TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA QUẢN
TRỊ KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH
DOANH
Quốc
TÊ
KHOA
LUẬN
TÓT
NGHIẸP
Dề
tài:
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG
VÀ
THẤT
BẠI CỦA CÁC
DOANH
NGHIỆP
TRÊN
SÀN CHÚNG KHOÁN VIẾT
NAM
LV
osué
Sinh
MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ
THUYẾT
LIÊN
QUAN ĐẾN sự
THÀNH CÔNG
VÀ
THẤT
BẠI CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP
TRÊN
SÀN
CHỨNG
KHOÁN VIỆT
NAM 5
1.1.
Quan
điểm
chung
về sự
thành công
và
thất
bại của
các
doanh
nghiệp
trên
thầ
trường chứng khoán
5
trường
chứng
khoan:
5
1.1.1.2.
Quan
điểm
về sự thành công và
thất bại
của các
doanh
nghiệp
khi
niêm
yết
tại
thị
trường
chứng
khoan
Việt
Nam 8
1.2.
Sự
cần
thiết
của
việc
nghiên cứu nguyên nhân thành công
và
thị
trườìĩg
chứng khoán
14
1.3.
Một
số vấn
đề
cần lưu
ý
khi tìm
hiểu
nguyên nhân thành công
và
thất
bại
của các
doanh
nghiệp
trên
thầ
trường chứng khoan
Việt
Namlố
1.3.1.
Phàn úng quá
mức
với
các
thông
giá
chúng khoản
19
CHƯƠNG
li:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
cứu
NGUYÊN NHÂN
THÀNH CÔNG
VÀ
THÁT
BẠI CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP
TRÊN
THỊ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN VIỆT
NAM 22
2.1.
Cơ
sở
đưa
ra phưong pháp nghiên
cứu
nguyên nhân thành công
và
thất
bại
của các
23
2.2.
Quy
trình nghiên
cứu 25
2.3.
Các
công
cụ hỗ
trợ
quá
trình nghiên
cứu
nguyên nhân thành công
và
thất
bại
của các
doanh
nghiệp
trên thị trường chứng khoán
Việt
Nam 28
2.3.1.
Phương pháp phỏng vấn
trực tiếp
28
2.3.2.
Phương pháp
lấy
tả
quá
trinh
thực
hiện
30
2.4.2.
Phản
tích
nguyên nhân thành công
và
thất
bại
cùa các
doanh
nghiệp khi
niêm
yết trên
sàn chứng khoan
Việt
Nam 36
2.4.2.1.
Phân tích
nguồn
thông
tin
sơ
cấp:
36
2.4.2.2.
THỘ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN
VIỆT
NAM - MỘT SỐ
KIÊN
NGHỘ
VÀ
ĐÈ
XUẤT 41
3.1. Giói
thiệu
chung về
quá
trình nghiên
cứu 41
3.2. Kết
quả
nhận dạng
doanh
nghiệp
43
3.2. ỉ.
Nhóm doanh
nghiệp thành
công
43
3.2.2. Nhóm doanh
nghiệp thất
48
3.3.1.2.
Một số
kết
quả
phỏng
vấn
đáng lưu
ý
49
3.3.2.
Nguyên nhân
thành
công và
thất
bại
cùa các doanh
nghiệp
khi
niêm
yết
trên
sàn chứng
khoan:
53
3.3.2.1.
Một sổ
kết luận từ
việc
phân tích thông
Nam 59
3.4.
