Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã và đang trở thành một sân chơi cho
tất cả các quốc gia, của hầu hết các nền kinh tế. Những cơ hội được mở ra
nhưng đồng thời cũng không ít những thách thức sẽ đến đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, khi hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính
thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Xuất khẩu là một hoạt động cực kì quan trọng đối với mỗi quốc gia, nó
cho phép các quốc gia ấy có thể khai thác được những lợi thế vốn có của
mình, tạo nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế. Đối với Việt Nam, hoạt động
xuất khẩu là quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp và phát triển
kinh tế, là tiền đề vững chắc để Việt Nam tiến lên trở thành nước công
nghiệp. Trong những báo cáo của Đảng đã khẳng định tầm quan trọng của
hoạt động xuất khẩu và có thể coi là một trong ba chương trình kinh tế lớn
cần thực hiện trong thời gian tới vì có đẩy mạnh xuất khẩu và mở cửa kinh tế
Việt Nam mới có thể thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế được.
Hoà chung xu thế hội nhập kinh tế xuất khẩu nói chung và xuất khẩu
ngành giầy – dép nói riêng, đã thực sự khẳng định vai trò của mình trong việc
phát triển kinh tế đất nước. Giầy – dép là một trong chín mặt hàng xuất khẩu
chủ đạo của nước ta. Trong thời gian qua đã, gặp không ít những khó khăn,
thử thách trước yêu cầu của bạn hàng, người tiêu dùng tuy nhiên, các doanh
nghiệp sản xuất giầy Việt Nam đã không ngừng nỗ lực khẳng định vai trò của
mình vươn lên cùng các ngành khác. Đến với công ty giầy Thượng Đình,công
ty cũng đã có những bước tiến nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình. Tốc độ kim ngạch xuất khẩu của công ty trong thời gian qua đã cho
thấy xu hướng thâm nhập vào thị trường quốc tế đang từng bước đẩy mạnh và
phát triển.
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em thật may mắn khi được thực tập tại công ty giầy Thượng Đình. Sau
Xuất khẩu là gì? Xuất khẩu là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ
cho nước ngoài để thu hút ngoại tệ trên cơ sở buôn bán theo thị
trường.
Khi một nền kinh tế phát triển điều đó có nghĩa là việc trao đổi hàng
hóa giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng và xuất khẩu chính là hoạt
động cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nó đã được xuất hiện từ lâu đã và
đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Hình thức đầu tiên đó chính là hoạt động
trao đổi giữa các quốc gia và đến nay, nó đã được mở rộng thành nhiều hình
thức khác nhau sao cho phù hợp với tình hình phát triển nhu cầu thị trường
của nền kinh tế, nó không chỉ là hoạt động trao đổi giữa các quốc gia mà mở
rộng ở phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành của nền kinh tế.
Các loại giầy – dép xuất khẩu
Giầy cao cổ bộ đội, giầy basket phục vụ thể thao, giầy bata, giầy nam,
nữ và giầy thể thao với các size khác nhau phù hợp với từng độ tuổi. Ngoài ra
trên thị trường hiện nay đã có mặt các sản phẩm giầy vải thể thao thời trang
của công ty giầy Thượng Đình với mẫu sắc đa dạng, kiểu dáng phong phú
như TD-07,FE-35, ATG-01...Từ những năm 1999 trở về đây, dường như sản
phẩm giầy đóng vai trò quan trọng nữa là giầy thể thao như: GTS, BLACK,
FEIT, MIT,SUPERGA. Các loại dép: dép saldan, dép đi trong nhà, …
Xu hướng giầy dép năm nay chuộng loại xăngđan có nhiều chi tiết trang trí,
đặc biệt là giày nữ. Riêng giày nam đang chuyển sang gu dùng màu da bò. Các
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
loại giày mũi nhọn đã không còn thịnh, thay vào đó là dạng mũi tròn bầu. Chất
liệu simili giả da, thuộc loại hai, da phủ PU đều được “ lên” ở giày Trung Quốc.
