LỜI MỞ ĐẦU
Theo nhiều chuyên gia kinh tế thế giới, Việt Nam là nước có chính sách cải cách kinh
tế khá thành công trong những năm qua. Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và toàn
cầu hóa, Việt Nam đã tham gia kí kết Hiệp định thương mại, dịch vụ của khu vực
ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt –Mỹ, khoảng trên 80 Hiệp định song
phương và đa phương khác và đặc biệt đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Quá trình mở cửa hội nhập tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội
phát triển, nhưng đồng thời cũng đưa đến nhiều khó khăn, thách thức.
Trong xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế toàn cầu ở tất cả mọi ngành, mọi lĩnh vực và trong đó có ngành ngân
hàng Việt Nam.
Nhằm phân tích rõ những cơ hội và thách thức khi hội nhập quốc tế của các tổ chức
tín dụng nói chung và ngân hàng nói riêng, bài thảo luận nghiên cứu 3 phần gồm:
Phần 1: Tình hình hệ thống NHTM VN sau khi hội nhập
Phần 2: Phân tích những cơ hội và thách thức
Phần 3: Các chiến lược của NHTM khi hội nhập
Do kiến thức còn hạn chế, bài thảo luận sẽ không tránh khỏi thiếu sót, mong thầy và
các bạn đóng góp để bài làm hoàn thiện hơn.
Phần 1. Tình hình hệ thống NHTM VN sau quá trình hội nhập
1
Việt Nam được chính thức chấp thuận gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 và có tư
cách thành viên đầy đủ thứ 150 của tổ chức này kể từ ngày 11/01/2007. Trước đó, nước
ta đã trải qua 12 năm đàm phán gia nhập và thực hiện cải cách kinh tế, hoàn thiện hệ
thống pháp luật nội địa theo hướng phù hợp với các chính sách minh bạch, tự do hóa của
WTO. Về mặt thể chế chính sách, Việt Nam cũng cam kết thực hiện các bước đổi mới
trước và sau khi gia nhập WTO. Về tài khóa, ta tiếp tục giảm bội chi ngân sách, thực hiện
cải cách thuế theo hướng hiện đại. NHNN Việt Nam từng bước hoàn thiện chức năng
ngân hàng trung ương thực thụ. Đối với hệ thống ngân hàng, các NHTM quốc doanh
từng bước cổ phần hóa (2010), nâng cao năng lực tài chính, tăng cường quản trị rủi ro,
cải thiện hiệu quả hoạt động. Về ngoại hối, Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ đối
với các vấn đề về ngoại hối theo các quy định của Hiệp định WTO, các tuyên bố và quyết
Các ngân hàng tích cực cạnh tranh thị phần tín dụng và huy động, dùng đó làm cơ sở
để đàm phán giá với các nhà đầu tư chiến lược, thường là các ngân hàng quốc tế hoạt
động đa năng trên phạm vị quốc tế và toàn cầu. Cũng trong 3 năm sau khi gia nhập WTO,
tăng trưởng tín dụng ngoạn mục với tỉ lệ rất cao trong khi đó huy động cũng tăng nhưng
3
nhịp độ chưa kịp với tăng trưởng tín dụng (Hình 2). Trong hai năm trở lại đây, tốc độ
tăng trưởng tín dụng giảm dần, biểu hiện kinh tế tăng chậm lại, huy động tăng cao do
kênh gửi ngân hàng có lời và an toàn hơn.
Hình 2. Tăng trưởng tín dụng và huy động của hệ thống TCTD
Nguồn: UBGSTCQG
Gia nhập WTO là cú hích khởi đầu cho sự vươn lên mạnh mẽ của khối NHTM cổ
phần. Các NHTM cổ phần đã có bước phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh gay gắt với các
NHTM Nhà nước và các ngân hàng nước ngoài cả về huy động lẫn cho vay. Khối NHTM
Nhà nước vẫn giữ vị trí chi phối, song thị phần trong cả tổng tín dụng và tổng huy động
của khối NHTM Nhà nước giảm liên tục. Lần đầu tiên NHTM cổ phần đã vượt khối
NHTM Nhà nước về tổng tài sản vào năm 2010. Sự trỗi dậy của khối NHTM cổ phần
trước áp lực cạnh tranh và vận hội mới là những minh chứng tích cực cho phát triển hệ
thống ngân hàng sau khi gia nhập WTO.