Bình
luận
kết
quả nghiên cứu
và
một số
đề
xuất
đối
vói
doanh
nghiệp
khi
tham
gia
thị
trường
chứng khoan
Việt
Nam 64
KÉT
LUN
68
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 71
DANH
MỤC BÁNG BIÊU
cổ
phiếu
thường
thấy
của
nhà đầu tư 32
Bảng
3.1
:
Các
doanh
nghiệp
vượt
qua tiêu chí
(a)
và
(b) trong
nhóm
doanh
nghiệp
thành công 44
Bàng 3.2
:
Các
doanh
nahiệp
vượt
qua tiêu chí
(c) trong
nhóm
nghiệp
thất
bỹi
46
Bảng
3.5
:
Các
doanh
nghiệp
vượt
qua tiêu chí
(C)
trong
nhóm
doanh
nghiệp
thất
bỹi
47
Bảng
3.7: Kết
quả
điều
tra
đối với
nhà đầu tư 48
Bảng
3.8:
Tóp lo chưn"
Bàne
3.11: Lợi nhuận
năm
2008,
lợi
nhuận
để
trả
cổ
tức
và trích quỹ
khen
thường
phúc
lợi
cùa các
doanh
nghiệp
ngành
than
64
Hình
2.1:
Quy trình nghiên cứu nguyên nhân thành công và
thất
bại
của các
doanh
nghiệp
trên
Đường
lối
kinh tế
và
chiến
lược phát
triển
kinh tế
cùa nước
ta
là "Đẩy
mạnh
công
nghiệp hoa, hiện đại hoa,
xây
dựng
nền
kinh tế
độc
lập tự chù,
đưa
nước
ta trờ
thành một nước công
nghiệp;
ưu tiên phát
triển
lực
lượng sản
xuất,
đòi hòi
phải
có
nguồn
lực
lớn
mà cụ
thể là
huy động được
nguồn
vốn
lớn
cho sự phát triên
kinh
tê đát
nước.
Để có một
thị
trường vốn như
thế,
đòi
hỏi
trước mắt là
phải
xây đựng
được
một
thị
trường
chứng
gian
và quy mô
trong
việc
huy động
vốn.
Nhận
thức
tẩm
quan
trọng đó,
sau
nhiều
cố
gắng
thị
trường
chứng
khoán
Việt
Nam đã chính
thức
đi vào
hoạt
động ngày
20/7/2000,
đánh dấu bước
chuyển
mình của
thị
khá là sôi động.
Nhiều
công
ty
chứng
khoan
được thành lập
cùng
với nhiều
công
ty
cổ
phỏn
đăng ký và
bắt
đỏu
tham
gia
niêm
yết
trên
thị
trường
chứng
khoan
nhằm huy động
vốn
phục
vụ mục đích
sản xuất kinh
doanh
nghiệp
chưa
thu
hút được nhà đỏu tư,
số
lượng cồ
phiếu
niêm
yết
và bán
ra
còn hạn
chế
không
phải là
hiếm.
Ì
Việc
tham
gia niêm yết trên thị trường
chứne
khoan
của
doanh
nghiệp với
mục đích chù đạo
nhất
chính là thu hút được nguồn vốn
nhanh
chứng
khoan
Việt
Nam và xem xét lựa chọn cổ phiếu để đựu tư, tôi nhận thấy có
những
đặc điểm
chung
khác biệt đối với các
doanh
nahiệp
thành công và thất bại khi niêm yết
trên thị trường
chứng
khoan
Việt
Nam. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu
nham
tìm hiểu và định
nghĩa
những
đặc điểm khác biệt này. Do
những
hạn chế
cà về mặt chủ
quan
và khách
quan
nên khóa luận chì hướng vào mục tiêu phát
hiện
những
khoan
thế
giới
trong
2 năm
trờ lại đây, đặc biệt
trong
năm
2008.
Với ảnh hường của suy
thoai
thế
giới
toan
cựu, thị trường
chứng
khoan
trong
nước năm vừa qua vô cùng biến động. Vì vậy,
tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu của khóa luận chính là
những
doanh
nghiệp
2
thành công tiêu biểu
nhất
và
những
doanh
nghiệp
hợp và phàn
tích các
nguồn
tài
liệu);
phương pháp quy nạp và diễn
dịch
đồn2
thời sử
dụng
phương pháp
thặo
luận nhóm, hỏi ý
kiến
chuyên gia, phòng vấn
trực
tiếp và sử
dụng
bặng
câu hỏi đê tìm ra điểm khác biệt của các
doanh
nghiệp
thành công và
doanh
nghiệp
thất bại.
5. Bố cục của đề tài
về mặt bố cục, ngoài lời mở đầu,
danh
mục
nói
chung
và sàn
chứng
khoan
Việt
Nam nói
riêng,
đồng
thời, nêu lên sự cần thiết phặi nghiên cứu nguyên nhân thành công
thất bại của các
doanh
nghiệp
trên sàn chúng
khoan
Việt
Nam và một số điểm
cần lưu ý đối với việc nghiên cứu.
