Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2005 – 2006
Ngoại thương: Thể chế
và tác động
Bài đọc
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 1 Cải cách chính sách ngoại thương
trong từng nội dung
Bernard Hoekman 1 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
TRONG TỪNG NỘI DUNG
Người ta cần phân biệt giữa những chính sách giảm hàng rào thương mại tại biên giới và
những chính sách bổ trợ “đàng sau biên giới các nước” có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
cải cách chính sách ngoại thương. Hệ thống chính sách đầu tiên tập trung vào việc tạo ra các
động cơ khuyến khích tăng trưởng hiệu quả thông qua giảm mức bảo hộ bình quân và giảm
tình trạng bảo hộ lan tràn, loại bỏ các hàng rào phi thuế (non-tariff barriers - NTBs) và củng
cố các thể chế nhà nước nhằm đảm bảo hàng hoá lưu thông xuyên biên giới với chi phí giao
dịch thấp (nghĩa là những thể chế hải quan mà hạn chế tới mức tối thiểu tệ nạn quan liêu
nhũng lạm). Hệ thống chính sách thứ nhì liên quan đến các tiêu chuẩn và chính sách qui định
nhằm đảm bảo rằng sự đáp ứng trên khía cạnh cung của thị trường trước sự tự do hoá có tính
hiệu quả, ổn định, và lâu dài. Những vấn đề quan trọng ở đây bao gồm việc tự do hoá ngoại
thương trong lĩnh vực dịch vụ để tăng cường sức cạnh tranh, các chính sách đẩy mạnh tiếp
cận thông tin và công nghệ, và củng cố các thể chế nhằm đạt được lợi ích từ việc tham gia
vào các hiệp định thương mại đa phương và khu vực.
Các chương trong tập tài liệu này tập trung vào các khía cạnh của chương trình chính
sách bổ trợ. Một chiến lược phát triển thương mại và tăng trưởng bền vững phải được đóng
khung trong một môi trường nâng đỡ kinh tế vĩ mô thích hợp và gắn với chiến lược xoá đói
giảm nghèo và phát triển toàn diện. Những nỗ lực cải cách thể chế bổ trợ và những cải tiến
Những yếu tố bổ trợ then chốt thường xác định sự thành công của cải cách chính sách
ngoại thương là tỷ giá hối đoái thực và khả năng của chính phủ duy trì được các đối tượng
thu ngân sách. Như Howard J. Charz và David G. Tarr sẽ dẫn chứng bằng tư liệu trong
chương 3, cho dù các nước có thể duy trì những cơ chế tỷ giá hối đoái khác nhau, việc để cho
tỷ giá hối đoái thực lên giá đáng kể theo thời gian thường dẫn đến sự thất bại của cải cách
ngoại thương. Chương 4 của tác giả Liam Ebrit, Janet Stotsky và Reint Gropp sẽ xem xét các
ý nghĩa về mặt thu chi ngân sách của sự tự do hoá mậu dịch. Số thu thuế nhập khẩu vẫn có ý
nghĩa quan trọng đối với nhiều quốc gia có thu nhập thấp. Khi theo đuổi các cuộc cải cách
thuế quan xuất nhập khẩu sâu xa hơn, người ta phải nỗ lực phát triển cơ sở thuế nội địa để
thay thế và đảm bảo rằng sự trông cậy vào nguồn thu thuế qua xuất nhập khẩu nhất thiết sẽ
không làm biến dạng các động cơ thôi thúc việc phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Kinh
nghiệm giữa các nước cho thấy rằng cải cách chính sách có thể được thiết kế để duy trì chứ
không phải để làm tăng thu ngân sách.
Cho dù các nghiên cứu hiện có cho thấy rằng tự do hoá mậu dịch về mặt tổng quát
làm giảm nghèo, nhưng một số thành phần trong lớp người nghèo có thể bị thiệt thòi, và
trong chương 5, L. Alan Winters sẽ xem xét các mối tương tác giữa cải cách ngoại thương và
xoá đói giảm nghèo. Những chương trình cải cách ủng hộ tự do hoá mậu dịch phải được bổ
trợ bằng những nỗ lực củng cố mạng lưới an sinh xã hội. Vì một số người nghèo có thể
nghèo túng đến nỗi bất kỳ sự giảm thu nhập ít nhiều nào cũng sẽ dẫn đến tình trạng cùng cực,
nên điều quan trọng là nhận diện những người nào trong số họ có thể bị ảnh hưởng tiêu cực
của cải cách và xác định một hệ thống chính sách thích hợp nhất để hỗ trợ cải cách ngoại
thương.
