Luận văn
Tiểu thuyết của các nhà văn
nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX,
nhìn từ phê bình xã hội học
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
DẪN NHẬP 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Lịch sử vấn đề: 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 7
4. Phương pháp nghiên cứu: 8
5. Kết cấu khóa luận: 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Phê bình Xã hội học- quan niệm và phương pháp 10
1.1.1. Phê bình Xã hội học, các quan niệm chính 10
1.1.2. Phê bình Xã hội học, các phương pháp tiếp cận 12
1.1 Đặc điểm xã hội và đặc điểm văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX 14
1.1.1 Đặc điểm xã hội 14
1.1.2 Đặc điểm văn học 16
1.2 Nhà văn nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX- Một hiện tượng xã hội đáng chú ý 18
1.2.1 Những thức tỉnh buổi giao thời 18
1.2.2 Những đóa hoa vươn mình 19
CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XX: TỪ CẤU
TRÚC XÃ HỘI ĐẾN CẤU TRÚC Ý
NGHĨA 22
2.1 Đời sống Nam Bộ trong sự chuyển động từ truyền thống sang hiện đại 22
và những dịch chuyển khác nhau.
Mối quan hệ giữa xã hội và văn học đã được quan tâm ngay từ buổi đầu của
lí luận phê bình văn học. Tuy nhiên, từ thế kỉ XVIII trở về trước, vấn đề này
chưa được xem xét một cách hệ thống. Đến thế kỉ XIX, thuật ngữ “xã hội”
không chỉ được nhìn nhận trong tương quan với văn học mà đã trở thành một
hướng tiếp cận, một con đường để khám phá nghệ thuật. Trong những bước
phát triển khác nhau vào giai đoạn sau, có thể tạm chia xã hội học văn học
thành hai loại: xã hội học văn học vĩ mô và xã hội học văn học vi mô. Với xã
hội học văn học vĩ mô, văn học hiểu theo nghĩa rộng là một hoạt động xã hội.
Nó được đặt trong bối cảnh hiện thực lịch sử rộng lớn để phân tích, lí giải,
triển khai mối quan hệ cùng các hình thái hoạt động xã hội khác như kinh tế,
chính trị, tôn giáo; đồng thời, xác định vị trí, vai trò đặc thù trong toàn bộ đời
sống nói chung. Với xã hội học văn học vi mô, văn học được nhìn ở góc độ
tập trung hơn, tiếp cận không chỉ qua “từ khóa” xã hội mà còn dùng những
kiến thức và phương pháp xã hội học để nghiên cứu nó.
Phê bình xã hội học (tiếng Pháp: Sociocritique, tiếng Anh: Sociocriticism)
nằm trong một lĩnh vực chung, có tên là xã hội học về văn học. Nó kế thừa,
điều chỉnhvà phát triển một số nguyên tắc nền tảng của triết học Mác- xít.
Khái niệm “socio-critique” được Claude Duchet khai sinh năm 1971, khi ông
đề nghị một cách đọc lịch sử -xã hội về văn bản. Tuy nhiên, xoay quanh khái
niệm này còn nhiều tên gọi khác nhau: “phê bình xã hội học” (sociocritique),
“xã hội học về văn học” (sociologie de la littérature), “xã hội học về văn bản”
(sociologie du text).
Trước hết, cần có một sự phân biệt giữa “phê bình xã hội học”
(sociocritique) và “xã hội học về văn học” (sociologie de la littérature). Mặc
dù phát xuất cùng niềm tin nhưng về mức độ và phạm vi quan tâm, “xã hội
học về văn học” lại tập trung vào toàn bộ yếu tố liên quan tới văn học; trong
khi điều đó được khu biệt lại ở văn bản- đối với “phê bình xã hội học”. Mặt
khác, Pierre V.Zima cho rằng “phê bình xã hội học” (sociocritique) và “xã
hội học văn bản” (sociologie du text) là đồng nghĩa và ông đề xuất cách gọi
ngây thơ. Việc đọc phải được xác tín như một cuộc phiêu lưu nhằm khám phá
những khía cạnh còn tiềm ẩn trong tác phẩm.