Bảng 1: Thị phần tài sản, tín dụng, và huy động của các khối NHTM
Nguồn: UBGSTCQG
• Ngân hàng liên doanh và nước ngoài tại Việt Nam
Sự hiện diện của các NHTM nước ngoài không chỉ làm tăng cạnh tranh và năng lực
quản trị của hệ thống ngân hàng, mà còn giúp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính.
4
Tuy nhiên, trái với lo ngại của các ngân hàng trong nước, hoạt động của khối ngân hàng
nước ngoài và NHLD không có nhiều đột biến. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động
của nhóm NHLD, ngân hàng nước ngoài không cao nhưng chắc chắn, ổn định hơn. Thậm
chí, trái ngược với các NHTM trong nước, nhóm NHLD, ngân hàng nước ngoài duy trì
mức tăng trưởng thấp hơn các NHTM trong nước, dẫn tới thị phần tương đối của nhóm
này bị giảm trong giai đoạn 2007 – 2010. Gần đây, với tốc độ tín dụng và huy động được
Đầu tư trong nước (%
GDP)
36.8 43.1 39.7 38.1 38.9 32.6 32.2
Tiết kiệm trong nước
(% GDP)
30.6 29.2 26.5 27.2 27.0 29.2 28.9
CPI 7.5% 8.3% 23.1% 6.9% 9.2% 18.7% 6.8%
M2 (% GDP) 86.3 109.6 101.9 115.2 125.1 127.1 132.7
Thặng dư ngân sách
(% GDP)
(0.4) (2.6) (1.1) (6.9) (7.2) (4.6) (4.8)
Cán cân vãng lai
(triệu USD)
(164) (6,953) (10,823) (6,608) (4,287) 236 (2,300)
Cán cân vãng lai (%
GDP)
(0.3) (9.8) (11.9) (6.8) (4.0) 0.2 (1.6)
FDI ròng (triệu USD) 2,315 6,516 9,279 6,900 7,100 7,430 7,600
Nguồn: Fitchratings và GSO
Tâm lý hưng phấn và những đánh giá tích cực về triển vọng nền kinh tế của nhà đầu
tư nước ngoài và trong nước đã khiến tổng cầu qua tín dụng, đầu tư và tiêu dùng tăng
mạnh, kéo theo đó là áp lực tăng giá tài sản tài chính và bất động sản. Trước khi vào
WTO, giá tài sản ở Việt Nam đã tăng vọt và tiếp tục tăng mạnh sau khi gia nhập WTO.
Không hiếm công ty niêm yết trên sàn có giá cổ phiếu gấp mấy chục lần mệnh giá như
6
FPT (665.000 đồng), SJS (728.000 đồng), ACB (292.000 đồng) Sự hưng phấn và lạc
quan khiến cảm giác thành công có thể đạt được dễ dàng; thị trường chứng khoản tăng
giá, một lượng tiền lợi nhuận từ thị trường chứng khoán được chuyển sang thị trường bất
động sản. Giá cả nhà và đất tăng mạnh, cảm giác giàu có và thịnh vượng ngày một lan
truyền. Ngân hàng tiếp tục cho vay ra với tài sản đảm bảo có giá trị rất lớn và cảm giác an
cơ rủi ro thanh khoản. Rủi ro lãi suất do sai lệch cơ cấu thời hạn và rủi ro ngoại hối do sai
lệch cơ cấu đồng tiền lớn. Nợ xấu sau thời gian tích tụ đã trở nên nghiêm trọng hơn và là
nguyên nhân sâu xa dẫn tới khó khăn thanh khoản trên thị trường tài chính ngân hàng.
Trái với kỳ vọng về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc nâng cao trình độ
quản trị rủi ro và chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu vẫn tăng do những tác động tiêu cực
khác trong bối cảnh hiện nay lớn hơn.