1.1.1 Xuất khẩu giầy thúc đẩy ngành công nghiệp nhẹ phát triển
Trên cơ sở của sự ra đời phân công lao động quốc tế và lợi thế so sánh
của David Ricardo, hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu
giầy nói riêng đã và đang trở nên cần thiết của các doanh nghiệp của các quốc
giầy với trị giá 39.93 triệu đôi tăng 11.8 % về số lượng và tăng 11.2 % về trị
giá so năm 2006 so các chỉ tiêu đã đề ra, xuất khẩu giầy của cả nước năm
2007đạt 99.83 %
1.1.2 Xuất khẩu giầy nâng cao khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm giầy của Việt Nam
Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
tăng cao từ 7-8%, năm 2006 tốc độ tăng trưởng đạt 8.5%. Theo dự báo kinh
tế, tốc độ này vẫn còn tiếp tục tăng lên và hàng hóa sản xuất ra ngày càng
nhiều hơn, đặc biệt khi hiện nay Việt Nam là thành viên của tổ chức thương
mại thế giới (WTO), tham gia nhiều vào các hiệp hội, tổ chức trong khu vực
và thế giới. Hiện nay số lượng các doanh nghiệp Việt Nam tăng lên đáng kể,
các công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty TNHH…và như vậy, số
lượng các công ty sản xuất giầy dép cũng tăng lên đáng kể cả về quy mô và
tốc độ phát triển kéo theo số lượng sản phẩm giầy dép tăng cao. Vấn đề đặt ra
lúc này là tìm kiếm thị trường tiêu thụ không chỉ thị trường trong nước mà cả
thị trường thế giới. Thời gian qua cho thấy chúng ta đã thành công trong việc
tiêu thụ sản phẩm giầy cả thị trường nội địa lẫn thị trường quốc tế, từ năm
1993 trở lại đây kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng lên qua các năm. Hiện nay,
ngành giầy - dép Việt Nam đang đứng trong top 10 nước và vùng lãnh thổ
xuất khẩu hàng đầu vào thị trường 25 nước. Trong đó thị trường EU, Mỹ vẫn
là hai thị trường nhập khẩu giầy dép chủ yếu của Việt Nam.
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thị trường EU là thị trường nhập khẩu giầy dép của Việt nam lớn thứ 2
trên thế giới sau Hoa Kỳ và được coi là thị trường trọng điểm của nước ta.
Nhu cầu nhập khẩu giầy dép những năm gần đây liên tục tăng khoảng trên 29
tỷ USD/năm. Tháng 12/2007, Việt Nam xuất khẩu giầy dép tới 106 thị trường
kim ngạch xuất khẩu giầy dép tới các thị trường như EU, Mỹ, Mexico…và
các thị trường khác đều tăng so với tháng 12/2006 và tháng 11/2007.
động xuất nhập khẩu hiện không chỉ là một yếu tố khách quan mà còn là nhu
cầu tất yếu cần thiết của mỗi quốc gia. Các mối quan hệ ngày nay không chỉ
đơn thuần là hợp tác mà là đều có tính chất ràng buộc nhất định là đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sản phẩm giầy nói riêng, có vai
trò quan trọng trong sự hợp tác quốc tế với các nước mà còn nâng cao vị thế
cạnh tranh của mỗi quốc gia trên trường thế giới. Hoạt động xuất khẩu giầy
dép của Việt Nam đã đưa Việt Nam nhanh chóng hòa cùng vào thị trường thế
giới. Sau cuộc cánh mạng công nghiệp tại Anh, cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật đã thay đổi mạnh mẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình
công nghiệp hóa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, của nền kinh tế và
của kinh tế Việt Nam
Xuất khẩu giầy dép tạo cơ hội thuận lợi cho Việt Nam phát triển nhanh
không chỉ với ngành nói riêng mà các ngành khác nói chung như dệt may, dầu
thô, chế biến…góp chung vào sự phát triển của cả nền kinh tế của cả nước
trong tiến trình hội nhập. Ngành Da – Giầy Việt Nam đã và đang tiếp tục và
tăng cường mở rộng mối quan hệ kinh tế với các hiệp hội chuyên ngành kinh
tế trong khu vực và trên thế giới và phối hợp trao đổi các thông tin chuyên
ngành.