Chương li: Phương pháp nghiên cún nguyên nhân thành công và
thất
bại của các
doanh
nghiệp
trên thị
trường
chứng
khoan
Việt Nam
Chương này nêu ra phương pháp nehiên cứu nguyên nhân thành công và
thất bại của các
thị
trường
chứng
khoan
Việt
Nam - Một số
kiến
nghị
và đề
xuất
Từ phương pháp nghiên cứu
đã
hình thành
ờ
chương
li,
chương
HI vận
dụng
phương pháp
đó để tìm
hiểu
những
nguyên nhân chính dẫn
đến sự
thành
công
và
thất
bại
tham
gia
niêm
yết
trên sàn
chứng
khoán.
Nhận được
sự
hướng
dẫn và
giúp
đỡ
nhiệt
tình
từ
Tiến
sĩ
khoa
học
Nguyễn
Văn
Minh
cùng
với
nhiều
cố
gắng
trong
quá
nhầm
lẫn
là không
thể
tránh
khỏi.
Tôi
rất
cảm ơn và
mona
nhận
được
sự
phê
bỉnh,
góp ý và
phát triên thêm từ các
Thầy
Cô
giáo nhằm hoàn
thiện
vấn
đề
nghiên cứu.
4
CHƯƠNG
ì:
MỘT
SỐ VẤN ĐÈ LÝ THUYẾT
LIÊN
khoán
1.1.1.
Một số
quan
điểm
phổ
biến
về sự
thành công
và
thất
bại
của
các
doanh
nghiệp
trên
thị
trường
chứng khoan
Thị
trường
chứng
khoán
là yếu
tố
cơ
bản
của
nền
thành
một
định chế tài chính
không
thể
thiếu
được
trong
đời sống
kinh
tế
cùa
nhậng
nước
theo
cơ
chế
thị
trường.
Hiện
nay
thị
trường
chứng
khoán
đã
phát
triển
mạnh
mẽ ờ
các
nước
láng
giềng
Việt
Nam như
Singapore,
Malaysia,
Thái Lan,
Philipin
và
Inđônêxia
và
Việt
Nam
cũng
đã có
trung
tâm
eiao
dịch
thị
trường
chứng
khoán
thành phố
Hồ
Chí
Minh.
(7/2000).
thể
được
đo
lường
dựa vào
nhiều
yếu
tố
khác
nhau,
tuy
nhiên
chi
tiêu thông
dụng
nhất
được
sử
dụng
làm
thước
đo mức
độ
thành công hay
thất
bại
trên
thể
giới
chính
tiền
bỏ ra để mua
lại toàn
bộ
công
ty
này
trona
điều
kiện
hiện
tại.
Giá
trị vốn hoa thị
trường tương đương với
2Ìá
thị
trường
cùa cổ
phiếu
nhân
với số cổ
phiếu
phổ
thông đang
lun
hành. Khi tính
giá trị vốn hoa thị
trường,
người
thị trường
là
thước
đo vô
cùng
quan
trảng
đê
đánh
giá
thành công
hay
thất bại
của một
công
ty
niêm
yết
công
khai. Tuy vậy, giá
trị
vốn
hoa
thị trường còn
có
thể tăng giảm
do
một
số
nguyên
cùa một
công ty,
trong
khi
giá này có thê
thay
đôi
theo
kỳ
vảng
của nhà
đẩu
tư, vì vậy chi số này
không phàn
ánh
hoàn toàn chính
xác giá trị
thực
của
công
ty
đó.
Số lượng
cổ
phiếu
lưu
hành trẽn
thị
trường
cùa
chức
đầu
tư
nắm giữ
lâu dài và ít
khi đem
ra
giao
dịch.
Két quà là chi có
một
tỳ
lệ nhỏ
cổ
phiếu
thực
sự
được đem
ra mua
bán
trong
ngày,
ví dụ: vào một
ngày
giao
dịch
chi có
khoảng
1.6%
lượng
thị
trường,
khi
công
ty
và các thành viên
nội
bộ bán cổ
phiếu
của mình
ra,
có
thể
làm giá cổ
phiếu
đó
tụt
dốc
ngay
lập tức.