Đến năm 2011, áp lực tái cơ cấu hệ thống NHTM đến mức cần thiết phải xử lý và
Chính phủ đã ban hành Đề án Tái cơ cấu thị trường tài chính, tập trung tái cơ cấu hệ
thống TCTD. Đến cuối năm 2011, NHNN đã lần đầu tiên cho phép sáp nhập TMCP Sài
Gòn, Đệ Nhất và Tín Nghĩa, khởi đầu của quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM. Sau đó,
một loạt các ngân hàng nhỏ hoạt động yếu kém đã được tiến hành tái cơ cấu, tự cơ cấu,
hoặc bị mua lại bởi các ngân hàng lớn hơn. Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC)
từng bước ra đời và đi vào hoạt động với mục tiêu đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, giải
phóng tín dụng, góp phần khơi thông dòng vốn và thúc đẩy phát triển kinh tế.
WTO mang lại nhiều cơ hội kinh doanh hơn, nâng cao tổng giá trị xuất - nhập khẩu,
khơi rộng dòng vốn FDI và dòng vốn gián tiếp vào thị trường Việt nam. Đời sống người
dân được cải thiện với hàng hóa nhiều chủng loại đa dạng và giá cả phải chăng hơn.
Tuy nhiên, gia nhập WTO luôn bao hàm cơ hội và thách thức. Nếu quốc gia và doanh
nghiệp chủ động hội nhập, chuẩn bị kỹ càng, xác định rõ lợi thế và điểm yếu để xác định
chiến lược hội nhập phù hợp, quá trình phát triển sẽ được đẩy nhanh theo hướng bền
vững, nhưng nếu chuẩn bị thiếu chủ động và kỹ lượng, phát triển nóng vội thiếu tính lâu
8
dài và bền vững, những bất cập sẽ bộc lộ nhanh hơn, quá trình suy thoái sẽ diễn ra mau
chóng hơn.
WTO là môi trường để các mất cân đối kinh tế đối ngoại và kinh tế trong nước thể
hiện rõ, đặc biệt làm lộ rõ mất cân đối cơ cấu nền kinh tế, khoét sâu những bất cập trong
nền kinh tế đã và đang gây bất ổn các cán cân quốc nội và cán cân kinh tế đối ngoại.
Theo báo cáo “Đánh giá tổng thể tình hình kinh tế xã hội Việt Nam sau năm năm gia
nhập WTO” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn
2007 - 2011, năm năm sau khi gia nhập WTO thua sút giai đoạn 2002 - 2006 về nhiều
ngân hàng chưa bắt nhịp kịp với những vận động nhanh chóng của thị trường và chưa
thực sự là chốt chặn an toàn đối với những rủi ro tích tụ trong hệ thống tài chính ngân
hàng. Quy chế an toàn còn nhiều lỏng lẻo, bỏ ngỏ nhiều rủi ro như đầu tư chéo, sở hữu
chéo, rủi ro đầu tư tập trung… Điều kiện cấp phép dễ dàng và định hướng phát triển hệ
thống tài chính chưa phù hợp đã mở đường cho các TCTD phát triển mạng lưới nhanh
chóng, đồng loạt chuyển đổi hoạt động, thành lập mới ồ ạt CTCK, quản lý quỹ.
Mô hình và kiến trúc giám sát cẩn trọng vĩ mô và cẩn trọng vi mô của Việt Nam chưa
thay đổi bắt nhịp kịp với những biến động kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính. Giám sát
tài chính Việt Nam hiện nay được thực hiện phân tán theo chuyên ngành. Tuy nhiên,
thiếu sự phối hợp chặt chẽ và không có đầu mối mang tính tích hợp để giám sát toàn diện
của thị trường tài chính, không kịp thời theo dõi sự luân chuyển của dòng tiền, của các
hoạt động đầu tư chéo, sở hữu chéo và các giao dịch ngân hàng ngầm. Các cơ quan giám
sát chuyên ngành tập trung vào giám sát vi mô từng định chế tài chính trong thẩm quyền
giám sát mà chưa quan tâm đúng mức đến giám sát rủi ro hệ thống, và rủi ro của các định
chế tài chính lớn có ảnh hưởng hệ thống. Ngoài ra, quyền hạn của các cơ quan giám sát
còn nhiều hạn chế, nhất là thẩm quyền tiếp cận thông tin và chế tài xử lý vi phạm và giám
sát an toàn còn yếu và thiếu. Giám sát cẩn trọng vĩ mô thị trường tài chính chưa được
quan tâm đúng mức. Hiện tượng thị trường tín dụng tăng trưởng nóng trong một thời gian
10
dài, tất yếu sẽ gây ra những mất cân đối về thanh khoản và tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu đã
không được quan tâm, xử lý từ sớm thông qua các công cụ và chính sách cẩn trọng vĩ mô.