1.1.4 Xuất khẩu giầy tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng xuất khẩu thô sang xuất khẩu tinh
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam bao gồm: cao su, dầu thô,
gỗ….đang có xu hướng chuyển dịch sang xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế
biến như dệt may, giầy, hàng thủ công mỹ nghệ…Qua thực tế cho thấy rằng
sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn khi xuất khẩu sản phẩm thay vì xuất khẩu
nguyên vật liệu theo Adam Smith”. Điều gì là thận trọng trong việc quản lý
một gia đình thì ít trở thành thiếu khôn ngoan trong cách điều hành vương
quốc lớn. Nếu nước ngoài có thể cung cấp cho chúng ta một hàng hóa mà
yếu tố sản xuất chiếm tỷ trọng cao trong kết cấu sản phẩm này so với nước
khác. Việt Nam là một quốc gia có lợi thế: dân số thuộc loại đông dân trên thế
giới, nguồn lao động dồi dào có tinh thần trách nhiệm với công việc chăm chỉ,
cần cù, thông minh và ham học hỏi, có tài nguyên rừng vàng biển bạc, đất đai
màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng và cây cao su là một trong số đó.
Cao su là một nguồn nguyên liệu không thể thiếu để sản xuất giày. Như vậy,
hoạt động sản xuất, xuất khẩu giầy cần một lực lượng lao động lớn, lượng cao
su dồi dào để sản xuất đế giầy và đây là lợi thế của chúng ta vì vậy tận dụng
những lợi thể đó bằng việc sản xuất giầy là hoàn toàn tất yếu cho một nước
đang phát triển như nước ta.
1.1.6 Xuất khẩu giầy tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn
việc làm cho người lao độngViệt Nam
Có hai lí do khiến ngành sản xuất giầy lại tận dụng được nguồn lao
động vốn có như vậy là:
Thứ nhất: Để sản xuất được sản phẩm giầy phải trải qua nhiều công
đoạn, nhiều công việc nhỏ, là cơ sở để đào tạo, bố trí từng người lao động cụ
thể vào việc thao tác cho việc chuyên môn hóa. Mặt khác, do chính sản xuất
giầy được chia thành nhiều công đoạn, không thể tự động hóa nên quá trình
sản xuất giầy đòi hỏi nhiều lao động. Đồng thời, các công đoạn này lại không
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cần trình độ cao vì vậy lao động phổ thông chỉ cần đào tạo trong thời gian
ngắn cũng có thể đáp ứng được công việc.
Thứ hai: Nếu như trước đây giầy - dép chỉ được hiểu là việc bảo vệ đôi
chân đáp ứng nhu cầu bảo vệ thì ngày nay, do công nghệ phát triển, nhu cầu của
con người không chỉ sử dụng nó để bảo vệ đôi chân mà con là nhu cầu thời trang
giầy dép cần được đáp ứng cung bậc cao hơn. Nó được sử dụng rộng rãi và
thường xuyên trong mọi lúc mọi nơi với đủ mẫu mã đa dạng, phong phú. Như
vậy, số lượng sản phẩm giầy được yêu cầu ngày càng được cao hơn.
- Nghiên cứu tại bàn (nguồn thông tin thứ cấp)
Quá trình thu thập thông tin hiện có trong công ty hay thu thập các
nguồn bên ngoài được gọi nghiên cứu thị trường từ các nguồn thông tin thứ
cấp. Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được công bố như tin tức và tài
liệu thương mại, tạp chí, sách báo…các công ty có thể sử dụng tư vấn về môi
trường kinh doanh ở một quốc gia nào đó. Việc lựa chọn nguồn thông tin nào
tùy thuộc vào mặt hàng và phụ thuộc vào các quốc gia mà công ty dự định
thâm nhập. Quá trình thu thập thông tin đã được phát hành và được công bố.
Các nhà kinh doanh thường dựa vào nguồn thông tin thứ cấp này để đánh giá
tổng quan về nhu cầu sản phẩm và môi trường kinh doanh của nước đó.
Những tổ chức quốc tế là những nguồn thông tin cung cấp thông tin rất chính
xác và miễn phí về nhu cầu đối với một sản phẩm của từng quốc gia như các
tổ chức: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế, trung tâm thương mại
quốc tế (ITC), ngân hàng phát triển châu A (ADB), Hội đồng kinh tế xã hội
Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP), Cơ quan thống kê của liên hợp quốc
(UNSO)….
