Tài liệu BÁO CÁO " KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ BỆNH GẠO Ở CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) " - Pdf 10

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 262-269 Trường Đại học Cần Thơ

262
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ
BỆNH GẠO Ở CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus)
Nguyễn Thị Thu Hằng
1
và Đặng Thị Hoàng Oanh
1

ABSTRACT
A total of 324 samples of stripped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)
were collected from 10 grow out pond at several location in the Mekong Delta
from July to December 2009. These samples were subjected to gross
observation, fresh smear and histopathological analysis. Result from fresh
smear observation showed that 133 fish samples displayed opalescent or milky
oval shaped cysts which sizes were around 0,5-4 mm. These fish did not show
any typical infected sign. Their sizes ranged from 10 g to 910 g. The number of
cysts in individual fish varied greatly from 0-49 cysts/fish, but commonly about
1-5 cysts/fish. Result from histopathological analysis showed necrotic
channges developed in muscle fibres and the necrotic areas were replaced by
parasite stages and spores.
Keywords: Striped catfish, Microsporidia, Myxobolus, Parasitic disease.
Title: Preliminary results of the study on Microsporidia and Myxobolus
parasitic disease on the stripped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)
TÓM TẮT
Tổng cộng có 324 mẫu cá tra được thu từ 10 ao nuôi ở một số địa phương
thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12
năm 2009. Mẫu cá được quan sát dấu hiệu bệnh lý, soi tiêu bản tươi và phân
tích mô bệnh học. Kết quả soi tươi cơ cá có 133/324 mẫu có chứa bào nang

biệt là sản phẩm thịt cá không tiêu thụ được. Hơn nữa, nếu tỉ lệ nhiễm và
cường độ nhiễm “gạo” cao cũng có thể gây chết cá và làm thiệt hại lớn. Hiện
nay còn rất ít thông tin và hầu như chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về bệnh
gạo trên cá tra ở Việt Nam. Trong báo cáo này chúng tôi trình bày một số kết
quả nghiên cứu bước đầu về bệnh gạo ở cá tra cung cấp thông tin cho các
nghiên cứu phòng trị bệnh gạo một cách khoa học và hiệu quả.
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu mẫu
Mẫu cá được thu ngẫu nhiên tại các ao nuôi ở Vĩnh Long, Hậu Giang và Cần
Thơ từ tháng 7-12/2009. Số lượng mẫu thu từ 10-15 con/ao (giai đoạn cá giống
đến cá thịt). Cá được vận chuyển sống về phòng thí nghiệm bằng thùng nhựa
hoặc thùng xốp có chứa một ít nước và sục khí. Đối với cá vừa mới chết thì trữ
lạnh bằng nước đá, vậ
n chuyển về phòng thí nghiệm và phân tích trong ngày.
2.2 Phương pháp phân tích mẫu
2.2.1 Lấy mẫu cơ cá
Dùng kim mũi giáo hủy não cá, cân trọng lượng và đo chiều dài cá. Đặt cá nằm
trên thớt, dùng dao cắt một đường ngang sau phần đầu cá, tiếp tục cắt dọc theo
thân cá, từ đầu xuống đuôi theo vết cắt đầu tiên. Cẩn thận cắt sát phần cơ gần
xương sống theo chiều từ mặt lưng xuống mặt bụng và cắt rời phần cơ này ra
khỏi cơ thể cá. Thực hiện tương tự với phần cơ còn lại. Dùng dao cắt bỏ phần
da và rửa sạch mẫu.
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 262-269 Trường Đại học Cần Thơ

264
2.2.2 Phương pháp soi tươi và nhuộm tiêu bản
Phân tích mẫu cá tra bệnh gạo bằng phương pháp soi tươi và nhuộm tiêu bản
theo phương pháp của Tonguthai et al., (1999).
2.3 Kiểm tra ký sinh trùng
2.3.1 Soi tươi

Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi lần lượt ở độ phóng đại 10X, 40X và
100X và chụp hình tiêu bản đặc trưng.
2.5 Xử lý số liệu
Mức độ nhiễm bệnh gạo được tính bằng tỉ lệ nhiễm [(tổng số cá nhiễm
bệnh/tổng số cá kiểm tra) x 100] và cường độ nhiễm (số bào nang/cơ cá).
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 262-269 Trường Đại học Cần Thơ