Chưa có một
chuẩn
mực nào cho
việc
phân
loại
công
ty theo
giá
trị
USD
•
MicroCap
:
50
triệu
đến 300
triệu
USD
• Nano Cáp
:
dưầi
50
triệu
USD
Blue
chip
thường được
hiểu
tương đương
vầi
các công ty có quy mô từ
Big/Large
Cáp
trờ
lên,
trong
khi
đó các nhà đầu tư luôn
coi
có giá
trị
vốn
hoa thị
trường
từ
10
tỷ
USD
trờ lên.
Doanh
nghiệp
niêm
yết
thất
bại
là các
doanh
nghiệp
có giá
trị
vốn hoa
thị
trường nhỏ hơn 2
tỳ
USD.
Theo
tạp
chí
Financial
hạng
Công
ty
Trụ
sờ
chính
Nhóm ngành
Giá
trị
thị
trường
(tỷ
USD)
1
Exxon
Mobil
Hoa Kỳ Dầu khí
406,067
2
Petrochina
Trung
Quốc
Dầu khí
259,836
3
Wal-Mart
Hoa Kỳ Bán
lẻ
219,898
4
AT&T
Hoa Kỳ
Truyền
thông
167,950
9
Johnson
&
Johnson
Hoa Kỳ Chăm sóc
sức khỏe
166,002
10
General
Electric
Hoa Kỳ
Tập
đoàn
kinh
tế
161,278
ì. Ị.1.2.
Quan diêm
ve
sự
thành
công và
thát
bại
cùa các doanh
gia
niêm
8
yết
trên
thị
trường chúng
khoan.
Tuy nhiên
đã có
nhiều
quan
điểm
để
phân
loại
các
doanh
nghiệp
trên
thị
trường.
Cũng tương
tự
như
thị
trường
chứng
khoan
thế
khoan
Việt
Nam
so
với
thị
trường
chứng
khoan
thế
giới
chính là
độ
lớn
của
thị
trường.
Tại
TTCK
Việt
Nam,
ngày
2/8/2007,
Thù
tướng Chính phủ
đã có
Quyết
định số 128/2007/QĐ-
TTg
phê
đến
năm
2020
đạt
70%
GDP. Tuy
nhiên,
kết
thúc phiên
giao
dịch
ngày
31/3/2009,
tổng
giá
trị
vốn hoa
TTCK
Việt
Nam
mới
đạt
khoảng
hơn
200
nghìn
từ
đồng,
bàng 14.5%
GDP năm
đã niêm
yết
có
giá
trị
vốn hoa
thị
trườna
đạt
trên
1000 từ
đồng
(58
triệu
USD) ờ
cả
2
sàn mới
đạt
gần 40
doanh
nghiệp,
trong
đó
sổ đạt từ
10
nghìn
từ
đồng
trở
trường
chứng
khoan
Việt
Nam,
những
doanh
nghiệp
có
giá
trị
vốn
hóa trên 1000 từ đồng
đã
được
coi
là
doanh
nghiệp
blue-chips.
Trong
khi
đó,
những
doanh
nghiệp
penny
stocks là
nhũng
doanh
nghiệp
trẽn
sàn
chứng
khoan
Việt
Nam.
Khi
xem
xét đầu tư vào cổ
phiếu,
các nhà đầu
tư còn đánh giá
nhiều yểu tố
khác liên
quan
đến
thị
trường,
vấn
đề thông
tin,
đến
chính
bàn
thân
cổ
phiếu
của
doanh
nghiệp sẽ được tác giả nghiên cứu và
thực
hiện ở các chương sau.
1.2. Sự cần
thiết
của
việc
nghiên cứu nguyên nhân thành công và
thất
bại
của các
doanh
nghiệp
trên thị
trường
chứng
khoan
Việt Nam
Những năm trở lại đây, các
doanh
nghiệp
tham
gia trên sàn
chứng
khoán
Việt
Nam gặp phải không ít các biến động, nguyên nhân có thể từ nguyên nhân
khách
quan
do sự biến động cùa các thị trường lớn trên thế
nghiệp thành công.
1.2.1 Nhà phát hành:
Nhà phát hành
chứng
khoán
thực
chỗt
là bản thân các
doanh
nghiệp
tham
gia trên thị trường chúng khoán. Việc các
doanh
nghiệp thành công hay thỗt bại
trên thị trường này nguyên nhân đơn thuần không thể xuỗt phát từ bản thân
những
vỗn đề khách
quan
cùa thị trường.