Hạ tầng tài chính còn nhiều bất cập và tư duy chiến lược phát triển hệ thống chưa hợp lý,
phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng trong khi thị trường vốn còn hết sức nhỏ hẹp,
chậm phát triển với mức vốn hóa thị trường chỉ chiếm 21,3% GDP (2011) và 30,4% GDP
(30/06/2012), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Trong thời gian tới đây, nền kinh tế và hệ thống tài chính đang từng bước giải quyết
khó khăn và hậu quả để lại nên chặng đường còn rất chông gai, càng đòi hỏi toàn bộ nền
kinh tế nỗ lực hết mình, tính toán cẩn trọng trong chiến lược hoạt động.
Phần 2. Phân tích cơ hội và thách thức bằng mô hình SWOT
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của thời đại, là điều kiện cần thiết để
gia nhập WTO với những cam kết tự do hoá về mặt tài chính cũng tạo động lực cho các
NHTM Việt Nam thực hiện cải tổ toàn diện về mặt tổ chức, năng lực tài chính, khả năng
quản trị và ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và cải thiện tính
minh bạch trong hoạt động.
Ngoài ra, hội nhập kinh tế còn giúp khơi thông các kênh dẫn vốn giữa thị trường trong
nước với thị trường quốc tế, góp phần khai thác các nguồn vốn tiềm năng trong nước.
Trong hội nhập việc áp dụng các loại hình dịch vụ tài chính ngân hàng phong phú và hiện
12
đại sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam. Nhờ khả
năng phân tán rủi ro tăng mà các nhà đầu tư, doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn đầu tư hơn,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Nhờ các luồng vốn gia tăng nên tính thanh khoản trong
thị trường tài chính ngân hàng cũng gia tăng, nhờ đó giảm lợi tức bù đắp rủi ro và giảm
chi phí thu hút vốn cho đầu tư.
- Chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý đổi mới trang thiết bị: Kinh nghiệm
quốc tế cho thấy, các nền kinh tế hội nhập tài chính quốc tế thường thu hút được các
luồng vốn FĐI khá lớn, đi kèm với các dòng vốn này là công nghệ , và trình độ quản lý
theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra chúng ta còn có khả năng” đi tắt đón đầu” do thừa kế
được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới. Các tác động lan truyền
này giúp tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư thúc đẩy tăng trưởng.
- Tạo ra động lực đổi mới và cải cách NHTM: Sự tham gia của các ngân hàng nước
ngoài thúc đẩy quá trình tham gia vào thị trường tài chính quốc tế của NHTM. Hơn nữa,
ngân hàng nước ngoài đem vào các công cụ kỹ thuật tài chính mới thúc đẩy cải tiến công
nghệ
Hội nhập sẽ tạo ra sự cạnh tranh gây gắt và không kém phần khốc liệt giữa các ngân
hàng trong nước và ngân hàng ngoài nước. Được cạnh tranh bình đŠng để phát triển cũng
là một cơ hội. Do vậy, muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển các ngân hàng trong nước
không thể nào khác phải nổ lực kiện toàn công tác quản lý ngân hàng nhằm đặt hiệu quả
cao, giảm bớt rủi ro và tăng cường độ tin cậy đối với khách hàng. Đổi mới sẽ giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí và hiện đại hóa trang thiết bị để các nhà cung cấp
dịch vụ ngân hàng trong nước có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.