265
3 KẾT QUẢ
3.1 Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm bào nang
Kết quả soi tươi 324 mẫu cá tra đã phát hiện 133 mẫu cá nhiễm bào nang (bệnh
gạo) của ký sinh trùng ở nhiều mức độ khác nhau.
Qua 4 đợt thu mẫu trong các ao nuôi ở Hậu Giang đã thu được 77 mẫu cá,
trong đó có 31 cá bị bệnh gạo (chiếm 40%) và 46 cá không bệnh. Kích cỡ trung
bình cá bị bệnh gạo là 85,5 g. Cường độ nhiễm trung bình 3 bào nang/cá. Cá
biệt ở đợt thu mẫu tháng 8 đã thu được 1 cá bệnh với cường độ nhiễm đến 49
bào nang và các bào nang có kích thước khác nhau.
Tổng số cá thu ở Vĩnh Long qua 5 đợt thu mẫu là 128 cá, trong đó có 61 cá
bệnh (chiếm 47,6%) và 67 cá khỏe. Kích cỡ trung bình cá nhiễm bệnh gạo là
395 g. Cường độ nhiễm trung bình 4 bào nang/cá. Một số cá nhiễm bệnh gạo
với cường độ nhiễm dày đặc cao nhất là 27 bào nang/cá, các bào nang lớn hình
tròn hay hình bầu dục có chiều dài 2-3 mm. Những cá này còn có biểu hiện
vàng da bên ngoài với các mức độ nặng nhẹ khác nhau. Khi mổ cá để phân tích
nhận thấy phần cơ thịt phân hủy rất nhanh và có mùi hôi.
Ở Cần Thơ, qua 5 đợt thu mẫu ở Thới Lai với tổng số mẫu cá thu được là 78
mẫu, trong đó có 31 cá bệnh và 47 cá khỏe. Trọng lượng trung bình cá bị bệnh
là 450 g. Tỷ lệ nhiễm trung bình là 57,5% và cao nhất ở tháng cuối vụ nuôi là
85,7%. Cường độ nhiễm trung bình 3 bào nang/cá. Riêng 2 đợt thu mẫu từ ao
ương cá giống ở Ô Môn có 41 mẫu cá, trong đó có 10 cá bệnh (chiếm 24,3%)
với kích cỡ cá từ 10-70 g. Kết quả phân tích mẫu đã phát hiện những cá bị bệnh
Hình 1: Cơ cá tra nhiễm bào tử trùng, bào nang có dạng màu trắng sữa, giống
như hạt gạo.
3.3 Đặc điểm bào tử bên trong bào nang

Khi lấy bào nang trong cơ ép trên lam và quan sát dưới kính hiển vi ở các độ
phóng đại khác nhau thấy có rất nhiều bào tử nhỏ bên trong Một số bào nang
có chứa cả hai loại bào tử với hai kích cỡ khác nhau. Những bào tử có kích cỡ
lớn gấp 10 lần bào tử nhỏ chiếm số lượng rất ít (4-5 bào tử/TT). Khi quan sát
tiêu bản dưới kính hiển vi (Hình 2B) ở vật kính 40X có thể nhìn thấy rõ bào tử
nhỏ có dạng hình quả lê (Hình B-a) tương tự cấu trúc củ
a nhóm Microsporidia
và bào tử lớn có 2 cực nang (Hình B-b) thuộc giống Myxobolus (Lom và
Dykova, 1992).

Hình 2: (A) (Æ) Bào tử Myxobolus trong bào nang (tiêu bản tươi), 10X; (B) Bào
tử quan sát ở vật kính 40X: (Æa) Bào tử
Microsporidia; (Æb) Bào tử
Myxobolus.
A
B
a
b
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 262-269 Trường Đại học Cần Thơ

267
Khi nhuộm tiêu bản mẫu bào nang bệnh gạo bằng thuốc nhuộm Giemsa và
quan sát dưới kính hiển vi nhận thấy các bào tử bắt màu xanh của thuốc nhuộm
ở phần cực nang (Hình 3C). Khi nhuộm với thuốc nhuộm nitrat bạc các bào tử


Hình 5: Vùng cơ bị mất cấu trúc (H&E). A. vùng cơ bị hoại tử (mẫu M-P4-S2)
(40X). B. vùng cơ bị hoại tử (mẫu M-P2-S2) (40X) Hình 6: Mô liên kết (Æ) bên ngoài bào nang (mẫu M-P6-S2) (H&E, 400X)
Khi thích bào tử trùng Myxobolus và vi bào tử trùng Microsporidia xâm nhập
vào cơ của cá tra tạo ra những bào nang trong cơ cá gây hủy hoại tế bào vùng
ký sinh và khi số lượng bào tử phát triển quá mức sẽ làm vỡ bào nang, tạo điều
kiện cho bào tử lan sang những vùng khác, lúc đó sẽ có nhiều vùng cơ mà
chúng ký sinh bị mất cấu trúc. Những vùng cơ khỏe thì từ những bó cơ lớn sẽ
chuyển thành những bó cơ nhỏ hơn (Hình 5) và dần dần những bó cơ đó sẽ
được thay thế bằng những bào tử (Hình 6). Một số tiêu bản của mẫu cá bệnh
khi quan sát thì vùng cơ xung quanh thấy có dấu hiệu bị Microsporidia sp. tấn
công. Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu của Lom và Dykova (2000) về sự
biến đổi mô học của cơ cá tra nhiễm Microsporidia sp thu ở Bangkok, Thái
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 262-269 Trường Đại học Cần Thơ

269
lan. Những thay đổi chính về mô học gây ra bởi Microsporidia sp được tìm
thấy ở cơ bên, cơ lưng, cơ bụng. Hầu hết các khối cơ bên bị che kín bởi các bào
tử. Những thay đổi nghiêm trọng về cấu trúc trong mô cơ đi kèm với sự nhân
lên của Microsporidia sp. và sự lây lan của sự truyền nhiễm đều chiếm ưu thế
trong các mẫu được quan sát. Thêm vào đó sự thay đổi về cấu trúc của những
sợi cơ đặc trưng như sự mất đi của những sợi cơ, hoại tử cơ được quan sát ở tất
cả các giai đoạn phát triển cũng như ở ngoại vi thay vào đó tập hợp các bào tử
khổng lồ, tổng thể này lớn lên tăng kích thước hoặc ít tỏa tròn hơn.
4 KẾT LUẬN
Cá giống có khối lượng khoảng 10 g đã nhiễm bào nang (bệnh gạo) của ký sinh
trùng, mức độ nhiễm khác nhau theo kích cỡ cá. Một số mẫu nhiễm bào nang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status