Các nhà
doanh
nghiệp khi thỗt bại
trong
thị trường
chứng
khoán thường
chỉ biết đổ tại cho nguyên nhân dẫn đến phá sàn là nền kinh tế đang
trong
thời kỳ
suy thoái và do mình thiếu vốn. Để
biết được
nhũng
vấn đê
còn tồn tại để
khắc
phục.
Nêu việc phát hành
chứng
khoán ra công chúng một cách thành công
doanh
nghiệp
sẽ có được rất nhiều
thuận
lợi, nhiều cơ hội mới cho các
hoạt
động
kinh
doanh:
- Phát hành
chứng
khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nôi
tiếng cốa công ty, nhờ vậy công ty sẽ dễ dàng hon và tốn ít chi phí hơn
trong
việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ở
những
lần sau. Thêm vào
đó,
khách hàng và nhà
cung
ứng cốa công ty thường
giúp công ty trở thành một ứng cử viên hấp dẫn hơn đối với
các công ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên
doanh.
- Phát hành
chứng
khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và
duy trì đội ngũ nhân viên
giỏi
bời vì khi chào bán
chứng
khoán ra công chúng,
công ty bao giờ
cũng
dành một tỷ lệ
chứng
khoán
nhất
định để bán cho nhân
viên cốa mình. Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên cốa công ty sẽ trở thành cổ
đông, và được hưởng lãi trên vốn
thay
vi thu
nhập
thông thường. Điều này đã
làm cho nhân viên cốa công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại cốa
công ty
thực
sự là thành bại cốa mình.Phát hành
chứng
khoán ra công chúng,
trị không
trực
tiếp
tham
eia điêu
hành công ty
cũng
giúp tăng cường
kiểm
tra và cân đối
trong
quản
lý và điêu
hành công ty.
- Phát hành
chứng
khoán ra công chúng làm tăng
chất
lượng và độ chính
xác của các báo cáo của công ty bởi vì các báo cáo cùa công ty phải được lập
theo
các tiêu
chuẩn
chung
do cơ
quan
quản
lý qui định. Chính điều này làm cho
việc đánh giá và so sánh kết quả
hoạt
thực
tiữn.
Việc
nghiên cứu nguyên nhân thành công hay thất bại aiúp cho
doanh
nghiệp
rút ra cho mình được
những
bài học kinh nghiệm cho việc phát hành
chứng
khoán các lần tiếp
theo,
hiếu được
những
nguyên nhân xuất phát từ nội tại
doanh
nghiệp
và có
những
thay
đổi cho phù hợp.
1.2.2 Nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư chuyên
nghiệp
sẽ có sự phân tích vĩ mô từ bức
tranh
kinh
tế tổng thể của thế
giới,
khu vực và lựa chọn
người
có vốn nhàn
rỗi
tạm
thời,
tham
gia
mua bán trên Thị trường
chứng
khoán
với
mục đích
kiếm
lời.
Theo
nghiên
cứu
của TNS
Vietnam,
có đến 37% số nhà đầu tư
tham
gia thị
trường
chứng
khoán
Việt
Nam nhìn
thấy
tiền
của
Vậy vấn đề
đặt ra là thực
sự đã có bao nhiêu nhà
đầu
tư
thực
sự phân tích các
doanh
nghiệp
mà mình dự định đầu tư? Một
doanh
nghiệp
thành công
trẽn
thị
trường
chứng
khoán vào
thời
điổm
này không có
nghĩa
là họ sẽ có sự thành công
vĩnh
viễn
và một được đang
thất
bại
không có
nghĩa
doanh
nghiệp
luôn
chi
biết
đầu tư
theo
tâm lý đám đông sẽ không có
nhiều
khả năng
thu
được
lợi
nhuận.
Những nhà đầu tư thông
minh
là
những
người
chỉ
đầu tư vào
những
gì mà họ
thật
sự
hiổu
biết.
Thị trường chúng khoán
Việt
Nam
khoán như một
canh
bạc.
Nhà đầu tư có tổ
chức
là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán
chứng
khoán
với
số
lượng
lớn
trên
thị
trường.
