CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
ĐỐI VỚI VIỆC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 1 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
ĐỐI VỚI VIỆC XỐ ĐĨI GIẢM NGHÈO
L. Alan Winters
Bất luận được định nghĩa như thế nào, đói nghèo khơng phải là kết quả trực tiếp của mậu
dịch quốc tế. Đúng hơn, đói nghèo phản ánh sức thu nhập thấp, khơng có tài sản, tiếp cận
khó khăn với các nguồn lực cộng đồng, sức khoẻ và giáo dục yếu kém, khơng có thế lực,
và dễ bị tổn thương. Điều quan trọng khơng phải là điều gì gây ra những đặc điểm này
trong khi những người khác chịu thiệt.
Vấn đề tích cực quan trọng là vấn đề thực nghiệm: liệu tự do hố mậu dịch nói
chung có tạo ra đói nghèo hay chăng, và trong những tình huống nào nó có thể tạo ra đói
nghèo trong những trường hợp cụ thể? Trong tư liệu của Winters (2000a), tơi đã phân loại
chi tiết nối kết các cú sốc ngoại thương với sự đói nghèo của cá nhân và hộ gia đình, và
đã rút ra 11 vấn đề then chốt giúp trả lời cho câu hỏi sau (xem hộp 5.1). Việc phát hiện ra
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 2 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
một trường hợp trong đó cải cách ngoại thương gây ra đói nghèo có thể khơng tạo nên
được sự phủ nhận một giả thiết thú vị về mặt tư duy, nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề
chính sách thực tế: chúng ta có nên kết án một cuộc cải cách ngoại thương vì nó có nghĩa
là có một người nghèo phải chịu thiệt thòi hay có một người bị đẩy vào đói nghèo? Tơi tin
tưởng mãnh liệt rằng chúng ta sẽ khơng làm thế. Đúng hơn, sự nhìn nhận tình thế khó
khăn phát sinh từ một cuộc cải cách ngoại thương đáng mong đợi về mặt tổng qt sẽ
kích thích việc tìm kiếm các chính sách bổ trợ để hạn chế tới mức tối thiểu những hệ quả
tiêu cực và giảm sự thiệt hại mà nó gây ra. Bác bỏ bất kỳ một cuộc cải cách nào có ảnh
hưởng bất lợi đối với bất kỳ một người nghèo nào là một liều thuốc dẫn đến sự đình trệ
dài hạn và sự gia tăng tối hậu của đói nghèo. Thậm chí u cầu khơng có hộ gia đình nào
tạm thời rơi vào tình trạng đói nghèo cũng có thể cực kỳ hạn chế tại các nước nghèo.
Quan điểm thiết thực hơn cho rằng số hộ gia đình (hay số người) nghèo sẽ khơng tăng thì
phương hay một khu vực cụ thể, nhưng đơi khi – ví dụ, khi ngoại thương dịch vụ có tính
chất rất địa phương – sự lan truyền sẽ hẹp nhưng lại sâu. Khi đó, điều cần thiết là phải hỏi
xem các ảnh hưởng trong đợt thứ hai (ảnh hưởng thứ cấp) có những tác động nghiêm
trọng về mặt đói nghèo hay chăng. Sự kích thích nơng nghiệp có thể mang lại những lợi
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 3 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
ích lớn ủng hộ người nghèo nhờ lợi thế kinh tế địa phương thơng qua sự lan truyền tốt
lành.
Những yếu tố sản xuất nào được thâm dụng trong những ngành chịu ảnh hưởng
nhiều nhất? Những thay đổi trong giá cả hàng hố sẽ ảnh hưởng đến tiền lương tuỳ theo
mức độ thâm dụng yếu tố sản xuất. Việc dự đốn các ảnh hưởng về giá hay mức độ thâm
dụng yếu tố sản xuất của các ngành chịu ảnh hưởng có thể rất phức tạp, như ta đã thấy với
các cuộc cải cách của châu Mỹ La tinh trong thập niên 80 và 90. Ngồi ra, nếu nguồn
cung ứng các yếu tố sản xuất có một độ co giãn nhất định nào đó, một phần của cú sốc
ngoại thương sẽ thể hiện qua sự thay đổi trong cơng việc làm chứ khơng thể hiện qua giá
các yếu tố sản xuất. Ở mức giới hạn, nếu cung yếu tố sản xuất hồn tồn co giãn, thì ta chỉ
thấy có những ảnh hưởng về mặt cơng việc làm mà thơi. Điều này phù hợp nhất với thị
trường lao động. Nếu mức lương thịnh hành được xác định bởi mức lương chỉ đủ để duy
trì cuộc sống (subsistence level), việc chuyển người lao động từ hoạt động này sang một
hoạt động khác khơng có ảnh hưởng khả kiến đối với đói nghèo. Tuy nhiên, nếu như mức
duy nhất những yếu tố tiêu cực của một hệ thống cải cách trọn gói. Tương tự, nếu một
cuộc cải cách làm cho người nghèo trở nên khó khăn khi tiếp tục các chiến lược đối phó
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 4 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
với rủi ro truyền thống của họ, nó có thể làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương của họ trước
đói nghèo ngay cả khi nó làm tăng thu nhập trung bình.
