Chương 5 : TIỀN VÀ LẠM PHÁT
I.TIỀN LÀ GÌ?
Ngày nay phần lớn các giao dịch kinh tế của chúng ta đều được thực hiện thông qua
tiền. Đối với cá nhân, tiền vừa là phương tiện vừa là mục đích của hoạt động kinh tế. Đối với
quốc gia, tiền được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô. Trong thực tế tiền tệ đã trải qua
nhiều hình thức, nhiều giai đoạn phát triển từ thấp đến cao theo thời gian của lịch sử và có
nhiều nhà kinh tế học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tiền chẳng hạn như: Tiền là một
hình thức tồn trữ tài sản để sẵn sàng cho các giao dịch hay tiền là bất cứ phương tiện nào
được thừa nhận chung để làm trung gian cho việc mua bán hàng hóa Chúng ta cần xác định
rõ bản chất của đồng tiền đang được sử dụng để từ đó có thể nắm giữ chúng như một công cụ
phục vụ cho ý muốn của con người.
I.1. Chức năng của tiền
Tiền có 3 chức năng cơ bản thông dụng, đó là chức năng làm phương tiện trao đổi, phương
tiện cất giữ giá trị, phương tiện thanh toán.
a) Phương tiện trao đổi
Ý nghĩa của chức năng này là tiền được sử dụng như vật trung gian cho việc mua bán hàng
hóa. Đây là chức năng cơ bản nhất mà chúng ta đã dùng nó để đưa ra khái niệm về tiền.
Muốn trở thành một phương tiện trao đổi tốt thì hệ thống tiền tệ phải đủ cỡ: lớn, vừa và
nhở theo tỷ lệ phù hợp với cơ cấu kinh tế. Nếu nền kinh tế có nhiều loại hàng hóa có giá trị
thấp nhưng lại thiếu tiền lẻ thì sẽ gây khó khăn trong việc trong việc lưu thông hàng hóa.
Ngược lại, nếu nền kinh tế có nhiều loại hàng hóa có giá trị cao nhưng lại có ít tiền lẻ thì việc
di chuyển tiền bạc rất cồng kềnh, bất tiện.
Ví dụ ở Việt Nam, cuộc đổi tiền ngày 10/9/1985 với tờ giấy 50 đồng có giá trị lớn nhất
đã không thể chi tiêu được vì thiếu tiền lẻ. Lúc đó dân chúng đã tự hạn chế các cuộc giao dịch
nhỏ mà họ thấy không cần thiết lắm, làm thiệt hại cho sản xuất. Dưới thời Pháp thuộc, trước
năm 1945 cũng có hiện tượng thiếu tiền lẻ, dân chúng phải xé đôi tờ giấy bạc để trao đổi hàng
hóa.
Ngoài ra, nếu như đồng tiền bị mất giá trầm trọng thì cũng khó thực hiện chức năng
phương tiện trao đổi. Lúc đó mọi người không muốn bán hàng hóa để lấy những đồng tiền vô
giá trị. Cơ chế hàng đổi hàng lại xuất hiện trở lại. Nói cách khác, người ta không muốn dùng
đồng tiền đó để làm trung gian cho trao đổi hàng hóa. Điều này đã từng xảy ra ở nước Đức
Theo lịch sử, tiền tệ đã trải qua 3 hình thái: tiền bằng hàng hóa, tiền qui ước và tiền qua
ngân hàng.
a) Tiền hàng hóa (commodity money)
Tiền hàng hóa xuất hiện sớm nhất và được lưu hành trong một thời gian rất dài. Thời điểm
xuất hiện vào thế kỷ13, 12 trước Công nguyên.
Tiền bằng hàng hóa hay “hóa tệ” là một quốc gia công nhận để làm vật trung gian cho việc
mua bán hàng hóa. Hóa tệ có hai loại: hóa tệ làm bằng kim loại và hóa tệ không phải là kim
loại.
Lúc đầu người ta sử dụng các loại hàng hóa thông thường như lúa mì, súc vật, lông thú,
rượu vang,… để làm tiền. Vỏ sò, vỏ hến cũng được dùng để làm tiền ở Châu Phi. Ở Tây Tạng
người ta sử dụng trà đóng thành bánh để làm tiền. Những chiếc răng chó ở quần đảo
Admiralty, những điếu thuốc lá ở trong tù,… cũng được dùng làm tiền.