WTO, mạng lưới hoạt động của các NHTM cũng được mở rộng với sự gia tăng đáng kể
của các chi nhánh, phòng giao dịch, ATM. Một số NHTM đã mở chi nhánh, văn phòng
đại diện ở Châu Âu, Châu Á. Tuy nhiên, mức độ mở rộng khá chênh lệch phụ thuộc vào
chiến lược, khả năng của từng ngân hàng.
14
Với việc gia nhập WTO, nhiều DN trong nước đã có cơ hội mở rộng hoạt động ra khu
vực và thế giới, đầu tư ra nước ngoài cũng tăng trưởng đáng kể, là cơ hội để các NHTM
gia tăng doanh số vì họ sẽ trở thành các khách hàng tiềm năng của ngân hàng.
Việc gia nhập WTO có tác động tích cực đối với không chỉ toàn bộ nền kinh tế mà
còn với từng ngành sản xuất dịch vụ cụ thể. Tác động rõ nét nhất là chính sách thương
mại, đầu tư trở nên minh bạch hơn và bình đŠng giữa các thành phần kinh tế. Đây cũng
chính là yếu tố làm cho Việt Nam trở thành môi trường đầu tư hấp dẫn hơn để thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
2.2. Thách thức
Bên cạnh những cơ hội, quá trình hội nhập cũng đi kèm với những yếu tố bất lợi
không thể tránh khỏi, như là:
• Gia tăng rủi ro.
Hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro và tính nhạy cảm của thị
trường tài chính trong nước đối với các biến động trên thị trường thế giới. Trong cuộc
khủng hoảng tài chính ngân hàng Châu Á năm 1997, Việt Nam không chịu nhiều ảnh
hưởng do nền kinh tế còn khá “ đóng” so với các nền kinh tế khác trong khu vực. Tuy
nhiên sau khi gia nhập WTO, sự liên thông giữa thị trường trong nước và thị trường quốc
tế và sự gia tăng các giao dịch vốn cũng làm tăng rủi ro của hệ thống ngân hàng. Trong
khi đó các ngân hàng trong nước chưa có cơ chế quản lý rủi ro và hệ thống thông tin hiện
đại, hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc mở cửa thị trường tài chính làm các
NHTM phải đối mặt với nhiều rủi ro thị trường: rủi ro về giá, tỷ giá và lãi suất và các rủi
ro hệ thống, bắt nguồn từ sự lan truyền của các cuộc khủng hoảng, các cú sốc kinh tế tài
chính khu vực và trên thế giới. Rủi ro cũng có thể đến từ các DN là khách hàng của ngân
hàng do làm ăn thua lỗ, thất bại trong cạnh tranh. Khi có bất cứ một biến động tài chính
nào thì những ngân hàng quy mô nhỏ dễ bị tổn thương hơn cả.
Nhà nước từ 79,5% vào năm 2005 xuống còn 49,3% vào năm 2010, nhường chỗ cho sự
mở rộng thị phần của khối ngân hàng nước ngoài và liên doanh. Trong một cuộc khảo sát
16
của nhóm tư vấn công ty MCG cũng cho thấy kết quả về tâm lý chuyển sang sử dụng
dịch vụ ngân hàng nước ngoài. Cụ thể có hơn 50% khách hàng được hỏi sẽ chuyển sang
gửi tiền tại ngân hàng nước ngoài nếu họ được phép lựa chọn; và khoảng 45% khách
hàng cá nhân và DN sẽ chuyển sang vay ngân hàng nước ngoài.
2.3. Điểm mạnh
- Lợi thế về văn hóa: Việt Nam là nền văn hóa Á đông. Nên tâm lý khách hàng
thường sử dụng những dịch vụ quen thuộc, của những nơi mà khách hàng cảm thấy an
tâm, chiếm tỷ trọng lớn là các ngân hàng Nhà nước và có yếu tố Nhà nước. Vì thế việc
thâm nhập vào thị trường Việt Nam của các ngân hàng nước ngoài không phải là dễ.