Nếu cải cách có hệ thống và bao qt, liệu sự tăng trưởng được kích thích bởi cải
cách có gây ra bất bình đẳng hay khơng? Tăng trưởng kinh tế là chìa khố để xố đói
giảm nghèo bền vững. Chỉ khi nào nó hết sức bất bình đẳng thì nó mới làm tăng đói
nghèo mà thơi.
Liệu cải cách có ám chỉ những cú sốc lớn đối với một số địa phương cụ thể
khơng? Những cú sốc lớn có thể tạo ra những phản ứng khác nhau về mặt định tính so với
những cú sốc nhỏ hơn; lấy ví dụ, các thị trường có thể bị tắc nghẽn hay biến mất hồn
tồn. Như vậy, nếu một cuộc cải cách có nghĩa là sẽ có những cú sốc rất lớn đối với
những địa phương cụ thể, việc xoa dịu ảnh hưởng của nó thơng qua thực hiện dần dần
theo từng giai đoạn, hay tốt hơn là thơng qua các chính sách đền bù hay bổ trợ, có thể
được vận dụng. Tuy nhiên, có một sự đánh đổi, bởi vì thơng thường những cú sốc lớn hơn
sẽ phản ánh sự chênh lệch lớn hơn giữa thành quả hiện tại và thành quả tiềm năng, và do
đó cũng sẽ phản ánh những lợi ích dài hạn lớn lao hơn nhờ cải cách.
Liệu tình trạng thất nghiệp chuyển tiếp có tập trung vào người nghèo? Những
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 5 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
Ở mức độ khái niệm, đây chỉ là một nhận thức phổ thơng: người ta có thể cho rằng giảm
nghèo là ưu tiên cao nhất; trong khi chính sách ngoại thương chỉ là một phương tiện để
đạt được mục đích. Việc làm có ý nghĩa là sắp xếp tất cả những cơng cụ mà chúng ta có
hướng tới việc đạt được mục đích chính của chúng ta, và thật là trái thói nếu ta làm bất kỳ
điều gì khác đi.
Nhưng trên mức độ thực hành, vấn đề là làm thế nào sử dụng chính sách ngoại
thương để đạt được các mục tiêu giảm nghèo. Thứ nhất, cũng có khả năng là chúng ta
thực sự cũng có những mục tiêu khác với mục tiêu xố đói giảm nghèo – ví dụ như về thu
nhập bình qn, an sinh, chính sách đối ngoại, hay tính bền vững của mơi trường – và
những mục tiêu này cũng cần phải được cân nhắc. Thứ hai, ngay cả khi để sang một bên
các mục tiêu khác, chúng ta cũng cần phải quyết định xem chúng ta muốn nhắm đến
những số đo đói nghèo nào: có những sự lựa chọn giữa các số đo dựa trên thu nhập hay
dựa trên tiêu dùng, ấy là chưa nói đến các khái niệm và bình diện khác đặc trưng cho các
quan điểm hiện đại về đói nghèo. Thứ ba, có thể có những thắc mắc về việc từ bỏ đói
nghèo ở một vùng này để đổi lấy đói nghèo ở một vùng khác như một sự thỏa hiệp, và thứ
tư, chắc chắn có sự đánh đổi giữa đói nghèo ngày nay và đói nghèo trong tương lai. Thứ
năm, có những đặc điểm gì khác trong các hệ thống chính sách trọn gói mà chúng ta đang
nhắm đến hay khơng? Có phải những cơng cụ chính sách khác bị cố định ở mức độ hiện
tại, cho nên chỉ có duy nhất một vấn đề là cải cách ngoại thương tác động trực tiếp như
thế nào đến thu nhập thực của người nghèo? Hay chúng ta có thể cho rằng các chính sách
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Bernard Hoekman et al. 6 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
mới, nhưng họ vẫn khơng đảo ngược nhận định cho rằng sự mở cửa có thể thúc đẩy tăng
trưởng dài hạn.