Việc sử dụng hóa tệ không phải là kim loại có nhiều bất tiện. Trước hết, chúng chỉ được
công nhận trong một nhóm người hay một địa phương nào đó. Kế đến là dễ bị hư hỏng, không
thuận lợi trong việc di chuyển. Và trong nhiều trường hợp khó phân thành các đơn vị nhỏ khi
cần thiết. Vì vậy dần dần người ta sử dụng hóa tệ kim loại để thay thế các loại hóa tệ nói trên.
Hóa tệ kim loại được tồn tại ở một số loại thông dụng như sắt, đồng, kẽm, bạc, vàng. Càng
về sau vàng và bạc càng ngày được ưa chuộng, do chúng có nhiều ưu điểm hơn các kim loại
khác.
Nguyên tắc chung của hóa tệ là giá trị của tiền bằng với giá trị vật dùng làm tiền. Ví dụ: 1
đồng tiền vàng có giá trị ghi trên bề mặt là 1000 đồng thì điều đó có nghĩa là số lượng vàng và
tiền công đúc (nếu có) của đồng vàng đó có giá trị đúng bằng 1000 đồng. Chính nhờ nguyên
tắc này mà chúng ta có thể phân biệt giữa tiền bằng hàng hóa và tiền qui ước.
b) Tiền quy ước ( token money)
Tiền qui ước còn được gọi là chỉ tệ (fiat money) là loại tiền được lưu hành do chỉ thị hay
do sự cho phép của chính phủ. Nó được gọi là tiền qui ước bởi vì giá trị ghi trên mặt đồng tiền
là giá trị tượng trưng, nó lớn hơn rất nhiều so với vật dùng làm tiền. Nó là cái biểu thị cho một
lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chung và tin vào đó để sử dụng. Do đó các nhà
kinh tế Việt Nam gọi tiền này là “tín tệ”, nghĩa là tiền tệ do sự tín nhiệm mà có.
Tiền qui ước cũng có hai loại: Tiền kim loại (coin) và tiền giấy (paper money). Cả hai dạng
thì phải tìm gặp một người có thịt muốn lấy gạo. Điều đó thật khó khăn, nhất là khi xét đến cả
số lượng hàng hóa mà hai người muốn trao đổi với nhau điều đó dẫn đến sự xuất hiện của tiền
hàng hóa xuất hiện để hỗ trợ cho giao dịch: người ta sẽ chấp nhận một số tiền loại tiền hàng
hóa như vàng với một giá trị nào đó, hãy hình dung một nền kinh tế trong đó người ta mang
theo hàng túi vàng khi đi mua hàng. Khi một giao dịch mua bán được thỏa thuận, người mua
phải trả một số vàng tương ứng với giá trị giao dịch. Nếu người bán tin khối lượng và chất
lượng thì cả hai sẽ thực hiện cuộc giao dịch.
Chánh phủ là người đầu tiên can thiệp vào để giảm chi phí giao dịch của việc sử dụng
tiền hàng hóa. Sử dụng vàng thô như tiền thì rất tốn kém vì cần phải có thời gian để kiểm định
chất lượng và đo lường chính xác số lượng. Để giúp giảm chi phí, cháng phủ đóng dấu chất
lượng và khối lượng cho vàng, nên các đồng tiền vàng. Các đồng tiền vàng dễ sử dụng hơn do
giá trị của nó được công nhận rộng rãi.
Bước kế tiếp là chánh phủ phát hành các chứng chỉ vàng – mảnh giấy có thể thay thế
cho một lượng vàng nào đó. Nếu người ta tin vào lời hứa của chánh phủ, các mãnh giấy này sẽ
được xem có giá trị như chính số vàng mà nó đảm bảo bởi chánh phủ trở thành tiêu chuẩn tiền
tệ. Cuối cùng, tiền dựa trên giá trị không còn cần thiết. Không ai quan tâm nhiều đến việc đem
những tờ giấy này đổ thành vàng và cũng không ai quan tâm đến việc cơ hội chuyển đổ này có
thể bị hủy bỏ hay không vì nếu như vậy nền kinh tế sẽ bị sụp đổ. Miễn người ta chấp nhận
dùng tiền giấy để trao đổi thì chúng sẽ có giá trị và được xem như là tiền. Vì vậy, hệ thống tiền
hàng hóa trở thành hệ thống tiền giấy.