- Nghiên cứu tại hiện trường (nguồn thông tin sơ cấp)
Mặc dù các thông tin thứ cấp là rất thông dụng và hữu ích trong các
giai đoạn đầu của quá trình điều tra nhưng thông tin chính xác về địa phương
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là rất cần thiết. Nghiên cứu thị trường sơ cấp là quá trình là quá trình thu thập
và phân tích các thông tin ban đầu và áp dụng kết quả vào nghiên cứu hiện tại.
Việc nghiên cứu này có tác dụng trong việc bổ sung những thông tin thứ cấp
hay gọi là nghiên cứu hiện trường. Nghiên cứu tại hiện trường là phương pháp
quan trọng trong nghiên cứu thị trường, về mặt trình tự nghiên cứu hiện
trường có thể thực hiện chỉ nghiên cứu thị trường sau khi phân tích, đánh giá
những kết quả phân tích tại bàn tức là khi đã xử lí thông tin. Nghiên cứu tại
hiện trường chủ yếu thu thập thông tin trực tiếp và qua các giao tiếp với
kinh doanh xuất khẩu phù hợp.
Và để đạt được đồng thời cả hai mục tiêu trên các nhà kinh doanh xuất
khẩu phải sử dụng phương pháp lựa chọn thị trường thích hợp. Phương pháp
lựa chọn thị trường thích hợp này bao gồm 3 bước cơ bản:
Bước 1: Xác định cơ hội kinh doanh
- Sự phù hợp của môi trường kinh doanh, những quy định và hạn chế
tuyệt đối của chính phủ
- Tiếp cận nguồn nguyên liệu, lao động, tài trợ
Bước 2: Phân tích môi trường kinh doanh quốc gia
- Ngôn ngữ, thái độ, niềm tin, truyền thống và đạo đức
- Quy định của chính phủ, bộ phận hành chính, sự ổn định của chính
trị
- Các chính sách tài khóa và tiền tệ
- Chi phí vận chuyển nguyên vật liệu
Bước 3: Đánh giá và lựa chọn thị trường
- Doanh thu hiện tại, độ co giãn thu nhập, chỉ số thị trường tiềm năng
- Chất lượng nguồn lao động, nguyên vật liệu
- Khả năng cạnh tranh
- Lựa chọn đối tác xuất khẩu
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu phân theo mối quan hệ kinh tế có thể chia doanh nghiệp xuất khẩu
có ba loại đối tác và doanh nghiệp có thể lựa chọn bất cứ đối tác nào dưới
đây:
- Đối tác truyền thống là những bạn hàng nhập khẩu lâu năm của doanh
nghiệp, họ là những khách hàng thường xuyên với số lượng lớn và luôn ổn
định
- Đối tác mới là những bạn hàng mới bắt đầu nhập khẩu của công ty
- Đối tác không thường xuyên là bạn hàng không nhập khẩu thường
thứ nhất nhưng nhà máy phải tự mua vật tư và thanh toán tiền vật tư.
Ba là, sản xuất theo doanh nghiệp gọi hiện nay là hàng FOB, có 2
phương thức khác nhau, thứ nhất là xuất hàng FOB, sản xuất cho các thương
hiệu nước ngoài, tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu và thứ hai là sản phẩm mang
thương hiệu của chính doanh nghiệp đó nhưng phương thức này hiện nay thực
hiện được rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh.
Theo Hiệp hội da giầy Việt Nam, hiện nay mỗi doanh nghiệp muốn đáp
ứng nhu cầu thị trường thì phải có nhà máy lớn từ 12.000 đến 15.000 lao động
và chỉ với qui mô như thế mới có thể bù đắp được chi phí quản lý, cùng một
số kinh phí khác đáp ứng nhu cầu các đơn hàng lớn từ các nước nhất là thị
trường Mỹ.
Tuy kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sang EU tăng nhanh,
chủ yếu xuất khẩu theo hình thức gia công (chiếm trên 70% kim ngạch) nên
hiệu quả thực tế rất nhỏ (25% - 30% tổng doanh thu xuất khẩu).
