Nghệ thuật Trúc chỉ – sự trở về với
văn hoá dân tộc
(LĐ online) – Thoạt nghe “Nghệ thuật Trúc chỉ” thật lạ, nhưng tìm hiểu kỹ thì đấy
là một tìm tòi sáng tạo trong nỗ lực cho ra sản phẩm giấy mới từ bột tre mà ở vùng
miền nào trên đất nước ta cũng có tre xanh soi bóng buôn làng. Họa sỹ Phan Hải
Bằng đã bỏ ra hơn mười năm tìm tòi, đặt nền móng công trình sáng tạo này được
giới thiệu, ra mắt, trưng bày các sản phẩm Trúc chỉ tại XQ Đà Lạt Sử quán.
Người thổi hồn cho nghệ thuật Trúc Chỉ
Trong lời phát biểu của hoạ sỹ Phan Hải Bằng – một người con đất Huế có lời tri ân đến
dịch giả, nhà nghiên cứu Huế Bửu Ý người đã định danh các sản phẩm giấy làm bằng b
ột
tre là Trúc chỉ. Sự kết hợp các yếu tố hoa văn trên n
ền giấy Trúc chỉ, từ đó sáng tạo ra các
đồ vật, sản phẩm trang trí hay thêu thư pháp, chân dung, phong cảnh trên chất liệu này
tạo nên cái riêng biệt của “Nghệ thuật Trúc chỉ”. Hoạ sỹ Phan Hải Bằng không đến với
giấy, sự biểu cảm của giấy bằng con đường sáng tạo trên giấy hiện có mà với khát vọng
sáng tạo của riêng mình và sau hơn 10 năm mầy mò, cộng với sự hỗ trợ của học bổng
Asiancholarship Foundation – ASF năm 2007 đã đặt nền móng cho công trình chế tác
giấy Trúc chỉ. “Từ những nghiên cứu, tìm kiếm nhẫn nại trên những nẻo đường xa vắng
của các buôn làng ở Thái Lan, Lào… và Việt Nam – nơi còn đọng lại những dấu tích về
nghề chế tác giấy để nắm bắt cái thần, cái hồn của nghề với những cách thức khác nhau,
sự biến thể của giấy từ nguồn vật liệu tự nhiên để chế tác ra giấy, giấy vẽ theo cách thức
truyền thống và tạo hình trực tiếp một cách mộc mạc nhưng lại có sức hút chiều sâu lắng
đọng. Đó là loại giấy được làm từ tre, một loài cây gần gũi, quen thuộc với người dân
Việt Nam. Cây tre trong tâm thức người Việt là một sự tin cậy, thân thiết, gần gũi, bao
hàm nhiều ngữ nghĩa biểu tượng về văn hoá dân tộc” – TS Phan Thanh Bình, Hiệu
trưởng Trường Đại học Nghệ thuật Huế nhận xét. Còn đối với hoạ sỹ Phan Hải B
ằng, với
hành trình sáng tạo Trúc chỉ được gói gọn bởi điều hoạ sỹ tâm niệm đó là “phép cộng và
sự trở về”. Đấy là trong đời sống, nếu cộng thêm vào mình sẽ trở lên giàu có hơn, ngược
phẩm Trúc chỉ nghệ thuật đều mang tính độc bản, với kỹ thuật tạo hình ẩn chứa trên nền
giấy, khi cầm trên tay, soi vào ánh sáng những nét hoa văn nghệ thuật chìm trong nền
Trúc chỉ hiện ra độc đáo, sinh động làm nổi bật các hoạ tiết tạo hình đa dạng. “Nhìn
ngắm tờ Trúc chỉ với những đường nét chìm, nổi, uốn lượn, đậm nhạt, tôi liên tưởng đến
khuôn mặt nào đó, tưởng tượng đến mây trời, núi rừng… Tuy trừu tượng nhưng rất gần
gũi với tôi. Nguyên tờ giấy đặt trong một cái khung đã là một tác phẩm rồi” – nên vì thế –
theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân “Sáng tác trên gi
ấy Trúc chỉ hết sức công phu, có
lẽ còn công phu hơn cả việc làm sơn mài”. TS Phan Thanh Bình thì cho rằng, “Triển
vọng giấy Trúc chỉ của Phan Hải Bằng sẽ dần có chỗ đứng, vị trí trân trọng trong sự phát
triển nghệ thuật đồ hoạ nói riêng và hội hoạ nói chung. Và không chỉ dừng lại ở đó anh
còn mong muốn mở rộng hơn nữa sự ứng dụng của Trúc chỉ vào nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống và hoạt động nghệ thuật. Có thể đấy là các tác phẩm mỹ thuật ứng
dụng, sản phẩm trang trí nội thất, các vận dụng sinh hoạt, vật liệu để thêu tranh nghệ
thuật…
Thông qua sự biểu cảm của Trúc chỉ – khái niệm giấy tạo hình, từ bản thể, cấu trúc cơ
học quá trình chế tác, cộng với sáng tạo trên đó, mỗi tờ giấy là một tác phẩm nghệ thuật
có đời sống mỹ thuật riêng. Riêng đối với hoạ sỹ Phan Hải Bằng qua Trúc chỉ anh đã
thành công trong việc tiếp nối nghề làm giấy thủ công truyền thống đến những ứng dụng
in đồ hoạ hiện đại, thổi hồn cho giấy một ngôn ngữ nghệ thuật riêng của Trúc chỉ. Và về
mặt xã hội mở ra cơ hội thức dậy những tiềm năng thôn dã, tạo thêm giá trị văn hoá từ
cây tre làng quê.