I.4 Làm thế nào để kiểm soát được lượng tiền?
Lượng tiền sẵn có để tiêu xài được gọi là số cung tiền. Trong nền kinh tế sử dụng tiền
hàng hóa, số cung tiền chính là số lượng hàng hóa đó. Trong nền kinh tế sử dụng tiền giấy như
nền kinh tế hiện nay, chánh phủ kiểm soát lượng tiền theo số cung tiền vì theo quy định của
pháp luật chánh phủ sẽ độc quyền in và phát hành tiền. Cũng như thuế hay chi tiêu chánh phủ
là các công cụ chánh sách của chánh phủ thì số cung tiền tệ cũng do chánh phủ quyết định.
Ở hầu hết quốc gia trên thế giới, kiểm soát số cung tiền là công việc của ngân hàng trung
ương. Số cung tiền được thực hiện trong khuôn khổ chánh sách tiền tệ. Một trong những cách
mà các ngân hàng trung ương kiểm soát số cung tiền tệ là thông qua các hoạt động trên thị
trường mở - đó là mua và bán các trái phiếu chánh phủ trên thị trường. Để tăng số cung tiền,
II.1. Giao dịch và phương trình định lượng
Người ta giữ tiền để mua hàng hóa, dịch vụ. Nếu cần thiết cho các giao dịch này thì
người ta sẽ giữ nhiều tiền. Vì vậy, số lượng tiền trong nền kinh tế có liên hệ chặt chẽ với số
lượng tiền sử dụng trong các giao dịch.
Mối quan hệ giữa số lượng tiền sử dụng trong các khoản giao dịch và lượng tiền được
diễn tả qua đẳng thức sau, được gọi là phương trình định lượng:
M x V= P x T
Trong đó: M: Số lượng tiền
V: Tốc độ chu chuyển tiền
P: Giá
T: Số lần giao dịch
Hãy xem xét từng biến số một trong phương trình này. Vế phải của phương trình này đề
cập đến giao dịch trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. T cho biết số lượng giao dịch trong một
khoảng thời gian nào đó, một năm chẳng hạn. Nói cách khác, T là số lần mà trong đó hàng
hóa, dịch vụ được trao đổi thành tiền. P là giá của một giao dịch tiêu biểu hay số tiền được trao
đổi. Như vậy tích số PxT chính là số tiền được trao đổi trong một năm.
Vế trái của phương trình này đề cập đến tổng số lượng tiền được sử dụng trong giao
dịch
Ví dụ: Trong một năm 100 chiếc xe ôtô được bán với giá 1000 đvt. Khi đó T=100 và
P=1000. Như vậy, tổng số tiền giao dịch là:
PxT= 1000đvt/chiếc x 100 chiếc/ năm =100000đvt/ năm.
Giả sử số lượng tiền của nền kinh tế là M=50000đvt. Khi đó tốc độ chu chuyển tiền V
trên thị trường là:
V = (P xT)/ M = (100000 đvt/ năm)/(50000đvt)= 2 lần/ năm
Phương trình định lượng này rất hữu ích vì nó cho biết một trong các biến số này thay
đổi thì một hay nhiều biến số khác thay đổi để duy trì sự cân bằng trong nền kinh tế.
II.2. Từ giao dịch đến thu nhập
Các nhà kinh tế sử dụng phương trình định lượng khác đôi chút so với phương trình
định lượng được giới thiệu trên. Khó khăn đối với phương trình định lượng trên là làm thế nào
để đo lường được số giao dịch. Để giải quyết vấn đề này, số giao dịch T được thay thế bằng
lợi của việc cất giữ một số tiền nào đó. Cũng giống như việc sở hữu một chiếc xe máy giúp đi
lại dễ dàng hơn. Vì vậy, cũng giống như thu nhập cao hơn sẽ có thể làm tăng nhu cầu đối với
xe máy, thu nhập cao hơn sẽ dẫn đến nhu cầu đối với tiền tệ thực cao hơn.