Các định chế này có
thổ tồn
tại
dưới
các hình
thức sau:
công
ty
đầu
tư,
công
ty
bảo
hiổm,
Quỹ lương
trường một cách kỹ
càng,
trong
đó bao gồm cả nguyên nhân thành công và
thất
bại của
các
doanh
nghiệp
trên
thị
13
trường
chứng
khoán. Mỗi
thay
đổi
của các
doanh
nghiệp
đặc
biệt
là các
doanh
nghiệp
lớn,
những doanh
nghiệp
có
khả
chức sẽ
đưa
ra quyết
định
có đầu tư
hay
không.
1.2.3 Các công
ty
chứng
khoán:
Các Công
ty
chứng
khoán không
chi
có
nhiệm
vụ là giúp các nhà đầu tư
đặt lệnh,
tiến
hành các
hoạt
đụng
giao
dịch
mà bản thân mỗi Công
ty
phải
là
khoán
tự
phát,
do đó
hiện
nay
nhiệm
vụ tư vấn vẫn
nằm
nhiều
trong
tay
các Công
ty
chứng
khoán.
Việc
phân tích thành
công,
thất
bại
của các
doanh
nghiệp
trên
thị
trường
chứng
khoán cho phép các Công
ty chứng
hệ
thống
tài
chính
cũng
phàn ánh sự
thất
bại
của
Việt
Nam
trong
việc
tách
bạch quyền
lực
kinh
tế
và
quyền
lực
chính
trị.
Trong
khi
khu vực
kinh
tế
ngoài
quốc doanh
thành
hiện
tượng tương
đối
phổ
biến
trên
thị
trường
chứng
khoán,
trong
đó nạn nhân là các nhà đẩu tư nhỏ
lẻ.
Đồng
thời,
các giám đốc và
những
người
"chủ" doanh
nghiệp
vẫn
tiếp
tục
lợi
dụng
kẽ hở
của
thị
trường đề
khoán
thì
sờ
giao
dịch chứng
khoán cần
thiết
phải theo
dõi sát
sao,
phân tích sự
biến
động giá cp
cùa các
doanh
nghiệp
tổ
đó
nhận
biết
được
những
giao
dịch
không
trung
thực,
trái
với
những
quan
ban hành
những
quy định về các
hoạt
động
giao
dịch
trên
thị
trường
chứng
khoán là ủy ban
chứng
khoán Nhà nước để có
những
thay đổi
cho phù
họp.
về phía ủy ban
chứng
khoán Nhà nước
cũng
luôn có
những
đánh giá và sự
quan
tâm
với
sự thành công,
Nắm bắt
nguyên nhân của các
doanh
nghiệp
ở
giai
đoạn
đầu tiên mới
thất
bại
hoặc
đang
trên đà thành công sẽ giúp ủy ban
chứng
khoán hạn chế được
những
thiệt
hại
chung
cho cả
thị
trường
khi
những
sai
lầm bị
lắp
lại
kéo
theo hiệu
cạnh
ủy ban
chứng
khoán Nhà nước và sở
giao
dịch chứng
khoán thì
Công
ty
đánh giá hệ số tín
nhiệm cũng
là một
tổ chức
liên
quan
tới
thị
trường
chứng
khoán,
là công
ty
chuyên
cung
cấp
dịch
vụ đánh giá năng
lực thanh
toán
các
trường luôn
đi
kèm
với
việc
chì
ra
các nguyên nhàn sơ
bộ.
15
1.3.
Một số vấn đề cần lưu ý
khi
tìm
hiểu
nguyên nhân thành công và
thất
bại
của
các
doanh
nghiệp
trên
thị
trường
chứng
khoan
Việt
Nam
Việc
ta
không
thể
không xét đến
những
đặc trưng cơ bản của
thị
trường
chứng
khoan
Việt
Nam. Nắm đước các đặc
điểm
này, ta
sẽ tránh đước
những
sai sót,
những
yếu tố chủ
quan
trong
quá
trình
điều
tra
nghiên
cứu.
Theo
dõi
diễn biến
điểm
cần lưu ý như
sau:
1.3.1.