Sự khó khăn trong việc thiết lập một mối liên kết thực nghiệm giữa mậu dịch tự
do và tăng trưởng phát sinh chí ít một phần từ hai khó khăn, cả hai khó khăn này sẽ cho
chúng ta biết thái độ chính sách của chúng ta. Thứ nhất là khó khăn trong việc đo lường
lập trường quan điểm mậu dịch một khi người ta đứng bên trong biên giới của các chủ
quyền tuyệt đối: thuế quan cần phải được tổng hợp lại, các biện pháp hạn chế định lượng
phải được đánh giá và sau đó tổng hợp lại, độ tín nhiệm, khả năng dễ bị tổn thương trước
sự vận động hành lang, và tính cưỡng chế thực thi phải được đo lường (tìm đọc Winters
2000b). Điều này cho thấy rằng cho dù rõ ràng người ta nên khuyến cáo việc mở cửa,
song người ta cũng cần phải cẩn thận về việc cơng bố các cơ chế cụ thể là có mở cửa hay
chăng. Đất nước nào mở cửa hơn vào năm 1997: Brazil hay Chi lê? Cả hai đều có thuế
quan theo qui chế tối huệ quốc (most favored nation – MFN) vào khoảng 11- 12 phần
trăm, nhưng ở Chi lê xem ra khơng có sự tuỳ tiện và khơng có sự nhạy cảm trước việc
vận động hành lang cơng nghiệp, trong khi ở Brazil, người ta quan sát thấy các áp lực
chính trị diễn ra gần như hàng ngày.
Khó khăn thứ hai là ở chỗ cho dù các chính sách tự do hố mậu dịch có thể có lợi
trong bất kỳ tình huống nào đi chăng nữa (bởi nó mở rộng hệ thống các cơ hội), nếu
muốn có một ảnh hưởng hầu như lâu dài đối với tăng trưởng, gần như chắc chắn rằng
phải có sự kết hợp với các chính sách khác nữa. Nhận định sau này được lặp đi lặp lại bởi
Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong các khuyến cáo về chính sách của họ.
2Bernard Hoekman et al. 7 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
Để kết luận, tơi lập luận rằng cho dù vẫn còn một số vấn đề nghiên cứu căng thẳng
trong lĩnh vực này, nhưng một cơ chế mậu dịch tự do gần như chắc chắn sẽ hỗ trợ cho sự
xố đói giảm nghèo trong dài hạn, và như vậy, tự do hố nên có một chỗ đứng trong kho
tàng của một chính phủ có ý thức về đói nghèo. Điều này khơng có nghĩa là kêu gọi sự
bãi bỏ tức thời tất cả các biện pháp hạn chế ngoại thương, và chắc chắn nó cũng khơng
ngụ ý rằng việc mở cửa biên giới là tất cả những gì người ta cần làm, nhưng tơi tin rằng,
nó kêu gọi sự cam kết một cách nghiêm túc và đáng tin cậy vào sự mở cửa trong một
tương lai có thể nhìn thấy trước được.
Đừng làm điều đó một cách hồn tồn
Một phản ứng thứ hai là “đừng làm điều đó một cách hồn tồn: trong khi nói chung mọi
thứ đều thiên về tự do hố, nhưng vẫn có một số lĩnh vực hay sản phẩm là ngoại lệ.” Thật
ra, tất cả các quốc gia đều có sự ngoại lệ này (ví dụ như lĩnh vực nơng nghiệp ở châu Au
và may mặc ở Hoa Kỳ chẳng hạn), nhưng điều đó khơng nhất thiết sẽ làm cho họ trở
thành những nền kinh tế tốt. Xét chung thành quả kinh tế, rõ ràng có những trường hợp
trong đó sự can thiệp một cách tách biệt trong ngoại thương có thể mang đến phúc lợi
kinh tế tức thời – qua đó, các yếu tố ngoại tác, thất bại về thơng tin, hay các cú sốc ngẫu
nhiên có thể được khắc phục một cách hữu ích bằng một sự can thiệp được cân nhắc kỹ
của chính phủ. Nhưng ứng với sự khó khăn trong việc nhận diện các trường hợp này,
ngăn ngừa chúng đừng bị thu tóm bởi các nhóm có chung quyền lợi, và tránh phát ra một
tín hiệu có tính hệ thống rằng sự vận động hành lang để được can thiệp là có lợi, người ta
khơng rõ liệu sẽ có lợi khi theo đuổi những trường hợp này hay khơng. Do vậy, cho dù
người ta khơng cần xúc tiến mọi phương cách tiến tới mậu dịch tự do để gặt hái lợi ích
của tự do hố, nhưng lập luận chung nhằm lên kế hoạch cho một loạt các ngoại lệ thì
khơng được hùng hồn mạnh mẽ lắm. Người ta cần những bằng chứng hết sức thuyết phục
về tính hiệu quả của sự can thiệp như thế, và xét tổng thể, những bằng chứng như vậy rất
Hiệu đính: Quang Hùng
ở Chi lê khi đất nước này bước vào cuộc cải cách lớn vào giữa thập niên 70 (Edwards và
Lederman 1998).
