Tài liệu Hướng dẫn nuôi tôm càng nước ngọt ở Ấn Ðộ potx - Pdf 10


Hướng dẫn nuôi tôm càng nước
ngọt ở Ấn Ðộ Tôm càng nước ngọt Macrobrachium rosenbergii là đối tượng nuôi
ngày càng được chú ý hơn do tốc độ tăng trưởng cao, khả năng chịu
đựng tốt và đòi hỏi dinh dưỡng về prôtêin rất thấp. ở ấn Ðộ hiện nay,
nuôi tôm càng nước ngọt (TCNN) đã có vị trí nhất định trong nuôi
trồng thủy sản, sản xuất có lãi và là một nguồn thu ngoại tệ. Khi dân số
tăng và nhu cầu thực phẩm ngày càng cao, nhiều người bắt đầu nuôi
TCNN nhằm đáp ứng nhu cầu này.
Vài năm gần đây, nuôi TCNN ở ấn Ðộ mới được quan tâm phát triển.
Sau cơn bộc phát bệnh đốm trắng trong nuôi tôm biển và sự xuất hiện
các biện pháp quản lý cải tiến mang lại năng suất cao hơn, ngày càng
có nhiều nông dân bắt đầu triển khai nuôi loài tôm này. Tuy nhiên, mặc
dù có công nghệ nuôi tiên tiến đạt năng suất cao nhưng hầu hết trại
nuôi TCNN ở ấn Ðộ vẫn sử dụng hệ thống nuôi quảng canh. Bài viết
này giới thiệu một số hướng dẫn giúp người nuôi tôm tăng sản lượng
tôm và hiệu quả bền vững của trại nuôi.
Thu thập giống
ở ấn Ðộ hiện có 2 nguồn giống TCNN : một là giống tự nhiên từ hạ lưu
sông và các vùng nước lợ, hai là nguồn giống sản xuất từ trại giống.
Tuy nhiên, nguồn giống tự nhiên thường của nhiều loài khác nhau và ở
những giai đoạn phát triển khác nhau nên khi thu hoạch, cỡ tôm thường
không đồng đều và không đạt cỡ thương phẩm phù hợp. Do vậy, người
nuôi tôm cần tách riêng loài có thể nuôi khỏi các loài tôm khác và cần
thả giống của loài định nuôi với cỡ bằng nhau hoặc gần bằng nhau. Ðể
khắc phục những vấn đề trên, nên sử dụng nguồn giống sản xuất tại trại
giống. So với tôm giống lấy từ tự nhiên, tôm giống sản xuất trong trại
giống có tỷ lệ sống, khả năng kháng bệnh và sức chống chịu tốt hơn với

nhiễm môi trường nước. Cũng có thể rải đều thức ăn khắp ao nhưng chỉ
nên tại vùng gần bờ ao hoặc tại một số địa điểm nhất định. Nên cho ăn
vào buổi sáng và buổi tối do ban ngày tỷ lệ trao đổi chất và các hoạt
động khác của tôm giảm.
Quản lý nước
Các chỉ số về chất lượng nước là yếu tố sống còn trong nuôi TCNN.
Chất lượng nước thay đổi trên cơ sở mật độ thả giống, tỷ lệ cho ăn và
việc thay nước. Thiếu ôxy là hiểm hoạ phổ biến nhất tại các trại nuôi
tôm, do có nhiều chất hữu cơ, cho ăn quá nhiều, và hiện tượng tảo nở
hoa. Có thể tăng lượng ôxy bằng cách sử dụng máy sục khí hoặc thay
nước. Các chỉ số tối ưu của nước trong ao nuôi tôm như sau: pH : 7,5-
8,5; nhiệt độ 29-31oC; độ cứng 100-150mg/l theo CaC03; độ kiềm >
50ppm; ammonia 0,1ppm; CaC03 > 40ppm; ôxy hoà tan 4ppm.
Tỷ lệ tăng trưởng của tôm giảm khi độ cứng của nước cao. Không nên
bón phân chuồng và phân hữu cơ, dễ làm cho nước ao bị thiếu ôxy khi
vi khuẩn phân huỷ chất hữu cơ dư thừa. Cần thay nước với tỷ lệ và vào
thời điểm thích hợp để duy trì chất lượng nước.
Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh
Các tác nhân như vi khuẩn, virut, nấm, ký sinh trùng, chất độc và các
yếu tố bất lợi khác có thể gây bệnh cho tôm và làm cho toàn bộ hệ
thống nuôi tôm ngừng hoạt động. Do vậy, cần quan tâm đến việc chẩn
đoán, kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh. Cần kiểm tra bệnh cho con
giống trước khi thả. Cũng cần kiểm tra kỹ lưỡng những triệu chứng
hoặc dấu hiệu bất kỳ nào khi xảy ra bệnh. Ðiều này giúp đảm bảo thả
con giống có chất lượng, giảm nguy cơ dịch bệnh tại trại nuôi. Nói
chung, môi trường bất lợi như lượng ôxy hoà tan thấp, nhiệt độ luôn
biến động, pH hoặc độ cứng của nước cao có thể gây nhiều bệnh nguy
hiểm và làm giảm năng suất. Ðể kiểm soát và làm giảm bộc phát dịch
bệnh do vi khuẩn gây ra, người nuôi cần duy trì chỉ số chất lượng nước
trong phạm vi cho phép, có cách cho ăn hợp lý, đảm bảo các yếu tố môi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status