Trên lí thuyết người đọc, tất cả độc giả đều thuộc về một xã hội và đều mang
tính xã hội. Xã hội vừa quy định việc đọc của họ, vừa mở ra cho họ những
không gian cắt nghĩa, vừa đưa họ đến con đường tự do và sáng tạo. Toàn bộ
độc giả là một cái tôi, đến từ những quan hệ họ hàng và hệ thống biểu tượng.
Những quan hệ này vừa quy định cái tôi ấy, vừa mở ra cho nó những không
gian tìm tòi và giải thích. Viết văn và làm nghệ thuật là một cách để khám
phá, biểu hiện tính xã hội- lịch sử, nhận thức sự tái diễn và đổi mới của đời
sống và thân phận con người.
Phê bình xã hội học đã tìm kiếm trong văn bản và trong văn hoá những thể
nghiệm và dấu vết của quá trình phát triển lịch sử nhân loại. Trên dòng chảy
lí thuyết ấy, nền tảng về một cách đọc mang đầy đủ tính chất và đặc điểm của
hoạt động nghiên cứu văn chương được hình thành. Nó thường xuyên lựa
chọn và cập nhật, tiến gần hơn với thời cuộc. Phê bình xã hội học hiện đại đã
vượt qua nhãn quan của phê bình xã hội học truyền thống, hoàn thiện một
phương pháp mà con người đã xác lập gọi là phương pháp đọc xã hội học.
Cụ thể hơn, đọc xã hội học là dấn mình vào chuỗi những hệ thống tổ chức từ
ngữ, diễn ngôn và ký hiệu luôn vận động. Người đọc có thể thông qua chúng
hoặc thâm nhập vào trong từng lớp kết cấu ấy. Việc thừa nhận sự tồn tại của
văn bản cũng như đánh giá cao các thành tố tạo nên tác phẩm là minh chứng
rõ nét cho các loại cấu trúc luôn tiềm tàng và ẩn sâu dưới lớp thường thấy.
Mặt khác, phê bình xã hội học tiến hành đồng thời việc đọc liên hình thức và
liên thể loại nhằm tìm kiếm một cách viết đa dạng, thường náu mình trong
những văn bản kinh điển.
1.1.2 Phê bình Xã hội học, các phương pháp tiếp cận:
Nguyên tắc chính trong việc đọc phê bình xã hội học là nắm bắt sự vận động:
vận động trong chiều kích ý nghĩa và vận động trong cả những mối quan hệ
tương tác giữa các cấu trúc với nhau. Sự mới mẻ là chìa khóa để bắt đầu con
đường chinh phục và khám phá mạch ngầm văn bản. Do đó, độc giả cần có ý
động…giữa hệ cấu trúc ý nghĩa với hệ cấu trúc xã hội đã tìm thấy (nhất quán
hay có một độ chênh nhất định).
Bước thứ năm, trình bày, phân tích về cách viết của tác giả bằng hệ cấu
trúc nghệ thuật thể hiện qua tác phẩmnhư là một sản phẩm mang tính xã hội-
lịch sử và nhận định, lý giải mối quan hệ thuận/ nghịch của nó với hệ cấu trúc
ý nghĩa và hệ cấu trúc xã hội đã nêu trên.
Bước cuối cùng là rút ra nhận định tổng quan về những gì đã khảo sát,
gồm những kết luận và những câu hỏi còn để ngỏ.
Nhìn chung, ý thức tiếp cận văn bản bằng phương pháp phê bình xã hội
học hiện đại đã xuất hiện từ thế kỉ XIX và những quan niệm về cách đọc này
cho đến nay vẫn tiếp tục được hoàn thiện. Việc xác lập một phương pháp
riêng chỉ mang tính tương đối dựa trên các nguyên tắc chung nhằm cụ thể
hơn phương tiện nghiên cứu.
