Sinh viên thực hiện : Trần Thị Lan
Lớp : Kinh tế đầu tư K48D
GVHD : TS. Phạm Mạnh Hùng
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU
TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học của đề tài.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận trong hệ thống các thị trường tài
chính và đã được phát triển rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển. Đây là một kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp và Chính
phủ để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết về vốn thông qua việc phát hành các loại
chứng khoán. Tuy nhiên, việc phát hành chứng khoán trên thị trường này luôn
tiềm ẩn rủi ro đòi hỏi các chủ thể phát hành phải tìm biện pháp giảm thiểu rủi ro
để huy động vốn được tốt nhất. Một trong các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong
phát hành chứng khoán là phát hành thông qua bảo lãnh phát hành. Đây là một
trong những nghiệp vụ quan trọng trên thị trường chứng khoán sơ cấp do các
công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính…cung cấp, nhằm
bảo đảm cho sự thành công của các đợt phát hành, giúp các chủ thể phát hành
huy động vốn một cách nhanh chóng, thuận lợi với chi phí hợp lý và mức độ rủi
ro thấp.
Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán đã chính thức đi vào hoạt động được
mười năm và đã phần nào thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc
hỗ trợ các chủ thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Các nghiệp vụ trên
thị trường đã bước đầu hình thành và phát triển trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Tuy nhiên, do hoạt động của thị
trường chứng khoán còn rất sơ khai, các nghiệp vụ còn khá mới mẻ, thị trường
1
chưa xuất hiện nhiều tổ chức trung gian có tính chuyên nghiệp để có thể vận
hành tốt nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, một trong những nghiệp vụ
đòi hỏi trình độ và sự sáng tạo rất lớn. Bên cạnh đó, những chính sách điều
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài lấy hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng
khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên
quan trực tiếp đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nói chung và hoạt
động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam.
4. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo phần nội dung của đề
tài bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành chứng khoán.
Chương 2 : Thực trạng về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại
Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh
phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Viẹt Nam.
3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN.
I. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1. Khái niệm công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán,
có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số nghiệp vụ chính là môi giới chứng
khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư
chứng khoán.
Thị trường tài chính được chia thành 2 loại là thị trường tiền tệ ( money
market) và thị trường vốn ( capital market ).
Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính mà tại đó diễn ra
phát triển của TTCK và các công ty chứng khoán.
Thứ hai, trình độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý. Các bộ phận của
một công ty chứng khoán bao giờ cũng hoạt động độc lập với nhau và không
phụ thuộc lẫn nhau do các mảng hoạt động của các bộ phận của CTCK là khác
nhau như môi giới, tự doanh. bảo lãnh phát hành, tư vấn… Do đó mức độ
chuyên môn hoá và phân cấp quản lý của các CTCK là rất cao và rõ rệt, các bộ
phận có thể tự quyết định hoạt động của mình.
Thứ ba, nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Do đặc điểm chuyên
môn hoá cao nên con người cần có những khả năng độc lập trong quyết định,
côngviệc. Khả năng làm việc mỗi nhân viên trong công ty là nhân tố rất quan
trọng giúpcho sự thành công của CTCK, họ là cầu nối giữa khách hàng và công
ty, tìm kiếmkhách hàng cho công ty và hiểu được tiềm lực của chính những
khách hàng đó dođó góp phần quan trọng cho thành công của công ty.
5
3. Vai trò của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các
chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới các nhà đầu tư qua đó huy
động các nguồn vốn nhãn rỗi để sử dụng có hiệu quả. CTCK có vai quan trọng
đối với các chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
Đối với tổ chức phát hành:
Các CTCK thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành cho các
tổ chức phát hành do đó các CTCK có vai trò rất quan trọng trong việc phát
hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng của các tổ chức phát hành nhằm thực
hiện mục tiêu là huy động vốn thông qua đợt phát hành các chứng khoán ra công
chúng. Ngoài ra các công ty chứng khoán còn hỗ trợ chuyên môn thông qua tư
vấn phát hành cho các tổ chức phát hành, cung cấp cho doanh nghiệp các giải
pháp tổng hợp về vấn đề tài chính, cơ cấu tổ chức công ty, lập và đánh giá dự
án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư…
Đối với các nhà đầu tư:
dàng giao dịch trên thị trường, đồng thời giá của chứng khoán cũng sẽ được
các CTCK xác định một cách chính xác, phù hợp với tổ chức phát hành góp
phần bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này giúp cho chứng
khoán của các tổ chức phát hành phát hành thông qua CTCK sẽ đựoc tín
nhiệm hơn góp phần làm tăng tính thah khoản của các chứng khoán phát
hành trên thị trường sơ cấp. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn của
các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán thứ cấp tạo nên tính
thanh khoản cho các chứng khoán.