Phản ứng quá mức
với
các thông
tin
thị
trường
Một
đặc
điểm
dễ
nhận
thấy
của
thị
trường
chứng
khoan
Việt
Nam đó là
sự
phản
úng quá mức
đối với
thông
tin
của
thường,
chuẩn
bị
không đầy đủ ờ
những
giai
đoạn trước
đây,
đều đồng
loạt
"phản
ứng thái quá"
trong
hiện
tại,
thể hiện
bang
việc
huy động vốn ồ
ạt
để đẩu tư
khiến
nảy
sinh
nguy
cơ đầu cơ quá mức
(over-investment).
Thậm
chí,
có
tính
chiến
lước.
Phản
ứng thái quá
cũng
đước
thể hiện trong việc nhiều
nhà đầu tư cứ
thấy
doanh
nghiệp
huy động vốn
bằng
phát hành cố
phiếu mới, chia
cổ
tức
bàng cổ
phiếu,
có nhà đẩu tư nước ngoài mua cồ
phiếu thì lấy
đó làm
mừng,
tham
gia
đẩy
giá cổ
phiếu
lên
niêm
yết
trên
sàn
chứng
khoán,
cổ
phiếu
cùa FPT đã tăng
liên
tục.
Một
phần
lý do
cũng
là việc
FPT có chính sách
chia
cổ
tức
bằng
cổ
phiếu,
và hơn nữa có sớ đầu tư
của
Intel
Capital
vào cổ
phiếu
FPT đã làm các nhà đầu tư
thời
điểm
ấy.
Nhưng
tại
Việt
Nam, Inđex
cùa VN không
đại diện
cho sức
khỏe
nền
kinh
tế,
là một hàn
thử biểu
của nền
kinh
tế
như các
nước.
Điều
này
khiến
cho các nhà đầu tư có
thể
đoán trước được
diễn biến
tiếp
theo
buổi toa đàm,
mặc dù có nói "dớ báo là
rất
khó" nhưng ông
cũng
"bật
mí" ràng trước
khi
tham
dớ
tọa
đàm, ông đã cùng
với
với
phòng đầu tư
của
công
ty
mình xem
lại
các dớ
báo, diễn biển kinh tế
sắp
tới,
và
"nghĩ
rằng
vào
cuối
năm nay
chi
nhìn
nhau,
nhìn
vào các nhà đầu tư nước
ngoài,
vào chính
sách,
mà còn nhìn vào cả
những
lời
tuyên bố để
ra
quyết
định.
Ví dụ như
khi
có
tổ
chức
đưa
ra
nhận
định
"VN-Index
sẽ
giảm
đến "
thì
chính
Nam mua
theo, khiến
giá
leo thang.
Giá
chứng
L
tí 0ỉ7a
17
khoan
có
xuống
hay không tùy vào các nhà đầu tư nước ngoài có "quăng"
ra
hay
không.
Thực
tế,
nhiêu công
ty
có giá
chứng
khoán cao hơn giá
trị
thực
của
nó.
Một
biểu hiện
khác của sự
chí có công
ty lụ
lớn
đang
trong diện
chưa
biết
xử lý
thế
nào
cũng
tăng,
có công
ty lụ lớn
nhưng giá
cổ phiếu
lại
tăng
cao,
tăng liên
tục.
Khi
thị
trường
giảm thì
bất
kỳ cổ
phiếu
nào
cũng giảm;
người
mua mà không có
người
bán - bèn
bán
trống
trơn và không có dư
bán;
khi thị
trường
giảm thì
chi
có
người
bán mà
không có
người
mua.
Cũng như
thị
trường
chứng khoan
tại
các nước trên
thế
giới,
ờ
Việt
Nam,
thông
tư
đối với
các thông
tin,
dự báo
lại
khác hẳn
trước.
Tất
nhiên,
thông
tin
dự
báo
giờ
có quá
nhiều,
làm cho nhà đầu tư "trúng
lớn"
cũng
như
"thua"
cũng
không
nhỏ.
Nhung
cũng
có lúc trước quá
nhiều
thông
vĩ
mô tháng 8 và 8 tháng được công bố
với chiều
hướng
tích
cực,
như nông
nghiệp
dược
mùa, công
nghiệp
tăng trường khá,
nhập
siêu
giảm,
lượng
ngoại
tệ
vào
nước
ta
tăng khá
từ nhiều
nguồn,
nhất
là
đầu tư
trực
tiếp
thực