Một thông điệp then chốt thể hiện trong các chương của tập tài liệu này là nhu cầu
cần phải có sự phân tích không chỉ tập trung vào chính sách ngoại thương theo định nghĩa
hẹp mà còn tập trung vào các chính sách và thể chế bổ trợ cần thiết để cải cách ngoại thương
làm lợi cho xã hội. Việc phân tích như thế sẽ bao gồm việc chẩn đoán tình hình hiện tại, so
sánh trong mối quan hệ với các kiểu mẫu thực tế tốt và các đối thủ cạnh tranh, xác định ý
nghĩa về mặt động cơ khuyến khích và về mặt tái phân phối của những chính sách hiện tại và
những thay đổi khả dĩ, và nhận diện những hành động bổ trợ cần thiết để làm cho cải cách
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 1 Cải cách chính sách ngoại thương
trong từng nội dung
Bernard Hoekman 4 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang HùngChương 1
CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG LÀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ
Dani Rodrik
Các nhà kinh tế học được đào tạo để suy nghĩ về cải cách chính sách ngoại thương dựa theo
những thay đổi về mức thuế quan và các biện pháp hạn chế định lượng (QRs), và sự thay đổi
mức giá tương đối xảy ra do những thay đổi này. Họ dùng các mô hình kinh tế, được bổ sung
bằng các giá trị ước lượng về độ co giãn để phân tích ý nghĩa của những thay đổi về thuế
quan và các biện pháp hạn chế định lượng đối với sản xuất, tiêu dùng và ngoại thương. Bằng
cách cắt xén và sắp xếp thích hợp các mô hình này, họ có thể dự đoán những tác động có thể
có đối với công việc làm, đói nghèo và phân phối thu nhập, cân bằng kinh tế vĩ mô và ngân
sách chính phủ. Nếu họ có nhiều tham vọng (táo bạo?), họ cũng sẽ phán xét về tính hiệu quả
động, tiến bộ công nghệ và tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Các nhà hoạch định chính sách thường có một cách nhìn khác về cải cách ngoại
thương. Đối với họ, những thay đổi thực tế của biểu thuế quan xuất nhập khẩu thường chỉ là
một phần nhỏ của tiến trình. Điều quan trọng là sự chuyển biến sâu sắc hơn của kiểu hành vi
trong phạm vi khu vực công, và của mối quan hệ giữa chính phủ với khu vực tư nhân và phần
còn lại của thế giới. Phạm vi cải cách ngoại thương không chỉ bao trùm mức thuế quan và
các biện pháp hạn chế định lượng: Nó ấn định các luật lệ và những kỳ vọng mới về cách thức
thiết lập và thực hiện những quyết định chính sách này, thiết lập những ràng buộc và cơ hội
mới cho chính sách kinh tế bao quát hơn, tạo ra các thành phần có liên quan (stakeholders)
mới đồng thời phế truất những thành phần có liên quan cũ, và dẫn tới một triết lý mới (cùng
với những lời lẽ tu từ mới) về việc chính sách phát triển sẽ nhắm vào vấn đề gì. Vì vậy, cải
phần thưởng kinh tế lớn lao hơn so với cơ chế mậu dịch tự do hay việc nhất quán với các qui
tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Trên thực tế, có thể có sự lan truyền quan trọng nào đó giữa các mục tiêu này. Ta hãy
đưa ra một ví dụ minh họa quan trọng, cơ chế mậu dịch tự do có thể làm giảm sự hối lộ và
hoạt động tìm kiếm đặc lợi gắn liền với các biện pháp can thiệp về ngoại thương. Tương tự,
các bó buộc về thuế quan của Tổ chức Thương mại Thế giới có thể giúp người ta có khả năng
dự đoán được tốt hơn về các động cơ khuyến khích và củng cố quyền sở hữu – hai thuộc tính
quan trọng của một khuôn khổ thể chế chất lượng cao. Nhưng cho dù mậu dịch tự do và các
qui tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới có thể góp phần vào sự hình thành các thể chế chất
lượng cao, nhưng những thể chế này không phải là một và không giống nhau. Sự phát triển
thể chế phải mất thời gian và thường đòi hỏi những chọn lựa phi chính thống và chệch
hướng. Một số trường hợp phát triển thu hút chú ý nhất trong thời kỳ hậu chiến tranh là sản
phẩm của những thể thức cải cách song hành, tiệm tiến (Rodrik 2000b). Kiểu đầu tư vào xây
dựng thể chế cần thiết cho sự nhất quán trọn vẹn với các hiệp định của Tổ chức Thương mại
Thế giới về đánh giá hải quan hay quyền sở hữu trí tuệ (IPRs) chẳng hạn, có thể chẳng phải
là ưu tiên hàng đầu trong công việc của các quốc gia thu nhập thấp mà có những nhu cầu cấp
thiết hơn (Finger và Schuler 2000). Vì nguồn nhân lực, năng lực hành chính, và vốn chính trị
thì khan hiếm, đặc biệt tại các nước đang phát triển, nên các nhà hoạch định chính sách cần
có sự cảm nhận tinh tế về những điều ưu tiên hàng đầu.