Từ hàm số cầu tiền tệ thực này, ta có thể xây dựng nên phương trình định lượng. Để
làm điều này, ta phải làm thêm điều kiện là số cầu đối với tiền thực (M/P) d phải bằng với số
cung tiền tệ thực M/P. Vì vậy:
M/P = kY
Sắp xếp lại đẳng thức này, ta được:
M/k = PY hay MV = PY
Trong đó: V = 1/k. Vì vậy, khi sử dụng phương trình định lượng, ta phải giả định là
số cung tiền tệ thực bằng với số cầu của nó và số cầu là một tỷ lệ nào đó của thu nhập.
II.4. Tốc độ chu chuyển tiền cố định
Cũng giống như nhiều giả định trong kinh tế học, ta có thể cho rằng giả định tốc độ
chu chuyển cố định là chính xác ở mức độ tương đối nào đó. Tốc độ chu chuyển thay đổi khi
hàm số cầu tiền tệ thay đổi. Thí dụ, khi máy rút tiền tự động xuất hiện cho phép giảm số tiền
tệ cần phải cất giữ nên cũng làm giảm tham số nhu cầu đối với tiền tệ k. Loại máy này cũng
làm tăng tốc độ chu chuyển của tiền trong nền kinh tế hay làm tăng V. Tuy nhiên, giả định
rằng tốc độ chu chuyển là số cố định và xem giả định này có tác dụng như thế nào đối với số
cung tiền tệ lên nền kinh tế.
Khi đã giả định tốc độ chu chuyển là cố định, phương trình định lượng có thể được
xem như là một lý thuyết về GDP danh nghĩa. Phương trình định lượng này nói rằng:
MV = PY
Trong đó V cho biết tốc độ chu chuyển tiền cố định. Vì vậy, sự thay đổi trong đó cung
tiền tệ (M) sẽ tạo ra sự thay đổi tương ứng của GDP danh nghĩa (PY). Nghĩa là, số cung tiền sẽ
quyết định GDP danh nghĩa của nền kinh tế.
II.5. Tiền và lạm phát
Do lạm phát là số phần trăm thay đổi của giá nên lý thuyết này cũng chính là lý thuyết
lạm phát . Phương trình định lượng có thể viết dưới dạng phần trăm như sau:
%thay đổi của M + % thay đổi của V = %thay đổi của P + % thay đổi của Y
Ta có: r = i – Π
Lãi suất thực chính là chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát.
Vd: bạn gởi tiền trong ngân hang với lãi suất là 10%/năm. Sang năm bạn rút tiền ra
cùng lãi. Khi đó số tiền mà bạn nhân được không tăng thêm 10% về mặt giá trị so với thời
điểm bạn gởi. Nếu lạm phát là 5% thì thực chất giá trị số tiền bạn nhận được từ ngân hang chỉ
tăng thêm 5% so với thời diểm bạn gởi, đó là do lạm phát làm đồng tiền của bạn giạm di 5% về
mặt giá trị.
IV.2. Hiệu ứng Fischer
i = r + Π
Đây là đẳng thức Fischer. Đẳng thức này cho thấy lãi suất danh nghĩa có thể thay đổi
do ba nguyên nhân: (i) lãi suất thực thay đổi, (ii) tỷ lệ lạm phát thay đổi, hay (iii) cả hai cùng
thay đổi.
Theo lý thuyết định lượng,nếu số cung tiền tệ tăng 1% thì lạm phát sẽ tăng 1%. Theo
đẳng thức Fischer, 1% tăng lên của lạm phát sẽ tạo ra 1% tăng lên của lãi suất danh nghĩa. Mối
quan hệ một-một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fischer.
IV.3. Hai loại lãi suất thực
Ta phải phân biệt hai loại lãi suất thực: lãi suất thực “trước” và lãi suất thực “sau”.
Lãi suất thực “trước” là lãi suất thực mà người cho vay và người vay thống nhất với nhau.
Lãi suất thực “sau” là lãi suất thực thực sự phát sinh.