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một mặt ngành giầy không
nhận được hỗ trợ của ngành da và các ngành sản xuất nguyên phụ liệu; các
doanh nghiệp không nắm bắt được nhu cầu mẫu mã giầy dép là do khâu tiếp
cận thị trường yếu không quan hệ trực tiếp được với các nhà nhập khẩu EU vì
phụ thuộc vào người trung gian. Mặt khác, các doanh nghiệp chủ yếu làm gia
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công cho nước ngoài nên chưa quan tâm nhiều đến việc đa dạng hóa, nâng
cao chất lượng và cải tiến sản phẩm xuất khẩu, do đó chất lượng sản phẩm
giầy dép chưa cao, mẫu mã còn đơn điệu.
1.2.4 Đàm phán và kí kết hợp đồng xuất khẩu
- Các bước giao dịch và đàm phán
Bước 1: Hỏi giá
Về phương tiện pháp luật thì hỏi giá chính là lời thỉnh cầu giao dịch,
còn nếu xét về phương diện thương mại là việc người mua sẽ đề nghị người
cùng một lô hàng người bán có quyền chào hàng tự do cho nhiều khách hàng.
Trong loại chào hàng này, việc khách hàng chấp nhận hoàn toàn các điều kiện
của chào hàng tự do cũng không có nghĩa là hợp đồng đã được kí kết như
chào hàng cố định và người bán không có sự ràng buộc với người mua
Bước 3: Đặt hàng
Việc đặt hàng chỉ được diễn ra khi người mua đề nghị người bán kí kết
hợp đồng. Trong đặt hàng người mua có quyền yêu cầu người bán đáp ứng về
hàng hóa định mua và tất cá những nội dung cần thiết cho việc kí kết hợp
đồng gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng…
Bước 4: Hoàn giá
Hoàn giá là việc mặc cả hoặc các điều kiện giao dịch người mua nhận
được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó mà người mua đưa
ra một số đề nghị mới và lời đề nghị này là trả giá. Khi có sự trả giá thì chào
hàng trước đó coi như không tồn tại. Buôn bán quốc tế không phải chỉ thực
hiện một lần trả giá mà phải trải qua nhiều lần trả giá và hoàn giá chính là
nhiều lần trả giá
Bước 5: Chấp nhận
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chấp nhận là sự đồng ý mọi điều kiện của thư chào hàng mà một bên
đưa ra và hợp đồng đã được kí kết. Sự chấp nhận để có hiệu lực về mặt pháp
lí thì cần phải đảm bảo những điều kiện sau:
- Được người nhận giá chấp nhận
- Được sự đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của thư chào
hàng
- Tồn tại trong thời gian có hiệu lực của chào hàng
- Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra lời đề nghị
Bước 6: Xác nhận
Khi đã có sự thỏa thuận thống nhất giữa hai bên về điều kiện giao dịch
Hình 1.1: Quy trình đàm phán và kí kết hợp đồng xuất khẩu của công ty
giầy Thượng Đình
1.2.5 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu là công việc hết sức quan trọng
sau khi hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết. Khi thực hiện hợp đồng bên bán
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
19
Tiếp xúc với khách hàng
(1)
Lập đơn chào hàng (2)
Đàm phán với khách hàng
(3)
Làm giầy mẫu đế (4)
Kí kết hợp đồng (5)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và bên mua phảo hoàn thành các nghĩa vụ của mình đã được quy định trong
hợp đồng. Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ pháp luật quốc
gia và quốc tế đảm bảo được quyền lợi và uy tín kinh doanh của mỗi bên.
Đồng thời các bên phải thể hiện được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối
với các điều khoản mà hai bên đã thống nhất và ký kết
Bước 1: Xin giấy phép xuất khẩu
Xin giấy phép xuất khẩu là vấn đề quan trọng về mặt pháp lý, giúp cho
nhà kinh doanh có thể thông quan hàng hoá xuất khẩu. Trong những năm gần,
ở Việt Nam việc xin giầy phép xuất khẩu đang trở nên đơn giản nhằm đảm
bảo một hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu
của các doanh nghiệp. Trong hợp đồng xuất khẩu, người xuất khẩu sẽ là
người làm thủ tục xin giấy phép xuất khẩu. Giấy phép xuất khẩu chỉ cấp cho
một chủ hàng kinh doanh để xuất khẩu một hay một số mặt hàng sang một
nước nhất định, chuyên chở một phương thức vận tải và giao nhận tại một nơi
nhất định.
gồm những thông tincần có sau:
Thứ nhất: là những đấu hiệu cần thiết đối với người nhận hàng như: tên
người nhận, người gửi, trọng lượng….