Có thể có một lập luận mạnh mẽ hơn cho các trường hợp ngoại lệ đối với tự do
hố vì mục đích xố đói giảm nghèo trực tiếp: kết quả có thể đo lường được một cách
khách quan và có thể cho là tách biệt về mặt chính trị với sự can thiệp chung. Do vậy, nếu
có thể nhận diện một cách rõ ràng những sản phẩm cụ thể là hàng tiêu dùng hay hàng sản
xuất đối với người nghèo, người ta có thể biện minh cho việc trì hỗn tự do hố một cách
có ý nghĩa. Tuy nhiên, cũng có một số điều báo trước quan trọng cho một đề xuất như
vậy. Thứ nhất, việc tính tốn cần phải khắt khe trong việc xác định “những người nghèo”
mà quyền lợi của họ sẽ được bảo vệ. (Ravallion và van de Walle 1991 đã cho chúng ta
thấy ở Indonesia người nghèo và người rất nghèo có quyền lợi đối kháng nhau như thế
nào trong việc tự do hố gạo.) Thứ hai, các sản phẩm cần được nối kết chặt chẽ với người
nghèo để cho những lợi ích phân phối của việc bảo vệ họ khơng bị bù đắp bằng tổn thất
về tính hiệu quả ở những nơi khác trong nền kinh tế. Hàng hố mà chúng ta quan tâm cần
phải có tầm quan trọng lớn lao đối với người nghèo – gần như ln ln là một mặt hàng
lương thực về phía tiêu dùng, và thường là một mặt hàng nơng sản về phía sản xuất – và
khơng có ảnh hưởng đến các bộ phận khác của xã hội. Ví dụ, trên bình diện sau, trong
thập niên 70, người ta đã tường thuật rằng ngồi những ảnh hưởng bất kỳ đối với người
nghèo mà các khoản trợ cấp bánh mì của Ai Cập có thể có, các khoản trợ cấp này còn
đáng giá đối với các nhà chăn ni lợn dùng bánh mì mới làm thức ăn cho lợn.
Thứ ba, việc giám sát chặt chẽ là cần thiết để đảm bảo đạt được những ảnh hưởng
như mong đợi. Một mục tiêu quan trọng cần nhớ là người nghèo sẽ tiếp tục được tiếp cận
với các ảnh hưởng của chính sách và khơng bị đẩy ra ngồi bởi quyền lợi của giai cấp
trung lưu có thế lực và có tiếng nói hơn. Nói chung, người nghèo làm ăn sinh sống yếu
kém trong các cơ chế phân bổ tuỳ tiện, chính xác bởi vì họ bị cho là thứ yếu về mặt chính
trị và xã hội, cũng như về mặt kinh tế. Vì thế, các biện pháp hạn chế xuất khẩu nhằm giữ
mức giá lương thực địa phương thấp chẳng hạn, có thể sẽ khơng làm lợi cho người nghèo
nếu giá thấp có nghĩa là cần phải có sự phân phối định mức ngồi giá cả.