Nếu ký hiệu Π
là tỷ lệ lạm phát thực tế và Π
e
là tỷ lệ lạm phát kỳ vọng thì lãi suất thực
trước là i-Π
e
và lãi suất thực sau là i-Π. Hai loại lãi suất thực này khác nhau khi tỷ lệ lạm phát
thực Π khác với tỷ lệ lạm phát kì vọng Π
e
.
Đẳng thức trên cho thấy nhu cầu tiền thưc là hàm số của thu nhập Y và lãi suất danh
nghĩa i thu nhập cao làm tăng nhu cầu tiền thực. Lãi suất danh nghĩa cao thì số cầu tiền thực sẽ
giảm đi vì khi đó chi phí cơ hội của việc giữ tiền sẽ tăng lên.
V.2. Tiền trong tương lai và giá trong hiện tại.
Tiền, giá, lãi suất có mối quan hệ theo nhiều cách. Biểu đồ 5.2 minh họa các mối quan
hệ này. Như lý thuyết định lượng giải thích, số cung và số cầu tiền thực sẽ cùng nhau quyết
định giá cân bằng. sự thay đổi của giá chíng là tỷ lệ lạm phát. Lạm phát tới lượt nó, lại ảnh
hưởng tới lãi súat danh nghĩa thông qua hiệu ứng Fisher. Nhưng bây giờ ta lại biết rằng lãi suất
danh nghĩa chính là chi phí giữ tiền nên lãi suất danh nghĩa lại có tác động ngược lại đối với
nhu cầu tiền thực.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mối quan hệ cuối cùng đến lý thuyết về giá. Đầu tiên, hãy
cho số cung tiền thực M/P bằng với số cầu tiền thực L(i,Y).
M/P = L(i,Y)
Biu 5.2. Mi quan h gia tin, giỏ v lói sut.
K tip s dnh ng thc Fisher vit lói sut danh ngha l tng ca lói sut thc
v t l lm phỏt:
M/P = L(r +
e
, Y)
ng thc ny cho bit s cung tin ph thuc vo lm phat k vng, nú cp n
mt vn thc t hn lý thuyt nh lng v s nh hỡnh ca giỏ. Lý thuyt nh lng tin
cho rng s cung tin hụm nay quyt nh giỏ c hụm nay. kt lun ny ch ỳng mt phn: nu
lói sut danh ngha v sn lng khụng i, giỏ s thay i theo s cung tin. Tuy nhiờn, lói
sut danh ngha khụng c nh vỡ nú tựy thuc vo lm phỏt k vng v lm phỏt k vng lai
ph thuc vo tc tng trng ca s cung ti n. S hin din ca lói sut danh ngha trong
hm cu tin thc cp n mt c ch khỏc qua ú s cung tin li nh hng n giỏ.
Hm s cu tin thc nh trờn ng ý rng giỏ khụng ch ph thuc vo s cung tin
t hụm nay m cũn ph thuc s cung tin k vng trong tng lai. Gai thớch lý do ti sao nh
vy, gi s ngõn hng trung ng cho bit s tng s cung tin trong thi gian ti nhng khụng
của sự gia tăng đều đặn có thể dự đoán được 12% năm của giá cả là bao nhiêu?
Mỗi loại chi phí của lạm phát là ảnh hưởng của thuế lạm phát lên số tiền mà người
ta muốn cất giữ. Như đã đề cập trước đây, lạm phát cao sẽ dẫn đến lãi xuất danh nghóa cao
hơn và sao đó sẽ dẫn đến số cầu đối với tiền tệ thực sẽ thấp hơn. Nếu cất giữ tiền ít hơn thì
người ta sẽ phải đi đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền. Chẳng hạn, họ có thể rút
hai lần 500.000 trong một tuần thay vì một lần 1 triệu đồng trong một tuần. Sự bất tiện
trong việc giảm số tiền cất giữ được gọi một cách hình tượng là chi phí giầy dép của lạm
phát do đi đến ngân hàng thưòng xuyên hơn thì giày dép mau hư hơn.
