiệp nào
làm ăn yếu kém sẽ bị đào thải. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm kiếm và nghiên
cứu nhu cầu thị trường từ đó xây dựng các chiến lược và phương thức kinh
doanh cụ thể, hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
• Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu thị trường đối với mỗi doanh
nghiệp:
Doanh nghiệp là một tác nhân trên thị trường. Để doanh nghiệp tồn tại và
đứng vững trên thị trường thì cần phải nghiên cứu nhu cầu của thị trường.
Nghiên cứu thị trường là cơ sở để các doanh nghiệp xây dựng, hoạch định các
chiến lược kinh doanh và tiến hành các kế hoạch, chương trình kinh doanh cụ thể
hợp lý đối với thị trường đó.
Thị trường luôn luôn biến động không ngừng. Vì vậy vấn đề nghiên cứu
thị trường kinh doanh là vấn đề quan trọng, thiết thực mà mỗi doanh nghiệp đều
phải làm. Thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ xác định
được nhóm sản phẩm kinh doanh, đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp hướng
tới, địa bàn kinh doanh, phương thức kinh doanh và cách thức thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng một cách tốt nhất. Đồng thời doanh nghiệp cũng làm chủ được
hoạt động kinh doanh của mình, làm chủ các bất biến của thị trường từ đó kinh
doanh có hiệu quả hơn. Với các thông tin đầy đủ sau khi nghiên cứu thị trường
sẽ giúp cho doanh nghiệp có được cái nhìn khái quát về thực trạng thị trường
đến vấn đề cung cấp các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trên
cơ sở đó sẽ xác định được số lượng cung trên thị trường và doanh nghiệp có thể
cung cấp cho thị trường số lượng như thế nào. Từ đó sẽ có điều chỉnh hợp lý về
vốn, vật tư đầu vào, nhân lực hợp lý cho doanh nghiệp.
- Nghiên cứu giá cả thị trường, các chính sách của nhà nước về mặt hàng
kinh doanh và các đối thủ cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp.
Nghiên cứu giá cả thị trường của các sản phẩm kinh doanh của doanh
nghiệp là rất quan trọng vì thông qua giá cả doanh nghiệp sẽ tính toán đến chi
phí để sản xuất ra sản phẩm và xem xét xem với mức chi phí sản xuất so với giá
thị trường thì kinh doanh có mang lại hiệu quả hay không. Trên cơ sở đó doanh
nghiệp sẽ có cách điều chỉnh chi phí và xây dựng giá thành sản phẩm phù hợp
với thị trường. Cùng với vấn đề giá cả thị trường một vấn đề mà doanh nghiệp
quan tâm đó là các quy định của pháp luật về các măt hàng cấm kinh doanh và
hạn chế kinh doanh và các chính sách của nhà nước như vốn vay, thuế, lãi suất
sẽ có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi kinh doanh trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ trực tiếp cạnh tranh với
cá doanh nghiệp khác.Vì vậy khi tiến hành nghiên cứu thị trường các doanh
nghiệp luôn luôn quan tâm nghiên cứu các đối thủ canh trạnh để tìm ra điểm
mạnh, điểm yếu của đối thủ, chất lượng sản phẩm đang cạnh tranh trực tiếp với
sản phẩm của doanh nghiệp, và mức độ cạnh tranh trên thị trường của các đối
thủ là như thế nào. Trên cơ sở đó doanh nghiệp đề ra các chiến lược cạnh tranh
hợp lý và có các chính sách thu hút khách hàng về phía doanh nghiệp.
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.4.2. Xác định sản phẩm và khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới.
* Sản phẩm của doanh nghiệp và định hướng phát triển sản phẩm
- Sản phẩm của doanh nghiệp
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra và bán trên thị
trường là nhiệm vụ quan trọng. Việc mô tả đúng sản phẩm có ảnh hướng lớn đến
hơn, giúp cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển và mở rộng quy mô sản xuất.