Các chứng khoán có tính thanh khoản càng cao càng hấp dẫn được công
chúng đầu tư hơn từ đó tạo điều kiên thuận lợi cho sự phát triển của các doanh
nghiệp phát hành chứng khoán trên thị trường.
Đối với cơ quan quản lý thị trường.
7
Các cơ quan quản lý thị trường có mục tiêu là quản lý và bình ổn thị trường
giúp cho thị trường hoạt động một cách có hiệu quả nhất và trong mục tiêu đó
các công ty chứng khoán có vai trò rất quan trọng là cung cấp các thông tin cho
các cơ quan quản lý để họ thực hiện tốt mục tiêu đó.Các công ty chứng khoán
thực hiện được vai trò này là vì các CTCK là công ty hoạt động chuyên nghiệp
trên thị trường nên các thông tin mà họ có được là các thông tin nhanh nhất và
chính xác nhất vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành vừa là người phát hành
chứng khoán ra công chúng thông qua các hoạt động bảo lãnh và đại lý bảo lãnh
phát hành, vừa là trung tâm mua và bán các chứng khoán do đó các thông tin
phải được công khai trên thị trường dưới sự giám sát của các nhà quản lý thị
trường. Việc công khai các thông tin vừa là quy định của hệ thống pháp luật vừa
là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các công ty chứng khoán cần phải
minh bạch trong hoạt động của mình. Nhờ các thông tin này mà các cơ quan
quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng là lũng
đoạn thị trường.
Tóm lại, vai trò của các CTCK có vai trò vô cùng quan trọng trên thị trường
chứng khoán, không chỉ góp phần tạo ra hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá
khoán cho chính mình. Hoạt động này được thực hiện thông qua cơ chế giao
dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC, nghiệp vụ này
hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh của khách hàng
vừa phục vụ cho chính mình .Vì vậy trong hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi
ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và bản thân công ty. Do đó luật
pháp các nước yêu cầu phải tách biệt rõ ràng hoạt động tự doanh chứng khoán
và hoạt động môi giới chứng khoán, theo đó công ty chứng khoán phải ưu tiên
thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty. Khác với
hoạt động môi giới chứng khoán công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực
hiện lệnh cho khách hàng và hoạt động chỉ vì mục tiêu là hưởng hoa hồng từ các
giao dịch thì hoạt động tự doanh chứng khoán hoạt động bằng chính nguồn vốn
của công ty nên ngoài mục tiêu lợi nhuận là đầu tư để hưởng chênh lệch giá hoạt
9
động này của các Công ty chứng khoán (CTCK) còn nhằm mục tiêu là bình ổn
thị trường, kiểm soát thị trường hay đóng vai trò là một nhà tạo lập thị trường
cho các chứng khoán phát hành.
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng
khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng
lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Hoạt động này có thể coi là vì lợi ích
của khách hàng theo một hợp đồng đã được ký kết trước giữa khách hành và
công ty chứng khoán theo đó CTCK quản lý nguồn vốn của khách hàng như là
một hoạt động tư vấn cho khách hàng nhưng ở một mức độ cao hơn vì trong
hoạt động này khách hàng uỷ thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư
theo một chiến lược hay theo một danh mục đã được khách hành chấp nhận.
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt
động phân tích để đưa ra các lời khuyên, khuyến nghị, phân tích và thực hiện
một số dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho
khách hàng. Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người ta sử dụng tri thức, kiến
nhuận cho nhà đầu tư. Theo pháp luật của một số thị trường các nước cho phép
các CTCK được thực hiện quản lý quỹ đầu tư, các CTCK cử đại diện của mình
để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng
khoán. Công ty chứng khoán được thu phí và dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
Tóm lại, hoạt động của các công ty chứng khoán có vai trò rất lớn đối với
thị trường chứng khoán và toàn nền kinh tế, mỗi nghiệp vụ hoạt động độc lập
với nhau và tuy theo khả năng tài chính hay thế mạnh mỗi CTCK mà các CTCK
có thể phát triển tất cả các nghiệp vụ hoặc các nghiệp vụ khác nhau nhằm thu lại
lợi nhuận lớn nhất cho công ty chứng khoán.