Loại chi phí thứ hai của lạm phát cao hơn là xuất phát việc lạm phát cao hơn sẽ làm
cho các doanh nghiệp thay đỏi giá cả niêm yết của mình một cách thường xuyên hơn. Thay
đổi giá là tốn kém vì cần phải in ấn lại các hồ sơ giấy tờ. Chi phí này được gọi là chi phí
thực đơn, vì nếu giá cả cao hơn thì nhà hàng phải in lại thực đơn một cách thường xuyên
hơn.
Loại chí phí thứ ba của lạm phát sinh bởi các doanh nghiệp đối mặt với chi phí thực
đơn sẽ thay đổi giá một cách không thường xuyên. Vì vậy, nếu lạm phát cao hơn thì sự biến
đông trong giá cả tương đối sẽ cao hơn. Giả sử một doanh nghiệp phát hành catalogue hàng
năm vào tháng Giêng. Nếu không có lạm phát thì giá sản phẩm của doanh nghiệp so với
mức giá khác là không đổi trong suốt cả năm. Song nếu lạm phát là 1%/tháng thì từ khi bắt
đầu cho đến cuối năm giá tương đối của doanh nghiệp sẽ giảm 12%. Vì vậy, lạm phát gây
ra sự biến động trong giá cả tương đối. Do các nền kinh tế theo đònh hướng thò trường phân
phối nguồn tài nguyên xã hội theo dấu hiệu của giá tương đối nên giá lạm phát có thể dẫn
đến không hiệu quả.
Loại chi phí thứ tư là loại chi phi từ luật thuế. Nhiều điều khoảng trong luật thế
không tính đến lạm phát. Lạm phát có thể làm thay đổi trách nhiệm của các cá nhân đối
với thuế mà những người làm luật không lưu ý.
Loại chi phí thứ năm là loại chi phí từ việc bất tiện của cuộc sống trong môi trường
mà giá thay đổi thường xuyên. Tiền là nền tảng của thực hiện của các gia dòch kinh tế. Khi
có lạm phát nền tảng này bò thay đổi.
VI.2. Lạm phát không kỳ vọng
Lạm phát không kỳ vọng có ảnh hưởng xấu hơn so với lạm phát bất ổn đònh và kỳ
Với ảnh hưởng của sự không chắc chắn về lạm phát, có lẽ rất “nhức đầu” khi nhiều
hợp đồng danh nghóa đang tồn tại. Ai đó có thể nghó rằng những người vay và những người
vay sẽ bảo vệ mình bằng cách ký các hợp đồng dựa trên các biến số thực - đó là bằng cách
đề cập đến một chỉ số giá nào đó. Trong các nền kinh tế với lạm phát cao và biến động
nhiều, các chỉ số này được sử dung thường xuyên. Thỉnh thoảng, việc làm này được thực
hiện bằng cách sử dụng các ngoại tệ có giá trò ổn đònh. Ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát
thấp hơn, như Hoa Kỳ chẳng hạn, sử dụng chỉ số giá trong các hợp đồng ít phổ biến hơn.
Thí dụ, trợ cấp xã hội sẽ đảm bảo phần nào cho người già sẽ được điều chỉnh theo sự thay
đổi của chỉ số giá tiêu dùng.
Cuối cùng khi nghó về chi phí của lạm phát, lưu ý một hiện tượng phổ biến là lạm
phát cao thì cũng thường hay biến động. Đó là, ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao thì lạm
phát củng sẽ biến động lớn qua các năm. Điều này cũng có nghóa là các quốc gia theo đuổi
chính sách tiền tệ lạm phát cao thì củng phải chấp nhận biến động lơn của lạm phát. Như
đựơc đề cập trước đây, lạm phát biến động nhiều sẽ gia tăng sự không chắc chắn cho
nhưng người vay và những người cho vay thông qua việc buộc họ phải tái phân phối lại tài
sản một cách không biết trước.
VII. SIÊU LẠM PHÁT
Dựa vào tỷ lệ lạm phát các nhà kinh tế học thường chia lạm phát làm ba loại: Lạm phát
vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải (Moderate inflation) là loại lạm phát một số. Tỷ lệ tăng giá thấp,
dưới 10% một năm. Có thể nói giá cả tương đối ổn định, bởi vì sự thay đổi của nó hầu như rất
khó nhận biết. Dân chúng tin tưởng vào giá trị đồng tiền. Do đó người ta sẽ khơng lãng phí
thời gian và sức lực trong việc cố gắng bảo tồn của cải dưới hình thức tài sản khác với tiền.