*
CHƯƠNG 3: TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ ĐẦU
THẾ KỈ XX: NHỮNG CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT TƯƠNG ỨNG
Nếu mỗi cấu trúc xã hội vận động trong văn bản bằng từng cấu trúc ý
nghĩa là các thông điệp về mặt tư tưởng thì từ phương diện nối kết, nó cũng
có sự tương tác nhất định với cấu trúc nghệ thuật. Như những dòng chảy
cùng hòa ra biển lớn, mỗi loại cấu trúc là một hải lưu dịch chuyển theo từng
cách riêng, dù vậy, nó vẫn sóng sánh cùng nhau khi hướng đến cội nguồn
chung là chỉnh thể tác phẩm văn học. Nó tồn tại song song cùng cấu trúc tư
tưởng như lời lí giải cho câu hỏi vì sao và như thế nàonhững thông điệp này
có thể chuyển tải vào các cấp độ văn bản. Một cách cụ thể, trong tiểu thuyết
của các nhà văn nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, ngoài sự vận động từ cấu trúc xã
hội sang cấu trúc ý nghĩa còn có các cấu trúc nghệ thuật tương ứng được thể
hiện trên ba phương diện: cốt truyện, nhân vật, diễn ngôn.
3.1 Cấu trúc cốt truyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, được
mẹ động viên con trai gia nhập nghĩa binh (Tấm gương trung hiếu) hay phức
tạp và gay cấn qua nhiều sự kiện tiếp nối nhau (Nữ anh tài, Kiếp hoa thảm
sử). Dù vậy, các chi tiết, hoạt động của đời sống thường nhật luôn được đưa
vào tác phẩm in đậm dấu ấn văn hóa vùng miền. Hình ảnh những chiếc ghe
liền nhau đón dâu trong đám cưới, một cái nhà ngói ba căn vách ván cất theo
kiểu xưa, lũy tre bao quanh vườn cây ôm ấp bờ đê lối mòn đã đi vào tiểu
thuyết hết sức mộc mạc, chân phương.
Mặt khác, tương ứng với các cấu trúc ý nghĩa (thông điệp trong văn bản), cấu
trúc nghệ thuật mà cụ thể ở đây là cốt truyện cũng vận động theo quỹ đạo
chung của nó. Khi nói đến đời sống Nam Bộ trong sự chuyển động từ truyền
thống sang hiện đại, ta thấy xuất hiện những tình tiết bộc lộ rõ nét văn hóa
buổi giao thời. Đằng sau dấu ấn Tây phương, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng
dáng của yếu tố xưa cũ tồn tại song song cùng sự mới mẻ. Đó là lí do vì sao
các tác giả nữ Nam Bộ dù đã để nhân vật mình tiếp xúc với “ánh sáng tân
thời” nhưng không quên “giữ” cho họ những đức tính truyền thống. Một Bích
Ngọc (Ngọc chìm đáy biển) đã quá quen với cách giao tiếp lịch sựphương
Tây vẫn không khỏi ngại ngùng, lúng túng khi thầy Minh Tâm bắt tay. Một
Liêu Kim dù mạnh dạn đến tìm Tĩnh Cương để tạ ơn nhưng lại hết sức băn
khoăn, e thẹn vì nỗi đường đột của mình. Tương tự, khi chuyển tải thông điệp
về sự gắn kết của con người, cốt truyện thường hướng trọng tâm vào các tình
huống gây xáo trộn tinh thần. Từ đó, dóng lên hồi trống cảnh báo những đổi
thay đạo đức và nguy cơ “lung lay” chuẩn mực gia đình. Trong Cô hai văn
minh, Cẩm Tâm đã tinh tế khi phát hiện rằng chính sự “tự do”, “bình đẳng”
mà ai cũng ngỡ là chìa khóa hạnh phúc lại trở thành con dao sắc nhọn ngăn
trở sự gắn kết đôi vợ chồng luôn hướng theo phương Tây. Từ đây, cốt truyện
được sắp xếp xoay quanh chi tiết ấy để bộc lộ những căng thẳng, rạn vỡ tất