Thứ tư, một kế hoạch dài hạn là cần thiết để giúp giảm sự phụ thuộc của người
nhiên, có sự khác biệt lớn giữa việc cam kết thực hiện chính sách với những thời kỳ điều
chỉnh lâu dài và việc trì hỗn tự do hố vì “thời điểm chưa chín muồi”. Điểm then chốt là
niềm tin rằng cải cách sẽ thực sự xảy ra. Chi phí điều chỉnh có thể thấp hơn nếu việc điều
chỉnh có thể được trải rộng ra theo thời gian, nhưng cũng có thể gia tăng nếu việc điều
chỉnh bị kháng cự trong niềm hy vọng rằng mối đe doạ cải cách sẽ lùi ra xa. Một vài cuộc
cải cách ngoại thương đã được đẩy nhanh một khi đã được phát động; các ví dụ bao gồm
việc thực hiện tự do hố mậu dịch trong Cộng đồng Kinh tế Châu Au, việc thực hiện cắt
giảm thuế quan của vòng đàm phán Kenedy, và cắt giảm thuế quan trong hiệp định mậu
dịch tự do của Hiệp hội các Quốc gia Đơng Nam Á (ASEAN). Thơng thường sự tăng tốc
xảy ra theo mệnh lệnh của khu vực tư nhân, có lẽ bởi vì một khi người ta đã chấp nhận
rằng cải cách sẽ xảy ra, hoạt động kinh doanh mong muốn được điều chỉnh nhanh chóng.
Như vậy, thực hiện cơng cuộc tự do hố mậu dịch lớn lao một cách từ từ theo từng
giai đoạn có lẽ là cơng việc đáng mong đợi, giống như vòng đàm phán Uruguay đã cho
phép có những khoảng thời gian điều chỉnh lâu dài chẳng hạn. Tuy nhiên, việc thực hiện
dần dần theo từng giai đoạn khơng đơn thuần chỉ đòi hỏi trì hỗn sự điều chỉnh lớn nhất
lâu nhất; người ta nên chú ý tới các nhu cầu điều chỉnh khác nhau của các khu vực khác
nhau và nên chú ý tới sự tương tác qua lại giữa các bộ phận khác nhau trong cả hệ thống.
Lấy ví dụ, nếu các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của một lĩnh vực nhất định được tự
do hố theo các tỷ lệ rất khác biệt nhau, lĩnh vực này có thể đứng trước những động cơ
khuyến khích tiêu cực hoặc tích cực một cách thái q đối với việc sản xuất trong q
trình chuyển tiếp.
3
Bất luận thời kỳ chuyển tiếp như thế nào, việc cam kết một cách đáng
tin cậy vào mục tiêu cuối cùng có ý nghĩa quan trọng, vì khơng có nó, những hoạt động
hiện tại hay những hoạt động tiềm năng trong tương lai xem ra sẽ khơng đáng mong đợi
nữa, và các nỗ lực sẽ bị chệch hướng vào hoạt động vận động hành lang.
Các chính sách đền bù cho các quốc gia đang phát triển
Nếu tự do hố mậu dịch gây ra đói nghèo cho những thành phần nào đó trong xã hội, vấn
đề kế tiếp là liệu xã hội có đền bù cho ảnh hưởng đói nghèo này một cách trực tiếp được
khơng. Bất luận sự thu hút về mặt lý thuyết của các khoản chuyển giao ngân sách gộp đối
4
Việc đền bù theo một phương thức sao cho khuyến khích thay vì làm chán nản
q trình điều chỉnh cũng dẫn đến một điểm phức tạp hơn nữa. Chính sách nơng nghiệp
châu Au thực chất được thiết kế để bảo vệ nhà nơng trước hệ quả của tình trạng sút giảm
lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, nó có tác động ban thưởng đối với các nhà nơng hiện thời,
chứ khơng phải trước đây. Sự đền bù có thể được tách ra khỏi sản lượng hiện tại nhưng
khơng tách ra khỏi hoạt động nơng nghiệp.
Trong những trường hợp mà tự do hố dẫn đến mất việc làm, chính phủ có thể
cương quyết thực hiện các khoản thanh tốn cho lao động dơi dư, và có thể hỗ trợ về tài
chính. Các khoản thanh tốn này có thể giúp một số người tránh khỏi đói nghèo, nếu họ
sử dụng số tiền một cách có lợi, nhưng người ta khơng đảm bảo họ sẽ làm được như thế.
(Tìm đọc Winters 2000a về “người nghèo mới” ở Zimbabwe.)
5
Ngồi ra, các khoản thanh
tốn lao động dơi dư thường ban thưởng dịch vụ q khứ, chứ khơng phải nhu cầu hiện
tại, và vì thế chúng khơng nhắm đúng vào mục tiêu xố đói giảm nghèo.