Thứ hai: Là những chi tiết cần thiết cho việc vận chuyển như: tên cước,
tên địa điểm hàng đến, hành trình chuyên chở, vận đơn..
Thứ ba: Là những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp đặt, bốc dỡ và bảo
quản tránh trong trường hợp hư hỏng hàng hoá.
Bước 4: Thuê phương tiện vận tải
Hầu hết trong mua bán ngoại thương chuyên chở bằng đường biển. Tuỳ
theo thoả thuận giữa hai bên thì người xuất khẩu hay người nhập khẩu phải
thuê phương tiện vận tải. Với người xuất khẩu có thể lựa chọn một trong các
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phương thức thuê tàu sau: Phương thức thuê tàu chợ ( line), phương thức thuê
tàu chuyến (voyage), phương thức thuê tàu định hạn ( time charter)
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước 5: Mua bảo hiểm hàng hoá
Trong các hàng hoá xuất khẩu hầu hết vận chuyển bằng đường biển
phải mua bảo hiểm cho hàng hoá do thời gian vận chuyển lâu, trị giá cho mỗi
chuyến hàng lớn. Vì thế, bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ
biến nhất. Thủ tục bảo hiểm của hàng hoá xuất khẩu thường làm từng loại
một, khi mua bảo hiểm, người bảo hiểm ghi rõ tên hàng, tuyến đường vận
chuyển, phương tiện vận chuyển, ngày xuất phát, loại bảo hiểm…
Bước 6: Kiểm tra chất lượng hàng hoá
Trước khi giao hàng nhà xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng xuất
khẩu về số lượng, chất lượng, quy cách, phẩm chất…(kiểm nghiệm hàng xuất
khẩu). Kiểm tra hàng hoá xuất khẩu được thực hiện ở hai cấp cơ sở và ở cửa khẩu.
Trong thủ tục thanh toán quyết toán hợp đồng hợp đồng ngoại thương
có nhiều phương thức. Dưới đây là một trong những phương thức được
thường xuyên sử dụng
Thứ nhất: Phương thức thanh toán nhờ thu
Đây là phương thức mà người bán sau khi giao hàng sẽ lập hối phiếu
gửi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Phương thức này
gồm phương thức nhỏ là: phương thức nhờ thu trơn và phương thức nhờ thu
kèm chứng từ.
Tiến trình của phương thức này như sau: Nhà xuất khẩu (người bán)
sau khi giao hàng xuất trình cho ngân hàng mình những chứng từ được quy
định trong hợp đồng để gửi nhờ thu đồng thời nói rõ hình thức nhờ thu. Ngân
hàng phục vụ nhà nhập khẩu mời người mua đến thanh toán hoặc chấp nhận
bộ chứng từ như vậy ngân hàng đã báo cho nhà nhập khẩu biết đã nhận được
bộ chứng từ và để họ biết trước khi đồng ý thanh toán hối phiếu. Nếu ngân
hàng giao cho nhà nhập khẩu bộ chứng từ thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn
SV. Nguyễn Thị Hương Lớp: Thương mại 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mọi chi phí rủi ro. Nếu nhà nhập khẩu từ chối thanh toán hoặc ký chấp nhận
hối phiếu thì ngân hàng được uỷ nhiệm thu phải thanh toán trị giá hoá đơn
cho ngân hàng nhận nhờ thu. Bộ chứng từ vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà
xuất khẩu cho đến khi thực hiện thanh toán ký chấp nhận
Thứ hai: Phương thức thanh toán chuyển tiền
Là phương thức trong đó khách hàng là người mua ( nhà nhập khẩu)
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển số tiền cho người hưởng lợi ở một
địa điểm nhất định. Ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lí của mình ở
nước hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền. Dưới đây là quy trình
thực hiện thanh toán chuyển tiền
Thứ ba: Phương thức thanh toán tín dụng
Là một thoả thuận trong đó, một ngân hàng ( Ngân hàng mở thư L/C)