II. Hình thức phát hành chứng khoán
Phát hành chứng khoán: Là hoạt động chào bán chứng khoán có thể
chuyểnnhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất một số lượng
11
các nhà đầu tưnhất định ngoài tổ chức phát hành. Theo nghị định 144/20003/
NĐ – CP của chínhphủ Việt Nam thì số lượng tối thiểu các nhà đầu tư mà tổ
chức phát hành chào bánlà 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành. Là hoạt
động của thị trường sơ cấp nhằmhuy động vốn cho tổ chức phát hành, thông
thường các tổ chức phát hành sử dụng phương pháp bảo lãnh phát hành, đấu
thầu và phát hành riêng lẻ…
Việc chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động vốn được gọi là
phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa ra một loại
chứng khoán của một tổ chưc lần đầu tiên phát hành ra công chúng thì gọi là
phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ
sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì
gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung.
1. Phát hành chứng khoán riêng lẻ (Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là hình thức phát hành trong đó đơn vị phát hành
chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định
với những điều kiện hạn chế mang tính chất khép kín.
Các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào
bổ sung của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư và các
đợt phát hành trái phiếu ra công chúng
- Lợi ích phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành ra công chúng nhằm huy động vốn
Phát hành chứng khoán ra công chúng là điều kiện để tham gia niêm yết
trên thị trường tập trung
Tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh
Giảm chi phí tiếp cận vốn
III. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán.
13
1. Khái niệm bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp đơn vị phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng
khoán và giúp bình ổn giá chứng kháon trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư, các công ty chứng khoán thường là những
tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng
khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán
để hưởng hoa hồng.
Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam thì nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành được coi là nghiệp vụ quan trọng và là một trong năm nghiệp vụ được cấp
giấy phép hoạt động của công ty chứng khoán. Hoạt động bảo lãnh phát hành có
nhiều ý nghĩa quan trọng, như giảm chi phí phát hành, tào tính ổn định cho các
chứng khoán mới phát hành trong đó quan trọng nhất là mang lại tính chuyên
nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK
ở nước ta hiện nay chưa thực sự đóng vai trò như vây là do thị trường chứng
khoán ở nước ta chưa thực sự phát triển số lượng các công ty cổ phần phát hành
chứng khoán ra công chúng còn rất ít, thiếu các dự án khả thi, các doanh nghiệp
ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra
công chúng bên ngoài.
2.3. Bảo lãnh với cố gắng cao nhất
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại
lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức phát hành không cam kết bán toàn bộ số
chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường,
nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
2.4. Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không
Trong phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phát
hành bán một số lượng chứng khoán nhất định ra công chúng, nếu không phân
phối được hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành.
16
2.5. Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa
Là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố găng cao nhất
và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức
phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất
định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tụ do chào bán chứng
khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được
tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
3. Các chủ thể tham gia đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán.
3.1. Tổ hợp bảo lãnh phát hành
Tổ hợp bảo lãnh phát hành là một nhóm các tổ chức bảo lãnh đứng ra đảm
nhận nghiệp vụ bảo lãnh phát hành nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo việc phân
phối chứng khoán được tiến hành nhanh chóng và có hiệu quả.
3.2. Tổ hợp bảo lãnh chính
Tổ chức này sẽ do đơn vị phát hành lựa chọn. Thẩm quyền của tổ chức bảo
lãnh phát hành chính được quy định trong hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh
tham gia đợt phát hành.
3.3. Nhóm đại lý phân phối
Bao gồm các công ty chứng khoán tự doanh giúp cho việc phân phối chứng
là tổ chức bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trước sai sót hay thiếu hụt thông tin
trong hồ sơ xin phép phát hành. Quy định này nhằm đảm bảo tổ chức bảo lãnh
có những cố gắng tối đa trong việc kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và hợp pháp
của các thông tin đưa ra trong hồ sơ xin đăng kí phát hành và các thông tin trong
bản cáo bạch. Quy định này sẽ đảm bảo cho các nhà đầu tư có được những
thông tin xác thực và đầy đủ để đưa ra quyết định đầu tư
Trong trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức tổ hợp bảo lãnh thì tổ chức
bảo lãnh chính sẽ phải quyết định quy mô tổ hợp và xác định các thành viên
tham gia tổ hợp. Việc thành lập tổ hợp bảo lãnh cũng có những lợi ích nhất định
đối với các tổ chức bảo lãnh bởi nó có thể phân tán rủi ro. Tổ chức bảo lãnh
tham gia tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể do tổ chức bảo lãnh chính lựa chọn
18