Các chính sách đền bù chung, bao gồm mạng lưới an sinh xã hội, được thiết kế để
trực tiếp xố bỏ tình trạng nghèo đói phát sinh từ một nguồn gốc bất kỳ. Chúng thay thế
vấn đề nhận diện cú sốc bằng nhiệm vụ nhận diện người nghèo. Một cách lý tưởng, các
nước vốn đã có sẵn những chương trình như thế rồi. Thật ra, phần lớn ảnh hưởng của các
chương trình này chỉ phát sinh từ sự hiện hữu của chúng chứ khơng phải từ việc sử dụng
chúng: chúng tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh thơng qua đảm bảo với người nghèo rằng
họ có một khoản trợ cấp tối thiểu (cho dù chỉ là một khoản vừa đủ có thể chấp nhận được)
khơng thể thấp hơn được nữa. Những chương trình như thế, nếu đã có sẵn tại những quốc
gia đang trong q trình điều chỉnh do cải cách ngoại thương, sẽ có ưu điểm hơn so với
những chương trình được thiết kế riêng cho cải cách ngoại thương về tính tự động, tức
thời, an tồn, và chúng cũng tránh được những vấn đề đi kèm với sự hỗ trợ điều chỉnh
ngoại thương mà trong đó có việc chọn mục tiêu được hưởng sự hỗ trợ. Nếu được xây
dựng một cách hợp lý, chúng khơng nhất thiết đòi hỏi phải chi tiêu ngân sách nhiều;
khơng có cơ hội xảy ra vấn đề tâm lý ỷ lại nếu ngưỡng trợ cấp được ấn định đủ thấp; và vì
Theo định nghĩa, việc chi tiêu cho mạng lưới an sinh có tính chất ngược chu kỳ (khi thu
nhập cao thì ít phải chi tiêu, nhưng khi thu nhập thấp thì phải chi tiêu nhiều) và vì thế cần
phải có sự cam kết chắc chắn của chính phủ để đảm bảo rằng ngân sách khơng bị cạn kiệt
vào những lúc người ta cần đến nhất.
Ta có thể tìm thấy ví dụ về những mạng lưới an sinh hữu ích nhất tại Bangladesh.
Theo Hiệp hội Uỷ thác và Thống nhất Tiêu dùng,
Nhìn chung người ta thừa nhận rằng những chương trình an sinh xã hội như chương trình
Food for Education (FFE - Lương thực cho giáo dục), Vulnerable Group Development
(VGD – Phát triển nhóm những người dễ bị thiệt hại), Test-Relief (Giảm nhẹ thử thách)
và Food for Work (Lương thực cho lao động) giúp xố đói giảm nghèo một cách tích cực.
Lấy ví dụ, trong trận lụt chưa từng thấy vào năm 1998, khoảng 4,5 triệu thẻ VGD đã được
phân phối ở Bangladesh, mang đến sự trợ giúp thiết yếu ngay vào lúc cần thiết nhất.
Chương trình FFE đã giúp tăng mức phổ cập giáo dục của trẻ em nghèo thêm 21%.
(CUTS 1999: 110).
Ngược lại, mạng lưới an sinh ở Zambia và Zimbabwe hiện bị xem là hoạt động
q yếu kém và khơng được tài trợ đầy đủ để có thể mang đến sự trợ giúp nghiêm túc cho
những người chịu thiệt thòi bởi tự do hố mậu dịch.
Các mạng lưới an sinh khơng phải là lời giải đáp duy nhất cho mối đe dọa đói
nghèo gia tăng từ tự do hố mậu dịch, nhưng đó là phần quan trọng trong các phản ứng
của chúng ta. Nói chung, các mạng lưới an sinh xã hội có thể được nhắm đến tốt hơn so
với các chính sách khác, và chúng khơng bị biến dạng lắm bởi các áp lực thị trường. Nếu
các nước khơng có mạng lưới an sinh thì nên xem xét việc thiết lập các mạng lưới này
như một phần của việc tự do hố mậu dịch mà có thể tạo ra sự dói nghèo tạm thời. Tuy
nhiên, khơng nên xây dựng các mạng lưới an sinh theo từng cú sốc ngoại thương.