2.3 Điểm yếu
- Nội lực tài chính: Điểm yếu lớn nhất đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam
nằm ở nội lực của chính các ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lực hạn chế,
trình độ công nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực.
Mặc dù vốn điều lệ của các ngân hàng đã tăng mạnh so với trước đây nhưng còn nhỏ
bé so với thế giới và khu vực. Mức vốn tự có trung bình của một ngân hàng thương mại
Nhà nước là 4.200 tỷ đồng, tổng mức vốn tự có của 5 ngân hàng thương mại Nhà nước
chỉ tương đương với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Hệ thống ngân hàng
thương mại quốc doanh chiếm đến trên 75% thị trường huy động vốn đầu vào và trên
73% thị trường tín dụng.
Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại Việt Nam
thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế
(8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi
ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá.
- Hệ thống dịch vụ: Điểm hạn chế thứ hai của các ngân hàng trong nước là hệ thống
dịch vụ ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo
nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng huy động
vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là
Các con số thống kê trên cùng với những động thái của các ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam cho thấy sức nóng của cạnh tranh đã lan tới các ngân hàng trong nước mà trước
tiên là nguy cơ mất thị phần, đặc biệt là mảng DVNH đòi hỏi công nghệ cao, cần nhiều
thông tin và kinh nghiệm hoạt động. Điều quan trọng với các ngân hàng trong nước tại
thời điểm này là sẽ cạnh tranh như thế nào khi mà lợi thế chỉ là “sân nhà”. Hầu hết các
NHTM trong nước đều đã có một mạng lưới rộng khắp thông qua các chi nhánh và sở
giao dịch với một hệ thống các khách hàng truyền thống từ nhiều năm, đặc biệt là khối
các NHTM Nhà nước. Không những thế, với thâm niên hoạt động của mình, các ngân
hàng nội địa rất am hiểu tập quán phong tục, tâm lý khách hàng Việt Nam. Đây là những
lợi thế không nhỏ của các ngân hàng trong nước nhưng dường như những vẫn chưa đủ để
giảm bớt những áp lực mà các ngân hàng nước ngoài đang tạo ra. Vì vậy, các ngân hàng
trong nước cũng đang nỗ lực chuẩn bị cho một cuộc đua mới. Song cuộc đua này không
mang tính “đối kháng” mà theo hướng “hợp tác hai bên cùng có lợi” bởi thực tế là thị
19
trường tài chính tại Việt Nam còn rất rộng. Mỗi ngân hàng nên chọn một hướng đi và có
chiến lược phát triển riêng.
Với cơ hội và thách thức mà hội nhập mang lại các ngân hàng thực hiện chiến lược
tăng trưởng, cụ thể là chiến lược hướng ngoại. Nhằm tăng thêm sức mạnh, cạnh tranh với
các ngân hàng nước ngoài. Tăng thêm quy mô vốn và thị trường giúp các ngân hàng
đứng vững, không bị mất thị trường khi các ngân hàng nước ngoài tự do xâm nhập vào
thị trường. Để thực hiện việc này các ngân hàng thường tiến hành sáp nhập với nhau nếu
cả 2 ngân hàng có cùng mục đích và các lợi thế cạnh tranh bổ sung cho nhau. Nếu không
ngân hàng mạnh hơn sẽ thực hiện việc thôn tính, để tăng sức mạnh về thị trường của
mình.