yếu. Trong một tương quan khác, ý thức nữ quyền và cuộc tìm kiếm vị thế
người nữ chỉ thật sự có ý nghĩa khi xây dựng được những cốt truyện xác
đáng, tô đậm sắc thái tư tưởng. Với Nữ anh tài, Hoàng Thị Tuyết Hoa đã
dụng công lần lượt sắp xếp các tình huống: trắc trở trong tình duyên,tự lập kế
Loan được chia thành từng chương với những cái tựa ngắn gọn: “Kiếp hoa
đào”, “Chàng phụ thiếp”, “Bước li hương”…Vì một chữ tình (Cẩm Tâm)cũng
khái quát bằng các tên: “Con cầu con khẩn”, “Tình cờ gặp gỡ”, “Duyên hay
nợ” Ngược lại, nhiều tiểu thuyết ảnh hưởng mạnh mẽ các tác phẩm chương
hồi của Trung Quốc. Điều này được thể hiện khá rõ nét qua kết cấu của
Lương duyên túc đế. Toàn tiểu thuyết chia thành mười hai hồi, mỗi hồi có lời
tựa viết theo lối vần điệu. Chẳng hạn ở hồi thứ nhất: “Gái còn xuân, đối với
ngọn đèn lờ/ Mẹ đã già, nằm trên bộ ván lạnh”, hồi thứ nhì: “Người thành
thiệt lao đao lận đận/ Đứa gian tà gác tía lầu son”. Mặt khác, có nhà văn chọn
trích thơ từ sáng tác nổi tiếng để làm lời dẫn. Trong Phận bạc má đào, Cẩm
Tâm đã “mềm hóa” các chương bằng những câu Kiều nhịp nhàng: “Phận sao
phận bạc như vôi/ Đã từng đau đớn những hồi bé thơ”, “Tiếc thay trong giá
trắng ngần/ Đến phong trần cũng phong trần như ai”.
Không chỉ qua lời tựa, lối văn biền ngẫu còn xuất hiện trong cả lời của nhân
vật và lời người kể. Những câu nói uyển chuyển, vần điệu hòa cùng với ngôn
ngữ sinh hoạt hằng ngày khiến cho tiểu thuyết vừa có nét trầm bổng, vừa hơi
hướng các sáng tác truyền kì Trung Quốc. Tâm trạng của Tĩnh Cương trong
hoàn cảnh éo le càng khiến cho Duyên chàng nợ thiếp rung lên những cung
bậc đầy cảm xúc: “Có bạc tiền thì nọ thì kia, không ruộng đất nay vầy mai
khác; hèn chi thói đời đen bạc, cuộc thế đổi xoay, kẻ vô lương sao tạo hóa
sanh đầy, người thành thật tầm hoài không có một!” [34; 34]. Ngoài ra, dấu
ấn Trung Hoa còn thể hiện qua mật độ từ Hán Việt khá dày trong các tiểu
thuyết. Điển cố điển tích vẫn được sử dụng rất nhiều trong Giọt lệ phòng đào
để diễn tả tâm trạng nàng Ngọc Lam trước tình cảm dành cho văn sĩ Cẩm
Tâm. Bên cạnh đó, văn hóa Pháp cũng có ảnh hưởng nhất định đến cốt truyện
tiểu thuyết giai đoạn này. Sự du nhập của lối sống phương Tây đã xuất hiện
trong Cô hai văn minh hay Ngọc chìm đáy biển qua tư tưởng và hành động
tân thời của nhân vật. Các từ phiên âm cũng bắt đầu chiếm số lượng lớn. Từ
đây, có thể thấy rằng, cốt truyện của các tác giả nữ vừa có tính hướng ngoại,
vừa lưu giữ những đặc trưng dân tộc.
Nguyệt Anh với cô em Việt Nga vì người chồng sa đọa, hèn kém. Tình cốt
nhục suy cho cùng cũng là câu chuyện viên mãn về gia đình êm ấm. Tác giả
Nguyễn Thị Công đã xây dựng cốt truyện theo công thức quen thuộc về mối
quan hệ giữa các thành viên, có mở ra mâu thuẫn khi xuất hiện vai trò mẹ kế
nhưng kết lại, mọi xung đột được giải quyết trọn vẹn. Ở góc độ nào đó, hình
thức cốt truyện theo tính truyền thống này phản ánh rất rõ đặc trưng của tiểu
thuyết thời kì đầu. Nó đánh dấu một giai đoạn mở màn và đang tiếp tục hoàn
thiện đối với thể loại được xem là mới mẻ và hấp dẫn này.