Các chính sách bổ trợ để thị trường vận hành tốt hơn
Một vấn đề quan trọng liên quan đến tác động của tự do hố mậu dịch về mặt đói nghèo,
đặc biệt vì những sự bất ngờ gắn liền với nó, là sự vận hành của các thị trường. Tự do hố
mậu dịch phải đi kèm với việc giám sát để xác định liệu các thị trường có bị thất bại hay
chăng. Các chính sách được soạn thảo nhằm đảm bảo thị trường tiếp tục vận hành hay
phát triển ở những nơi cần thiết sẽ mang lại lợi ích cho thu nhập quốc gia cũng như giúp
chính sách thành cơng thuộc loại này (Winters 2000a). Cho dù nghề làm vườn tương đối
kém phát triển trong hầu hết các vùng nơng nghiệp qui mơ nhỏ của các nhà nơng nhỏ,
nhưng số lượng các hộ gia đình chung tái định cư ngày càng tăng hiện đang trở thành
những nhà sản xuất các loại hoa màu chính. Điều này chủ yếu là kết quả của các chương
trình “phát triển nhanh hơn” và việc khai thác nguồn lực bên ngồi thơng qua ký hợp
đồng thầu phụ của các trang trại thương mại có qui mơ lớn. Hội Đồng Phát Triển Nghề
Làm Vườn (HPC) ước lượng rằng khoảng 3.000 nhà nơng qui mơ nhỏ hiện đang tăng
trưởng để xuất khẩu hoa màu trên cơ sở hợp đồng, chiếm xấp xỉ 10 phần trăm hàng xuất
khẩu của Zimbabwe.
6
Vào tháng giêng năm 1999, Hội Đồng Phát Triển Nghề Làm Vườn
đã xây dựng Chương Trình Kết Nối Qui Mơ Nhỏ, được thiết kế nhằm cung cấp kiến thức
và kỹ năng cho các hộ gia đình chung tái định cư để sản xuất các loại hoa màu xuất khẩu
trái mùa có giá trị cao.
Thị trường tín dụng
Bộ mơn Kinh tế học phát triển đã đưa ra nhiều ví dụ về việc thiếu vắng thị trường tín
dụng sẽ làm cản trở sự phát triển như thế nào, và người ta có thể thấy được hiện tượng
tương tự trong các phản ứng trước sự tự do hố mậu dịch. Lấy ví dụ, việc đạt được qui
mơ giao hàng tối thiểu có thể đòi hỏi phải sử dụng năng lượng tăng cường hay tuyển dụng
thêm lao động thời vụ, nhưng việc này sẽ khơng thể thực hiện được nếu khơng có tín
dụng. Tương tự, việc thiết lập hoạt động kinh doanh phi chính thức trong những hoạt
động như xuất nhập khẩu có thể đòi hỏi nhiều vốn hơn so với mức mà người nghèo có thể
huy động được. Những trường hợp mà trong đó người nghèo khơng thể đáp ứng trước các
động cơ khuyến khích một cách mãnh liệt như những người ít nghèo hơn họ là một bản
sao của các kết quả nghiên cứu nhóm của López, Nash và Stanton (1995) về nơng nghiệp
Mexico.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
nghiệp, khu vực này tuyển dụng khoảng 13.000 người lao động. Khoảng 18 phần trăm
người lao động trong các nhà máy xay ngơ ở đơ thị là phụ nữ, cũng như 8 phần trăm trong
tổng số người lao động tại các vùng nơng thơn.
8
Các điều kiện tiên quyết cho những sự việc xảy ra đồng thời?
Trong nhiều trường hợp, sự tranh cãi về chính sách thực tế xem ra xoay quanh vấn đề liệu
các chính sách bổ trợ thuộc loại như chúng ta vừa mơ tả có phải là những điều kiện tiên
quyết đối với việc tự do hố mậu dịch hay chăng. Người ta lập luận rằng: “Mọi người đều
chấp nhận rằng tự do hố mậu dịch là đáng mong đợi trong dài hạn, nhưng các chính sách
hỗ trợ khác nhau phải được thiết lập trước khi người ta nỗ lực thực hiện tự do hố mậu
dịch.” Ở đây, thậm chí còn nhiều hơn những vấn đề được thảo luận trên đây, chúng ta
khơng có một phân tích chính thức để quay trở lại. Chúng ta có tư liệu nói về tiến trình
cải cách trong phạm vi ngoại thương và giữa ngoại thương với tài khoản vốn, nhưng
chúng ta lại khơng có được sự khái qt hố về mặt thực nghiệm có sức thuyết phục về lộ
trình theo ý nghĩa mà chúng ta thảo luận ở đây. Ngồi ra, vấn đề chỉ có tính chất kinh tế
học một phần mà thơi; một phần của vấn đề mang tính chất chính trị và là những mối
quan ngại về việc liệu một cuộc cải cách bị trì hỗn có phải là một cuộc cải cách được
giành quyền ưu tiên hay chăng.