Một ý nghĩa của mạch lập luận này là: chúng ta nên suy nghĩ về cơ chế mậu dịch tự
do và các qui tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới như những yếu tố sẵn sàng để phục vụ
cho các nhu cầu về thể chế của các nước đang phát triển, chứ không phải ngược lại. Hiểu
được điều này, chính phủ các nước có thể thực hiện được cải cách ngoại thương một cách tốt
đẹp.
Những điều kiện tiên quyết về mặt thể chế để phát triển
Cải cách giá cả – trong ngoại thương, trên thị trường lao động và thị trường sản phẩm, trong
tài chính và trong thuế khoá – là lời kêu gọi đồng thanh của các nhà cải cách trong thập niên
80, cùng với bình ổn kinh tế vĩ mô và tư nhân hoá. Cho đến thập niên 90, người ta thấy rõ
ràng là các động cơ khuyến khích không có tác dụng, hoặc chỉ mang đến những kết quả sai
lầm khi không có sự hiện diện của các thể chế thỏa đáng. Có ba loại phát triển khác biệt nhau
Như North và Thomas (1973) và North và Weingast (1989), cũng như nhiều người khác đã
lập luận, việc thiết lập các quyền đối với tài sản một cách đảm bảo và ổn định là một yếu tố
then chốt trong sự phát triển của phương Tây và sự khởi đầu của tăng trưởng kinh tế hiện đại.
Người ta lập luận rằng các nhà kinh doanh sẽ không có động cơ gì thôi thúc họ tích luỹ và
phát minh trừ khi họ có đủ quyền kiểm soát sinh lợi từ tài sản được tạo ra hay cải thiện nhờ
sự tích luỹ và phát minh đó. Lưu ý rằng từ then chốt ở đây là “kiểm soát” chứ không phải “sở
hữu”. Quyền sở hữu chính thức đối với tài sản sẽ không có ý nghĩa gì nếu nó không mang
đến quyền kiểm soát. Cũng vì lẽ đó, quyền kiểm soát đủ mạnh là có thể làm nên chuyện rồi,
thậm chí khi không có quyền sở hữu chính thức đi chăng nữa. Ở nước Nga ngày nay, các cổ
đông có quyền sở hữu tài sản nhưng thường thiếu sự kiểm soát hữu hiệu đối với các doanh
nghiệp, trong khi tại các doanh nghiệp hương trấn của Trung Quốc, quyền kiểm soát ở đây đã
đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dù rằng quyền sở hữu không được phân định rõ ràng.
Như những khác biệt trên cho thấy, việc thiết lập “quyền sở hữu tài sản” chẳng phải
đơn thuần chỉ là việc thông qua một mảng luật pháp. Bản thân pháp luật không cần mà cũng
chẳng đủ để mang đến sự bảo toàn quyền kiểm soát. Trên thực tế, quyền kiểm soát được
chống đỡ bằng sự kết hợp giữa pháp luật, sự cưỡng chế tư nhân, các tập quán và truyền
thống. Quyền kiểm soát có thể được phân phối một cách rộng rãi hơn hoặc eo hẹp hơn so với
quyền sở hữu. Ngoài ra, quyền sở hữu hiếm khi có tính tuyệt đối, ngay cả khi được qui định
chính thức bằng luật pháp. Mỗi xã hội tự quyết định phạm vi quyền sở hữu cho phép và
những hạn chế có thể chấp nhận đối với việc thực hiện quyền. Quyền sở hữu tài sản trí tuệ
được bảo vệ một cách nghiêm ngặt tại Hoa Kỳ và các xã hội tiên tiến nhưng không được bảo
vệ tại nhiều quốc gia đang phát triển. Ngược lại, pháp luật về môi trường và qui hoạch tại các
nước giàu lại hạn chế khả năng của các hộ gia đình và doanh nghiệp hành động theo ý thích
bằng “tài sản” của họ nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Tất cả các xã hội đều công
nhận rằng quyền sở hữu tài sản tư nhân có thể phải được hạn chế nếu điều đó phục vụ cho
một mục đích công cộng lớn lao hơn. Chính định nghĩa về những gì tạo thành một “mục đích
công cộng lớn lao hơn” này mới thật là đa dạng.