Đi sâu vào phương diện xung đột trong tiểu thuyết, tính công thức còn thể
hiện qua đặc điểm ít gay gắt, không nhiều kịch tính nhưng khá tinh tế. Thật
vậy, các nhà văn nữ không xây dựng cốt truyện theo kiểu căng thẳng, hồi hộp
đến nghẹt thở mà độc giả vẫn mải miết theo dõi từng hành động, từng biến cố
xảy tới với nhân vật. Mâu thuẫn của Cô hai văn minh chẳng qua là những
nghi ngờ, ghen tuông trong đời sống vợ chồng. Tuy nhiên, người đọc vẫn
muốn biết kết cuộc qua các tình tiết tiếp nối. Đánh vào tâm lí tò mò của số
đông, Cẩm Tâm đã xây dựng một cốt truyện nhẹ nhàng để đến phút cuối, mọi
gãy đổ hiện ra bất ngờ. Sức hấp dẫn không nằm ở những mâu thuẫn gay gắt
đến đỉnh điểm mà phát xuất ngay từ chi tiết hết sức bình thường, thậm chí đã
quá quen thuộc trong đời sống. Dần dần, chúng được phát lộ bằng hành động
và thái độ của nhân vật. Hay như ở Giọt lệ phòng đào, câu chuyện về nàng
Ngọc Lam chủ yếu xoay quanh tình cảm với văn sĩ Cẩm Tâm và những biến
cố xảy đến sau khi xa cách. Tình tiết khá nhẹ nhàng, đa phần đều là tâm trạng
của người nữ trước nghịch cảnh. Thế nhưng, chính điều đó lại có một “ma
lực” vô hình thôi thúc độc giả trải nghiệm cùng đời sống tinh thần của mỗi
nhân vật. Phải chăng các nhà văn nữ đã thể hiện ưu thế tuyệt đối về giới trong
những cảm quan sâu sắc để làm mềm mại và uyển chuyển hơn tác phẩm?.
Mặt khác, văn chương giai đoạn này thường tập trung vào nhu cầu giải trí.
Bên cạnh những tác phẩm dành cho tầng lớp trí thức thì các loại tiểu thuyết
dung dị, dễ hiểu vẫn có sức hút đặc biệt. Nó gắn liền với độc giả đủ mọi lứa
tuổi thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Điều này góp phần đưa tiểu
đây, qua cốt truyện đậm chất thần kì, người đọc cảm nhận được ý thức đề cao
nữ giới mạnh mẽ. Hay ở Một đời mấy thân, nàng Ngọc Mai đã hy sinh thân
mình hết sức cao đẹp. Cuộc kiếm tìm vị thế người nữ, qua cốt truyện “phiêu
lưu tiểu thuyết” này mà trở nên sinh động hơn. Phải chăng trong nhân sinh
quan và thế giới quan của mình, các cây bút nữ vẫn luôn tâm niệm về một kết
thúc trọn vẹn hơn là những đớn đau, giằng xé; những không gian mở thường
thấy trong văn chương giai đoạn sau?
Tuy không phải mọi tiểu thuyết đều hướng đến cách giải quyết xung đột nhẹ
nhàng và khép lại bằng các tình tiết có hậu nhưng phần lớn trong văn xuôi
đầu thế kỉ XX, đặc điểm này đã trở thành một công thức. Không chỉ gắn bó
chặt chẽ với cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm, cấu trúc nghệ thuật thông qua sự
hài hòa về cốt truyện này còn phản ánh một phương diện khác. Đó là phẩm
chất người Nam Bộ trong nếp nghĩ và cả trong tư duy: mộc mạc, phóng
khoáng, chân thành.
Tóm lại, cốt truyện trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam Bộ đầu thế kỉ
XX tương đối đa dạng, phong phú. Đa dạng qua bức tranh đời sống và phong
phú bởi loại thể phản ánh. Có sự đan xen giữa tinh thần dân tộc và yếu tố
ngoại lai như những sắc màu lấp lánh vượt khỏi ranh giới ngôn từ, tràn qua
bờ vực ý nghĩa. Bên cạnh đó, tính công thức trở thành một đặc điểm của tiểu
thuyết thời kì đầu. Những cốt truyện theo “mô típ” truyền thống, cách giải
quyết xung đột nhẹ nhàng trở đi trở lại trong nhiều sáng tác như một sự kết
nối chặt chẽ với thông điệp tư tưởng. Điều này vô hình chung dẫn đến một
đặc điểm khác của văn chương đầu thế kỉ XX: in đậm tính cách và tư duy của
người Nam Bộ.