Các ngân hàng trong nước là người hiểu rõ hơn ai hết điều cần làm để cạnh tranh với
các ngân hàng nước ngoài, và một khả năng “hợp lực” đang được xem là một giải pháp
hợp lý trong bối cảnh hiện tại và những năm tới. Việc các ngân hàng, tập đoàn tài chính
nước ngoài mở rộng hoạt động tại thị trường Việt Nam thông qua con đường sở hữu vốn
cổ phần trong các NHTM Việt Nam đem lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Với các đối tác
nước ngoài, họ có thể tận dụng mạng lưới sẵn có, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực
2
Đội ngũ nhân viên trẻ, có ưình độ chuyên môn 0,10
3 0,30
3
Mạng lưới chi nhánh đang được mở rộng 0,10 3 0,30
4
Thị phần và lượng khách hàng tương đối ổn định
0,08 3 0,24
5
Uy tín và thương hiệu đã được khẳng định trên thị
trường
0,09
3 0,27
6
Công tác truyền thông được đẩy mạnh
0,08 3 0,24
7
Vốn tự có còn thấp
0,11 2
0,22
8
Sản phẩm dịch vụ đơn điệu, tính tiện ích chưa cao 0,10
1 0,10
9
Công nghệ ngân hàng chưa hiện đại
0,08 2 0,16
10
Cơ cấu tổ chức chưa khoa học
0,07
2
STT Các yếu tố bên ngoài
Mức độ quan
trọng
Phân
loại
Số điểm quan
trọng
1 Môi trường chính trị ổn định 0,09 3 0,27
2 Luật Ngân hàng ngày càng hoàn thiện 0,07 3 0,21
3
Hợp tác quốc tế mở ra cơ hội cho ngân
hàng hiện đại hóa hệ thông
0,09 2 0,18
4
Dân số trẻ, tiếp thu công nehệ thông tin
một cách nhanh chóng
0,06 3 0,18
5
Thanh toán không dùng tiền mặt ngày
càng phổ biến
0,06 2 0,12
6
Nguồn nhân lực cho hoạt động tài chính
ngân hàng dồi dào
0,07 3 0,21
7 Nền kinh tế tăng trưởng không ổn định 0,10 3 0,30
8
Sự cạnh tranh từ các ngân hàng trong
nước và nước ngoài
0,10 2 0,20
đồng thời hạn chế các nguy cơ từ môi trường kinh tế, công nghệ, đốì thủ cạnh tranh và
sản phẩm thay thế.
Sau khi xây dựng ma trận IFE và EFE, sử dụng ma trận SWOT để xác định các nhóm.
• Ma trận Swot
SWOT
Cơ hội (O) Nguy cơ (T)
1.Môi trường chính trị ổn định.
2. Luật Ngân hàng ngày càng hoàn
thiện.
3. Hợp tác quốc tế mở ra cơ hội cho
ngân hàng hiện đại hóa hệ thống.
4. Dân số trẻ, tiếp thu công nghệ thông
tin một cách nhanh chóng.
5. Thanh toán không dùng tiền mặt
ngày càng phổ biến.
6. Nguồn nhân lực cho hoạt động tài
chính ngân hàng dồi dào.
1. Nền kinh tế tăng trưởng không ổn
định.
2. Sự cạnh tranh từ các ngân hàng
trong nước và nước rmoài.
3. Quy định của Ngân hàng Nhà nước về
vốn điều lệ.
4. Các kênh đầu tư khác có nhiều lợi
nhuận.
5. Khoa học công nghệ có tốc độ phát
triển nhanh chóng.
6. Xu thế mua lại và sát nhập các ngân
hàng nhỏ.
).
ST
1
: Định vị thương hiệu (S3, S4, S
5
, S
6
,
T2, T4, T5).
ST
2
: Tãng cường kiểm tra kiểm soát nội
bộ và quản lý
rủi ro (S
1
, S2, S3; T
1
, T3, T
6
,
T
7
).
Các điểm yếu (W) Nhóm chiến lược (WO) Nhóm chiến lược (WT)
1. Vốn tự có còn thấp.
2. Sản phẩm dịch vụ đơn điệu, tính tiện
ích chưa cao.
3. Công nghệ ngân hàng chưa hiện đại.
4. Cơ câu lổ chức tại một số chi nhánh
chưa khoa học.
1
: Hoàn thiện bộ máy tổ chức (W
4
, w
s
;
T
2
, T
6
).
WT2: Cắt giảm hoặc di dời những điểm
giao dịch không hiệu quả (W
1
, w
2
, w
3
, w
4
;
Tt, t
2
, T3.T4, Ts, T
6
, T
7
).
Việc sử dụng ma trận SWOT cho thấy được các chiến lược mà NHTM VN cần ưu
tiên thực hiện trong thời gian tới, đó là: (1) Thâm nhập thị trường, (2) Đào tạo nguồn