Trên đây tơi đã lập luận rằng có thể có một lập luận ủng hộ việc tiến hành cải cách
dần dần theo từng giai đoạn trong một thời gian dài miễn là đích đến cuối cùng thật rõ
ràng (và khơng bị tranh cãi) và rằng q trình chuyển tiếp phải được thiết kế tốt đẹp và
chung cuộc chẳng phải là trì hỗn mọi thay đổi hữu hiệu cho đến giờ phút sau cùng. Nếu
biết rằng một cuộc cải cách được nhận thức rõ ràng và được thực hiện tốt đẹp sẽ tạo ra
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
Việc điều chỉnh dần dần theo từng giai đoạn ngụ ý phải mất một thời gian dài hơn nằm
ngồi trạng thái cân bằng, và trong hầu hết các thảo luận, người ta khơng chứng minh
được rằng tồn bộ những chi phí nho nhỏ trong một thời gian dài cộng lại sẽ nhỏ hơn so
với chi phí lớn trong một thời gian ngắn hơn.
9
Ngồi ra, việc chậm trễ làm trì hỗn lợi ích
của cuộc cải cách hồn tồn. Cuối cùng, có thể có lợi ích tổng hợp từ cải cách ngoại
thương ngay cả khi khơng có các chính sách bổ trợ. Cải cách ngoại thương làm tăng các
cơ hội trao đổi đáng mong đợi, và những cơ hội này sẽ hiện hữu ngay cả với cơ sở hạ tầng
nghèo nàn, và cho dù có thể có nhiều cơ hội hơn nếu cơ sở hạ tầng tốt hơn. Và điều này
áp dụng cho người nghèo cũng giống như như áp dụng cho những người khác. Có thể là
khi khơng có các chính sách bổ trợ, người nghèo sẽ gánh chịu thiệt thòi (ví dụ như do giá
cả tăng lên) trong khi với những chính sách như thế, họ sẽ được lợi vì sẽ nhận được lợi
ích thu nhập để bù đắp cho sự gia tăng giá cả. Nhưng khơng có một định lý tổng qt cho
ảnh hưởng này; người ta vẫn còn phải đưa ra lập luận xác nhận điều đó.
Kết luận
Cải cách ngoại thương gần như khơng thể tránh khỏi mang đến hai thay đổi giúp người ta
chiến đấu chống lại đói nghèo: nó tạo ra tính hiệu quả trong việc sử dụng và phân bổ
nguồn lực (đó là lợi ích tĩnh u q của các nhà kinh tế học), và nó đẩy mạnh sự tăng
trưởng dài hạn. Nó cũng gây ra chi phí điều chỉnh tạm thời mà làm giảm thu nhập ngay
tức thời, cho dù những chi phí này gần như ln ln được bù đắp rộng rãi bằng những
lợi ích dài hạn. Cuối cùng, cải cách ngoại thương có nhiều ảnh hưởng trực tiếp và gián
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo
Chú thích
Tơi xin cảm ơn Globcom, Uỷ Ban Quốc Hội Về Chính Sách Phát Triển Tồn Cầu của Thụy Điển đã hỗ trợ
tơi chuẩn bị tài liệu này. Tơi cũng xin cảm ơn Costas Michalopoulos đã nhận xét về bản thảo và Rosie
Bellinger đã trợ giúp về mặt hậu cần.
1
Tơi nói “về mặt tổng qt” bởi vì các xem xét về điều tốt hạng nhì hay những thất bại của thị trường có
thể làm đảo ngược kết quả.
2
Mostley (2000) lập luận rằng những nỗ lực của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới để chứng
minh đề xuất này đã khơng thành cơng cho lắm. (Tuy nhiên, cố gắng của ơng để chứng minh điều ngược lại
cũng bị sai sót tương tự.)
3
Về mặt kỹ thuật, tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng (effective rate of protection – ERP) có thể trở nên rất biến dạng. Ở
Zambia, Oxfam và Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã nhận thấy có sự giảm sút tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng
đối với ngơ, khi giá phân bón (mà được cho là chiếm đến 76 phần trăm chi phí sản xuất ngơ) tăng nhiều hơn
giá sản lượng. Điều này giải thích cho sự mất mát sản lượng ở đó.
4
Tìm đọc Decker và Corson (1995) về Chương trình Trợ giúp Điều chỉnh Ngoại thương của Hoa Kỳ, đã
tăng gấp đơi thời gian bảo hiểm thất nghiệp từ 26 lên 52 tuần đối với những người lao động được xác nhận
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 5 Chính sách ngoại thương đối với việc
xoá đói giảm nghèo