3.2 Cấu trúc nhân vật
Cùng với cốt truyện, nhân vật là một trong những cấu trúc nghệ thuật đáng
chú ý của tiểu thuyết nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX. Nó tương tác với cấu trúc ý
nghĩa trên góc độ tư tưởng và gắn kết với các cấu trúc khác của nghệ thuật
qua bình diện ngôn từ. Từ đây, nhân vật tiểu thuyết hiện lên như là những
con người của đời thường, mang tiếng nói đạo lí và ít nhiều được thể hiện
trở thành một cá thể hết sức bình đẳng, tự nhiên trong xã hội. Độc giả vẫn
còn ngỡ ngàng trước hành động tưởng như chỉ có nam giới mới thực hiện
được. Nay, chính giới nữ- tầng lớp vốn bị định kiến ở chốn khuê phòng-
đứng lên tiến hành (Tú Anh- Nữ anh tài, Ngọc Mai- Một đời mấy thân).
Cũng trong Nữ anh tài, nhân vật Hồng Minh dù đã được cha mẹ phối hôn với
Ngọc Liên nhưng vì những cảm mến dành cho Tú Anh, chàng vẫn thẳng
thừng viết thư từ chối, mong Trần tiểu thư thông cảm. Giới hạn này sẽ khó
lòng phá vỡ trong xã hội phong kiến. Thế nhưng, đối với các nhà văn nữ,
bằng cảm quan tinh nhạy, họ đã hướng về những điều mới mẻ, có tính bước
ngoặt. Đấng nam nhi vốn được hình dung như cây tùng, cây bách; trong đôi
mắt của tác giả nữ; vẫn chỉ là một con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc
cuộc đời. Họ quẩn quanh trong mối quan hệ nước- nhà, hiếu- tình.
Tương tự như vậy, khi nhắc đến thông điệp về khả năng gắn kết của con
người, không phải ngẫu nhiên mà các cây bút nữ đều hướng vào loại nhân vật
giàu có, thấp hèn hoặc thành viên gia đình. Bởi lẽ, trong mối quan hệ có tính
ranh giới rõ rệt này, nhiều mâu thuẫn thực sự phát sinh, gây rạn vỡ xã hội. Từ
giai cấp địa chủ ra sức bóc lột người nghèo, coi sinh mạng như cỏ rác cho
đến bọn tham quan ỷ thế hà hiếp dân lành, làm nhiễu nhương đời sống. Trong
Giọt lệ phòng đào, Nguyễn Thị Thanh Hà đã khắc họa rất sống động tên quan
A.L hủ bại, dâm ô, hủy hoại không gian trường học. Trong Kiếp hoa thảm sử,
vợ chồng Ban Biện chính là những con mọt đục khoét, làm mòn nhân phẩm,
phá tan cột trụ vững chắc là giới hạn đạo đức đáng quý. Ngoài ra, khi cảnh
báo về sự gắn kết gia đình, các nhà văn nữ rất tinh ý khi lựa chọn mối quan
hệ: cha/ mẹ chồng- nàng dâu, mẹ kế- con chồng, vợ- chồng sính ngoại. Sự
lỏng lẻo giữa các giềng mối đặt ra nhiều câu hỏi về cả tình nghĩa và tình
người. Qua mỗi khắc họa đó, nhân vật tiểu thuyết càng hiện lên hết sức đáng
thương. Họ giống như những sản phẩm bị “tha hóa” bởi xã hội đầy rẫy phức
tạp và lộn xộn buổi giao thời. Như vậy, có một sự gắn kết rất chặt chẽ giữa
thông điệp tác phẩm và loại hình nhân vật phản ánh. Điều này trước hết tạo
một niềm tin đặc biệt đối với độc giả, sau đó khẳng định mối tương tác giữa
qua thái độ của nàng Như Hoa khi đứng ra bênh vực bé Lành trước cơn thịnh
nộ, ỷ thế hiếp người của vợ Ban Biện. Gởi gắm vào nhân vật mình lòng tin về