Đối với các doanh nghiệp thương mại thì định hướng phát triển sản phẩm
theo hướng: các doanh nghiệp tích cực tìm kiếm các sản phẩm có chất lượng của
các nhà cung cấp, đầu tư để danh mục hàng hóa kinh doanh phong phú đa dạng
đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng đồng thời phát triển các yếu tố dịch vụ
đi kèm sản phẩm. Thực chất của hoạt động này là doanh nghiệp hoàn thiện các
dịch vụ đi kèm sản phẩm như: tư vấn cho khách hàng khi mua sản phẩm, vận
chuyển tận nơi cho khách hàng mua nhiều, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng, thay
thế khi hư hỏng…, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong thanh toán…
Bằng cách này doanh nghiệp vừa tạo dựng được hình ảnh và quảng bá hình ảnh,
vừa tiêu thụ được nhiều hàng hơn và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
* Khách hàng và đối tượng khách hàng doanh nghiệp hướng tới
Khách hàng là cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu về hàng
hóa và có khả năng thanh toán các loại hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp mà
chưa được đáp ứng và mong được đáp ứng nhu cầu.
Doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều xác định thị trường mục tiêu
và đối tượng khách hàng sẽ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Khách hàng
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
khi đi mua hàng thì họ chỉ mua những gì họ cần chứ không mua những gì doanh
nghiệp bán. Khi nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sẽ xác định được nhu cầu
về hàng hóa dịch vụ, giá cả, chất lượng, phương thức thanh toán mà khách hàng
mong muốn từ đó doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn.
Đối với từng loại khách hàng khác nhau thì doanh nghiệp sẽ có chiến lược kinh
doanh cụ thể, khi nghiên cứu các doanh nghiệp cần xác định đặc tính và cách
thức tiêu dùng cụ thể của từng nhóm khách hàng vì mỗi nhóm khách hàng sẽ có
một cách thức tiêu dùng riêng.
1.1.4.3. Xây dựng kênh phân phối và hệ thống phân phối hàng hóa:
Kênh phân phối là một tập hợp có hệ thống các phần tử tham gia vào quá
bán hàng trực tiếp cho khách hàng mà không qua khâu trung gian. Dạng kênh
phân phối này có những ưu nhược điểm như sau:
Ưu điểm: giảm được chi phí trung gian trong khâu bán hàng, doanh
nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nắm bắt được nhu cầu của
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
16
Doanh nghiệp
Đại lý
Lực lượng bán
hàng của DN
Khách hàng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
khách hàng và biết được thông tin phản hồi từ khách hàng về sản phẩm của
doanh nghiệp để có các điều chỉnh hợp lý.
Nhược điểm của dạng kênh phân phối này là: tốn rất nhiều chi phí trong
khâu bán hàng, không chuyên môn hóa lực lượng bán hàng, nó chỉ phù hợp với
các doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ không có điều kiện để thiết lập hệ thống kênh
phân phối riêng của mình.
+ Kênh phân phối gián tiếp:
Sơ đồ 2: Mô hình kênh phân phối gián tiếp
Kênh phân phối gián tiếp là hình thức phân phối doanh nghiệp không bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng mà bán cho trung gian, sau đó từ trung gian
bán cho người tiêu dùng. Dạng kênh phân phối này có ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm: doanh nghiệp có thể giảm được các đầu mối quan hệ và chỉ tập
trung vào vấn đề chuyên môn, tiết kiệm được chi phí bán hàng.
Nhược điểm: thiếu thông tin phản hồi từ phía khách hàng, giá cả của sản
phẩm thường cao hơn nhiều khi qua trung gian.
+ Kênh phân phối hỗn hợp:
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
17
hàng của DN
Khách
hàng
Người mua
trung gian
Khách
hàng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.4.4. Xác định hình thức và phương thức bán hàng:
Bán hàng là sự chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa từ hàng sang tiền
H- T. Bán hàng là khâu cơ bản quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, nó là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, có vai trò to lớn đối với nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng.
Hàng hóa được bán khi khách hàng chấp nhận thanh toán.
Đối với doanh nghiệp bán hàng có vai trò đó là:
+ Giúp cho doanh nghiệp thu hồi được vốn kinh doanh tức là doanh nghiệp hoàn
thành vòng chu chuyển vốn và nó cũng có vai trò quyết định đến hoạt động sản
xuất kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp, nếu khách hàng không chấp
nhận sản phẩm của doanh nghiệp dẫn đến ứ đọng vốn và kinh doanh thua lỗ.
+ Bán hàng là cơ sở để doanh nghiệp quyết định mở rộng hoặc thu hẹp quy mô
sản xuất kinh doanh. Khi nhu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa của doanh
nghiệp tăng lên thì buộc các doanh nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất để đáp
ứng nhu cầu đó, ngược lại doanh nghiệp phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh
doanh.