Lạm phát phi mã (Galloping inflation) là loại lạm phát hai hay ba số, tức hơn 10%, 50%,
200%,…
Trong thập niên 1980, có nhiều nước lâm vào tình trạng lạm phát phi mã đến 700%,
chẳng hạn như Argentina, Brazil, Việt Nam,…Đồng tiền bị mất giá một cách nhanh chống, lãi
suất thực thường là âm. Trong điều kiện đó, khơng ai khơng ai cho vay với mức lãi suất bình
thường. Phần lớn các hợp đồng kinh tế được chỉ số hóa theo tỷ lệ lạm phát hoặc được tính theo
ngoại tệ mạnh hay theo vàng. Ít có ai nắm giữ lượng tiền mặc q mức tối thiểu cần thiết cho
thay đổi người tiêu dung qua nhiều cách. Một nghiên cứu cho thấy khi vào một quán Bar ở
Đức trong thời kỳ siêu lạm phát thì người ta thường mua hai ly bia cùng một lúc. Mặt dù ly bia
thứ hai giảm giá trị đi nhưng giá trị bị mất đi này có thể nhỏ hơn giá trị mất đi do tiền còn nằm
trong túi.
Và trong thời kỳ siêu lạm phát số thuế mà Chánh phủ nhận được sẽ bị giảm giá trị rất
nhiều làm cho Ngân sách chánh phủ giảm trầm trọng.
2. Nguyên nhân của siêu lạm phát.
Ở vấn đề này ta cần hiểu tại sao siêu lạm phát lại xuất hiện? Và làm như thế nào để
chấm dứt nó?
Câu trả lời rõ ràng nhất là: siêu lạm phát là do sự tănng trưởng quá nhanh số cung tiền
và do mức lổ vốn quá lớn khi sử dụng số cùng tiền đó vào đầu tư sản xuất. Khi NHTW in tiền
quá nhiều hoặc khi sử dụng vốn không hiểu quả thì giá sẽ tăng lên, mà % tảng lên của giá
chính là tỉ lệ lạm phát.
Tuy nhiên câu trả lời này là chưa hoàn chỉnh. Để phân tích vấn đề một cách sâu sắc
hơn. Chúng ta sẽ nghiên cứu về chánh sách tài chánh.
Hầu hết siêu lạm phát sinh ra từ việc Chánh phủ không đủ ngân sách để chi tiêu. Mặt dù
Chanh phủ có thể đi vay nhưng lại vay không được do không đủ uy tín. Và để bù đắp sự thâm
hụt này Chánh phủ in và phát hành tiền mới. kết quả sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh số cung
tiền.Khi đo siêu lạm phát sẽ xuất hiện.
Việc chấm dứt siêu lạm phát hầu như ngẫu nhiên đi cùng với các cải cách về chách
sách tài chánh. Khi siêu lạm phát trở nên nhiêm trọng hơn. Chánh phủ sẽ buộc phải tiêu dùng ít
đi và tăng thuế. Các cải cách về chánh sách tài chánh này làm giảm nhu cầu in tiền và như vậy
sẽ làm giảm tăng trưởng trong số cung tiền.
VIII. LÝ THUYẾT CỔ ĐIỂN
Trong chương 2,3 và 4 ta giải thích các biến kinh tế GDP, vốn, tiền lương thực. các
biến số này có thể được ghép vào 2 nhóm. Nhóm đầu tiên được gọi là nhóm định lượng, nhóm
thứ 2 là giá tương đối.Hai nhóm biến số này được gọi là biến số thực.
Trong chương 5 này, ta sẽ nghiên cứu các biến số danh nghĩa. Các biến số danh nghĩa
là các biến số biểu hiện bằng tiền. có nhiều biến danh nghĩa như giá, lạm phát và tiền lương.
Các nhà kinh tế gọi sự phân biệt giữa các biến số thực và biến số danhn nghĩa là sự tách