+ Bán hàng giúp cho doanh nghiệp có điều kiện nắm bắt thị hiếu khách hàng và
có đầy đủ thông tin phản hồi từ phía người tiêu dùng để có những điều chỉnh hợp
lý phù hợp.
+ Bán hàng giúp cho doanh nghiệp thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa,
phục vụ nhu cầu người tiêu dùng, đảm bảo cân đối cung cầu, góp phần ổn định
giá thị trường. Bán hàng cũng giúp cho doanh nghiệp quảng bá hình ảnh và
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Thực chất của hoạt động xúc tiến là hướng tới công việc bán hàng được
hiệu quả hơn và thông qua đó cung cấp cho khách hàng các thông tin đầy đủ về
sản phẩm, tạo sự khác biệt giữa sản phẩm của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh
tranh. Xúc tiến là công cụ cạnh tranh để lôi kéo khách hàng, mở rộng thị trường,
phát triển hoạt động kinh doanh.
Khái niệm xúc tiến bán hàng: xúc tiến bán là những kỹ thuật đặc thù gây
ra một sự bán hàng tăng lên nhanh chóng nhưng tạm thời do việc cung ứng một
lợi ích ngoại lệ cho người phân phối, người tiêu dùng cuối cùng (trích giáo trình
quản trị doanh nghiệp thương mại).
- Quá trình xúc tiến bán hàng được thực hiện trình tự như sau:
+ Thứ nhất: Doanh nghiệp phải xác định mục tiêu của chương trình xúc
tiến và dự trù ngân sách cho chương trình xúc tiến.
+ Thứ hai: tính toán chi tiết về hiệu quả của quá trình xúc tiến mang lại và
lựa chọn kỹ thuật, thời gian tiến hành xúc tiến.
+ Thứ ba: tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả và có điều chỉnh hợp lý.
- Nội dung của chương trình xúc tiến bán hàng:
+ Trước tiên thực hiện và xây dựng mối quan hệ với công chúng thông
qua việc tổ chức các hội nghị, hội thảo.
+ Tiến hành in ấn tài liệu và bán thử sản phẩm.
Các chương trình hỗ trợ sau bán hàng của doanh nghiệp: việc thực hiện
các chương trình này là rất quan trọng vì đây chính là sự thể hiện sự quan tâm
của doanh nghiệp đối với khách hàng về sản phẩm. Từ đó khách hàng sẽ yên
tâm, tin tưởng khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp và sẽ quay lại mua hàng
khi có nhu cầu. Vì vậy việc thực hiện chương trình này sẽ làm thay đổi hình ảnh
của doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp có thể thực hiện các chương
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Thông qua lợi nhuận này doanh nghiệp sẽ
quyết định nên mở rộng hay thu hẹp kinh doanh và là điều kiện để doanh nghiệp
khuyến khích lợi ích vật chất cho công nhân. Lợi nhuận của doanh nghiệp thu từ
các nguồn khác nhau như: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn, lợi
nhuận từ hoạt động tài chính, lợi nhuận bất thường.
1.2.2.2. Mức doanh lợi trên vốn kinh doanh:
Mức doanh lợi trên vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số đồng lợi nhuận
doanh nghiệp thu được khi bỏ ra một đồng vốn kinh doanh. Mức doanh lợi trên
vốn kinh doanh được xác định theo công thức sau:
P
P’2= * 100%
VKD
Trong đó:
P’2: mức doanh lợi của vốn kinh doanh trong kỳ (%)
VKD: tổng vốn kinh doanh trong kỳ
P: lợi nhuận thu được trong kỳ
Mức doanh lợi trên vốn kinh doanh là chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.2.3. Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh:
Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh là chỉ tiêu khi doanh nghiệp bỏ ra
một đồng chi phí kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
P
P’3= * 100%
CPKD
Trong đó:
P’3: mức doanh lợi của chi phí kinh doanh trong kỳ (%)
CPKD: tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
Pi: giá một đơn vị hàng hóa thứ i hay dịch vụ thứ i
Qi: khối lượng hàng hóa hay dịch vụ thứ i được bán ra trong kỳ
n: loại hàng hóa dịch vụ
• Chi phí:
TC = Σ fi
Trong đó:
TC: tổng chi phí kinh doanh trong kỳ
fi: chi phí thứ i trong kỳ
n: số chi phí phát sinh trong kỳ
• Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ
DT
CPh¹m Xu©n ChiÕn Líp: Th¬ng M¹i 46A
25